Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn và tình trạng sức khỏe. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [21],[22],[23].

Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn và tình trạng sức khỏe. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [21],[22],[23].

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



1.2.3. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Ở thời kỳ đầu, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng người ta chỉ dựa vào

các nhận xét đơn giản như gầy, béo, tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như

Brock, Quetelet, Pignet,.. Hiện nay sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh

giá tình trạng dinh dưỡng là phương pháp dễ làm và được áp dụng rộng rãi.

1.2.3.1. Phương pháp nhân trắc học.

Sử dụng các chỉ số nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là

phương pháp làm phổ thông và được áp dụng rộng rãi. Các chỉ số nhân trắc

của cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay kích thước cơ thể đạt được, là

sự thay đổi các kích thước này qua thời gian. Chúng được dùng để mơ tả tình

trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng, phản ánh kết quả cuối cùng của

việc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hóa dinh dưỡng của cơ thể.

Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu

trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng [26],[27],[28]. Thu thập các

kích thước về nhân trắc là bộ phận quan trọng trong cuộc điều tra dinh dưỡng

và là các chỉ số trực tiếp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em.

Khi đánh giá chỉ số nhân trắc, từng chỉ số riêng lẻ về chiều cao hay cân

nặng sẽ khơng nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp tuổi,

giới hoặc kết hợp các số đo của trẻ với nhau và phải được so sánh với giá trị

quần thể tham khảo. Các chỉ số nhân trắc thường được dùng là:

- Cân nặng theo tuổi (CN/T):

Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất. Cân nặng của trẻ được so

sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của chuẩn tăng trưởng WHO, lấy

điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) được coi là SDD thiếu (nhẹ) cân.

Chỉ số này còn được dùng để hỗ trợ xác định ngày sinh của trẻ, nó có thể

được sử dụng rộng rãi để ước tính tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vì nó khơng dựa



12



vào chiều cao. Trẻ em có di truyền thấp, hoặc trẻ bị thấp còi sẽ có cân nặng theo

tuổi thấp nhưng khơng nhất thiết phải thể gầy còm, trọng lượng của họ có thể

thích hợp cho vóc người thấp bé của mình [26].

Suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân phản ánh tình trạng cân nặng của trẻ

khơng đạt tiêu chuẩn tuổi, tuy nhiên khơng cho biết chính xác đây là SDD

trong quá khứ hay hiện tại.

-



Chiều cao theo tuổi (CC/T):

Theo khuyến cáo của WHO chỉ số này để phát hiện ra trẻ “thấp còi” kết



hợp với cân nặng theo chiều cao. Thấp còi là một nguyên nhân làm chậm tăng

trưởng xương và tầm vóc, được định nghĩa là kết quả cuối cùng giảm tốc độ

tăng trưởng tuyến tính. Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu

dinh dưỡng kéo dài hoặc trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị thấp còi và làm gia

tăng khả năng mắc bệnh [24].

SDD thể thấp còi phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc

thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ có chiều cao thấp hơn chiều cao đáng lẽ

phải có theo tuổi.

-



Cân nặng theo chiều cao (CN/CC):

Cân nặng theo chiều cao thấp cho thấy sự thiếu nguồn thực phẩm xảy ra



trong khoảng thời gian gần đây làm cân nặng của trẻ giảm nhanh.

Chỉ số này phát hiện SDD thể gầy còm, phản ánh SDD cấp tính, làm cho

trẻ ngừng lên cân hoặc tụt cân, trong khi chiều cao không đổi.

Tuy nhiên khi trẻ bị phù thì chỉ số này khơng còn chính xác.

-



Vòng cánh tay



Sự phát triển kém hoặc suy mòn các cơ là những biểu hiện chính của suy dinh

dưỡng thiếu protein- năng lượng, nhất là trẻ bé. Ở người lớn và người trưởng

thành, khối lượng cơ lại tỷ lệ với sự tăng vận động của một nhóm cơ nào đó.



13



Trong thực hành dinh dưỡng, đánh giá khối lượng cơ thường được thơng

qua vòng đo trực tiếp các chi, thường dùng nhất là đo vòng cánh tay [28].

 Cách nhận định kết quả.

Trước đây, WHO dựa trên số liệu NCHS của Mỹ đã đưa ra quần thể tham

khảo (NCHS/WHO international reference population), làm giá trị tham chiếu để

nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ em cho các quốc gia thành viên. Tuy nhiên

WHO cũng khuyến cáo không nên coi quần thể tham khảo là chuẩn mà chỉ là cơ

sở để đưa ra nhận định, thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế. Sử dụng

quần thể tham khảo NCHS với điểm ngưỡng thấp hơn âm 2 độ lệch chuẩn (<

-2SD) và chia ra các mức độ sau [29].

- Cân nặng theo tuổi:

+ Từ dưới - 2SD đến + 2SD: Bình thường.

+ Từ dưới - 2SD đến - 3SD: Suy dinh dưỡng vừa (độ I).

+ Từ dưới - 3SD đến - 4SD: Suy dinh dưỡng nặng (độ II).

+ Từ dưới - 4SD: Suy dinh dưỡng rất nặng (độ III).

+ Trên + 2SD: Thừa cân, đây là ngưỡng để sàng lọc, còn để xác định béo phì

cần phải đo bề dày lớp mỡ dưới da và sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao.

- Chiều cao theo tuổi:

+ Từ - 2SD trở lên: Bình thường.

+ Từ dưới - 2SD đến - 3SD: Suy dinh dưỡng độ I (thấp còi độ I).

+ Từ dưới -3SD: Suy dinh dưỡng độ II (thấp còi độ II).

- Cân nặng theo chiều cao: Các điểm ngưỡng giống 2 chỉ tiêu trên:

+ Từ - 2SD đến + 2SD: Bình thường

+ Từ dưới -2SD đến - 3SD: Suy dinh dưỡng cấp vừa (gầy còm độ I).

+ Từ dưới - 3SD đến - 4SD: Suy dinh dưỡng cấp nặng (gấy còm độ II).

+ Trên + 2SD là trẻ có biểu hiện thừa cân.

Khi cả 2 chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp dưới ngưỡng

(-2SD) thì đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gầy còm

vừa thấp còi.



14



Để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác, WHO đã đưa ra bảng

phân loại ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của thiếu dinh dưỡng như sau:

Bảng 1.1. Phân loại mức độ suy dinh dưỡng trẻ em ở cộng đồng [31].

Chỉ tiêu

SDD thể nhẹ cân

SDD thể thấp còi

SDD thể gầy còm



Thấp

< 10

< 20

<5



Mức độ thiếu dinh dưỡng (%)

Trung bình

Cao

Rất cao

10 – 19

20 - 29

≥ 30

20 – 29

30 - 39

≥40

5–9

10 - 14

≥15



Năm 1993, WHO đã tiến hành xem xét lại một cách toàn diện việc sử dụng

và giải thích của quẩn tham chiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ và kết

luận quần thể tham khảo (NCHS: National Centre for Health Statistics) không

đầy đủ và không đại diện cho tăng trưởng trẻ em ở giai đoạn đầu, và việc xây

dựng một chuẩn tăng trưởng mới là cần thiết. Hội đồng Y tế Thế giới đã thông

qua đề nghị này năm 1994, chuẩn tăng trưởng mới MGRS (Multicentre Growth

Reference Study) đã được thực hiện từ năm 1997 đến năm 2003 trên 8440 trẻ sơ

sinh và trẻ nhỏ khỏe mạnh được nuôi bằng sữa mẹ từ nhiều quốc gia, sắc tộc và

nền văn hóa khác nhau (Brazil, Ghana, Ấn Độ, Nauy, Mỹ..).

Năm 2006 tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) khuyến cáo sử dụng quần

thể chuẩn để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ gọi là chuẩn WHO 2005.

Các chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao

của một trẻ, được so sánh với các giá trị trung bình của quần thể được nuôi

dưỡng cùng tuổi cùng giới [33],[34].

Một trẻ được coi là SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và gầy còm khi các

chỉ số Z-score tương ứng cân nặng theo tuổi (WAZ), chiều cao theo tuổi

(HAZ) và cân nặng theo chiều cao (WHZ) nhỏ hơn -2SD. Các chỉ số Z-score

được tính theo cơng thức sau:

Z-Score =



Kích thước đo được-Số TB của quần thể tham chiếu



15



Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu

Bảng 1.2: Bảng phân loại suy dinh dưỡng theo các chỉ số Z-score.

Z-score

≥ -2

< -2

< -3



Cân nặng theo tuổi



Chiều cao theo



Cân nặng theo chiều



WAZ

Không SDD

Nhẹ cân

Nhẹ cân nặng



tuổi HAZ

Không SDD

Thấp còi

Thấp còi nặng



cao WHZ

Khơng SDD

Gầy còm

Gầy còm nặng



- Vòng cánh tay

Theo khuyến nghị của Tổ chức y tế Thế giới năm 2006 [28].

Suy dinh dưỡng cấp tính nặng: vòng cánh tay <11,5cm

Suy dinh dưỡng cấp tính vừa: 11,5 ≤ vòng cánh tay <12,5mm

1.2.3.2. Phương pháp hóa sinh

Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân bằng phương pháp

hóa sinh, các chỉ số hóa sinh thường được sử dụng như: Protein, albumin,

prealbumin, transferrin…

- Protein huyết tương phản ánh khá trung thực lượng protein của toàn

cơ thể, lượng protein toàn phần dao động trong khoảng 73,1 ± 6,06 g/l [34].

Lượng protein toàn phần trong huyết tương bị ảnh hưởng bởi tình trạng dinh

dưỡng, chức năng gan, thận, rối loạn chuyển hóa và một số tình trạng bệnh lý.

- Albumin chiếm khoảng hơn 60% lượng protein tồn phần và có tác

dụng phần lớn tạo áp lực keo cho máu (khoảng 80%). Tuy vậy albumin bình

thường do gan tổng hợp, giảm trong rất nhiều bệnh lý như xơ gan, suy gan

nặng, nhiễm trùng nặng, chấn thương. Như vậy nồng độ albumin huyết tương

còn chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố khác ngồi dinh dưỡng. Thời gian bán hủy

của albumin khoảng 21 ngày nên khó dùng để theo dõi đánh giá hiệu quả của

các can thiệp dinh dưỡng. Bình thường albumin huyết tương: 35-50 g/l [35].



16



- Transferrin máu là một protein vận chuyển trong cơ thể, có vai trò vận

chuyển sắt. Nồng độ của nó bị ảnh hưởng bởi protein thức ăn. Transferrin là chỉ

số nhậy để đánh giá tình trạng dinh dưỡng protein của cơ thể. Nồng độ trong

huyết thanh < 200mg/dl được coi là dinh dưỡng kém. Tuy nhiên nồng độ của nó

bị ảnh hưởng bởi lượng sắt của cơ thể. Khi sử dụng erythropoietin điều trị thiếu

máu, lượng sắt lưu hành có thể giảm làm transferrin giảm làm kết quả transferrin

sẽ khơng chính xác với tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.

- Prealbumin huyết thanh là một protein vận chuyển có thời gian bán

hủy 1- 2 ngày, là chỉ số có giá trị trong đánh giá hiệu quả của can thiệp dinh

dưỡng, liên quan chặt chẽ với lượng protein khẩu phần, là chỉ số tiên lượng có

giá trị trên bệnh nhân. Khi nồng độ dưới 20mg/dl được coi là dấu hiệu thiếu

dinh dưỡng [34].

1.2.3.3. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng khác:

Bên cạnh phương pháp nhân trắc, sinh hóa để đánh giá tình trạng dinh

dưỡng người ta còn sử dụng các phương pháp sau đây:

+ Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.

+



Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các

triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo hoặc rõ ràng.



+



Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do

thiếu hụt dinh dưỡng.



+



Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong. Sử dụng các thống kê y tế để tìm

hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng.



+



Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình hình bệnh tật sức

khỏe.



Tùy theo các nghiên cứu mà có thể dùng phương pháp nhân trắc đơn

thuần hoặc kết hợp phương pháp nhân trắc cùng với 1 hay nhiều phương pháp

trên trong việc đánh giá.



17



1.3. Khái quát về ung thư trẻ em và chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhi ung thư

1.3.1. Khái quát về ung thư trẻ em

Ung thư là một nhóm bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một

cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng

cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn).

Hiện có khoảng 200 loại ung thư [33].

Ung thư trẻ em (<15 tuổi) chiếm tỉ lệ khoảng 1-2% tổng số các ca ung

thư. Tuy nhiên 10-12% ca tử vong ở trẻ em có liên quan đến ung thư. Tỉ lệ

mới mắc ung thư hàng năm ở trẻ em trung bình khoảng 90-150/10 6 trẻ em. Tại

pháp ASR: 134/106 trẻ em/ năm; Anh ASR: 122/106 trẻ em/ năm; Hoa Kỳ

ASR: 160/106 trẻ em/ năm. Năm 2004 trên thế giới có khoảng 11 triệu ca mới

mắc ung thư và 7 triệu người chết do ung thư chiếm khoảng 12% tổng số các

nguyên nhân gây tử vong ở người. Ở trẻ em mỗi năm có 160.000 ca mới mắc

và 90.000 người chết do ung thư trong đó 80% trẻ em bị ung thư sống ở các

nước đang phát triển. tại Việt Nam theo ghi nhận số liệu của 5 tỉnh Hà Nội,

Thái Nguyên, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ tỉ lệ mới mắc hàng năm

trong giai đoạn 2001-2004 khoảng 70/106 trẻ em/ năm [37].

+ Phân bố một số loại ung thư hay gặp ở trẻ em Việt nam như sau [37].

Ung thư máu: 30,1%



Ung thư xương: 5 %



Sacôm phần mềm: 25,8%



Ung thư nguyên bào võng mạc mắt: 3,7%



U lympho ác tính: 4,1%



Ung thư buồng trứng: 3,5%



U não ác tính: 8,7%



Ung thư khác: 13,9%



Ung thư gan: 5%

+ Đánh giá các biểu hiện lâm sàng của ung thư trẻ em

Các biểu hiện lâm sàng có ý nghĩa quan trọng để nhận biết ung thư. Bất

cứ một biểu hiện lâm sàng hay một dấu hiệu nào không giải thích được, kéo

dài đều có thể là biểu hiện khởi đầu của tình trạng tiền ung thư hay ung thư.



18



Trung tâm ung thư Anderson của Đại học Texas có tổng kết 10 triệu chứng

phổ biến giúp nhận biết ung thư sớm là:

- Khối u ổ bụng

- Hạch to kéo dài

- Ít nhất trên một dòng tạo máu bất thường

- Dấu hiệu thần kinh đặc hiệu bất thường

- Tăng áp lực nội sọ

- Một cầu não to lan tỏa

- Lồi mắt

- Phản xạ đồng tử trắng

- Một khớp gối hay vai đau hay xưng to

- Chảy máu hay khối u âm đạo

Có biểu hiện lâm sàng thấy trong ung thư trẻ em, song trước khi nghĩ

tới ung thư cần chẩn đốn loại trừ các bệnh khơng phải ung thư [37].

1.3.2. Cơ chế gây suy mòn trong ung thư

Suy dinh dưỡng là một trong những vấn đề phức tạp nhất của bệnh ác

tính. Ngun nhân của tình trạng suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư rất

đa dạng, đó là do những khối u gây ra những rối loạn chuyển hóa kết hợp

lượng thức ăn ăn vào thiếu và tác dụng phụ của quá trình điều trị ở một mức

độ nào đó sẽ gây ra suy mòn và suy dinh dưỡng.

Sự suy mòn trên lâm sàng ở bệnh nhân ung thư được đặc trưng bởi

chứng chán ăn và sự thiếu hụt tổ chức bao gồm mất tổ chức mỡ, protein nội

tạng và hệ cơ xương (Tisdale, 1997). Suy mòn kết hợp với khối u khác với sự

đói thơng thường: trong giai đoạn đầu của sự đói, nguồn năng lượng được lấy

từ sự thủy phân glycogen của gan và glucose tân tạo lấy từ lactate glycerol và

analine. Dự trữ glycogen trong gan chỉ đủ cung cấp năng lượng được lấy từ

glucose tân tạo, ở giai đoạn sau của sự đói (> 1-2 ngày), acid béo tự do từ tổ

chức mỡ được chuyển thành thể ceton trong gan và sử dụng làm năng lượng



19



để duy trì khối cơ.

Thuật ngữ “ suy dinh dưỡng protein – năng lượng” từ lâu đã được sử

dụng trong đánh giá lâm sàng chứng suy mòn của ung thư. Đầu tiên là Warren

(1932), sau đó là DeWys (1980) và Albrecht (1996) khi tiến hành nghiên cứu

tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư ở người lớn đã quan sát thấy

chứng suy mòn gặp trong 2/3 các trường hợp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ bị

neuroblastoma tại thời điểm chẩn đoán lên tới 50% (Richard, 1985) [38].

Chán ăn là một hiện tượng thường gặp ở trẻ em ung thư nhưng không

phải là nhân tố cơ bản nhất của chứng suy mòn trong ung thư. Theo một

nghiên cứu của DeWys (1974), việc thay đổi vị giác như giảm ngưỡng đường

và tăng ngưỡng nhận biết ure có thể gây ra chứng biếng ăn trên bệnh nhân

ung thư mặc dù đó vẫn là vấn đề gây tranh cãi (Brown, 1986). Theo nghiên

cứu của Gohler (1995), TNF và IL-1 có thể gây ra chứng chán ăn gián tiếp

qua hệ thần kinh phó giao cảm. Theo một nghiên cứu khác của Oliff (1987),

Mahony (1988) về TNF và Modawer (1988), McNamara (1992) về IL-1 thì

thấy hai cytokine này gây ra sự chán ăn và mất cân nặng trên động vật [38].

Mặt khác những tác dụng phụ của hóa chất như buồn nơn, nơn, đầy

bụng, tiêu chảy, thay đổi mùi vị, viêm loét miệng họng lại là những nhân tố

chính gây ra chứng chán ăn ở những trẻ ung thư đã qua điều trị. Như vậy có

mối quan hệ rõ ràng giữa trị liệu ung thư với chứng chán ăn và suy dinh

dưỡng. Ngoài ra nhiễm khuẩn, đau và các yếu tố tâm lý cũng góp phần làm

trầm trọng hiện tượng này [39].

Những rối loạn chuyển hóa protein, lipid và glucid trên bệnh nhân ung

thư đã được chứng minh ở cả động vật và người. Sự thay đổi này bao gồm cả

tăng giáng hóa protein và sự mất cơ chế bù khi gặp đói, ảnh hưởng tới sự phát

triển của hệ cơ- xương. Quá trình phân giải lipid diễn ra nhanh dẫn đến sự rút

hết kho chất béo dự trữ và tăng giáng hóa acid béo tự do, hậu quả là mô mỡ bị

hủy hoại và tăng lipid máu. Rối loạn chuyển hóa glucid dẫn đến một vòng



20



xốy mất năng lượng, glucid được tiêu thụ theo con đường kị khí sinh ra acid

lactic. Những rối loạn trên dẫn đến sự tăng nhu cầu năng lượng và các chất

dinh dưỡng ở trẻ bị ung thư nếu khơng đáp ứng đủ sẽ nhanh chóng dẫn đến

tình trạng suy dinh dưỡng [40], [41], [42].

Ngoài ra những khối u trong ổ bụng có thể chèn ép trực tiếp vào ống

tiêu hóa làm tắc ruột, gây nơn và giảm lượng thức ăn đưa vào.

Tâm lý và hệ thần kinh



Liên quan đến điều trị



trung ương:



- Hóa trị liệu: viêm miệng,



- Khơng thích ăn



họng



- Chán ăn



- Xạ trị: khơ miệng



- Thay đổi vị giác



- Phẫu thuật: đau



- Căng thẳng



TRẺ BỊ UNG THƯ



Tác động của u:



Liên quan đến người bệnh:



- Tắc cơ học



- Rối loạn chuyển hóa



- Tiêu thụ cơ bản



- Nhu cầu phát triển



- Yếu tố ức chế ngon miệng



- Tạo ra các cytokine

(TNF- , IL-1, IL-6)



Hình 1.1. Các yếu tố đóng góp nguồn gốc và tiến triển của suy mòn ở trẻ bị

ung thư

1.3.3. Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng tới bệnh tật



21



Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng tới sức khỏe nói chung đã được cơng

nhận từ lâu. Scrimshaw và cộng sự đã đưa ra khái niệm về tác dụng cộng

hưởng giữa thiếu hụt dinh dưỡng, tổn thương hệ thống miễn dịch và sự cân

bằng giữa các yếu tố: dinh dưỡng- khả năng miễn dịch- các bệnh truyền

nhiễm [43]. Tình trạng dinh dưỡng yếu kém làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, kéo dài

ngày điều trị, tăng tỉ lệ biến chứng và tử vong

Dựa vào các chỉ số như albumin, transferrin huyết thanh, giảm phản

ứng quá mẫn, Mullen và cộng sự đã chứng minh được tình trạng thiếu hụt

dinh dưỡng làm tăng từ 2 đến 5 lần các biến chứng, đối với các bệnh nhân

thiếu dinh dưỡng: 46% có biến chứng, 26% nhiễm trùng huyết và tử vong

chung là 33% [44]

Theo Seltzer và cộng sự nghiên cứu trên người lớn bị ung thư thấy rằng

nếu người bệnh có

-



Albumin <35g/l: biến chứng tăng 4 lần và tử vong tăng 6 lần

Lymphocytes <1500: tử vong tăng 4 lần

Albumin<35g/l kết hợp Lymphocytes< 1500: biến chứng tăng 4 lần

và tử vong tăng 20 lần



Nhiễm trùng là một biến chứng thường gặp ở trẻ bị ung thư. Giữa

suy dinh dưỡng và nhiễm trùng có mối quan hệ chặt chẽ: suy dinh dưỡng

làm giảm cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào dẫn đến tăng tính cảm

thụ đối với nhiễm khuẩn. Mặt khác, các nhiễm khuẩn làm suy sụp thêm

tình trạng dinh dưỡng sẵn có do làm tăng thoái biến protein và tiêu hủy

khối cơ trong cơ thể.

1.3.4. Dinh dưỡng cho bệnh nhi ung thư

Vai trò các chất dinh dưỡng: protein, carbohydrate, chất béo, nước,

vitamin, và khoáng chất với bệnh nhân ung thư như sau [45].

-



Protein



Cơ thể sử dụng protein để phát triển, sửa chữa mô và để duy trì da, các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn và tình trạng sức khỏe. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [21],[22],[23].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×