Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bệnh hay gặp do Staphylococcus aureus và Staphylococcus epidermidis gây ra [55]. Tại Anh, 15% số bệnh nhân cần chăm sóc ban đầu đều liên quan đến bệnh da, trong đó các bệnh da do nhiễm khuẩn thường hay gặp nhất cả về diện rộng, mức độ nặng. Các bệnh da nh

Bệnh hay gặp do Staphylococcus aureus và Staphylococcus epidermidis gây ra [55]. Tại Anh, 15% số bệnh nhân cần chăm sóc ban đầu đều liên quan đến bệnh da, trong đó các bệnh da do nhiễm khuẩn thường hay gặp nhất cả về diện rộng, mức độ nặng. Các bệnh da nh

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



Malassezia có mặt trên 90-100% bề mặt của làn da khỏe mạnh; tỷ lệ

xuất hiện cao hơn của nấm men trên ngực và lưng. Một số vùng khí hậu ảnh

hưởng đến tỷ lệ phần trăm của những người có Malassezia và số lượng người

với bị viêm nang lông do Malassezia. Những người sống ở vùng khí hậu ấm

áp và ẩm ướt có một tỷ lệ cao hơn viêm nang lơng do Malassezia. Một phòng

khám ở Philippines báo cáo rằng 16% bị viêm nang lông do Malassezia trên

tổng số bệnh nhân da liễu đến khám. [6] Một báo cáo năm 2008 từ Trung Quốc

trích dẫn rằng 1,5% tất cả các bệnh nhân da liễu đã được chẩn đốn

là Pityrosporumviêm nang lơng, hầu hết trong số họ khỏe mạnh, trung niên

nam giới.

1.2.2. Ở Việt Nam

Chúng tôi chưa tham khảo được tài liệu nào về bệnh viêm nang lông do

Malassezia.

1.3. Cấu tạo nang lơng

- Vị trí: Nang lơng nằm ở lớp trung bì của da.



Hình 1.1. Vị trí nang lơng



5



Nang lơng (Hair follicles) là phần lõm sâu xuống của thượng bì chứa

sợi lơng. Dính liền với nang lơng là tuyến bã có nhiệm vụ tiết chất bã nhờn đổ

ra ngoài bề mặt của da. Tuyến này có ở khắp mọi nơi trừ lòng bàn tay, bàn

chân và môi. Bám vào nang lông là cơ dựng lông.

Tế bào gốc nằm ở hành lông làm nhiệm vụ sinh lông ở giai đoạn phát

triển anagen. Số lượng tế bào gốc này giảm dần theo tuổi. Mỗi sợi lơng, tóc tùy

từng vị trí khu trú mà có độ dài tương đương 1,27cm/tháng. Một số chủng

Demodex luôn sống ký sinh ở nang lông, được nuôi dưỡng nhờ chất bã nhờn do

tuyến bã tiết ra.



20 – 30 tuổi



40 – 60 tuổi



70 – 90 tuổi



Hình 1.2: Tế bào gốc ở nang lơng/tóc

Cấu trúc nang lơng bao gồm:

- Nhú lơng: được cấu tạo bởi tổ chức liên kết và cuộn mạch. Sự phân

chia tế bào ở nhú lông rất hiếm [42].

- Chất cơ bản: xung quanh nang lông là chất cơ bản (chất nền) bao

gồm nhiều tế bào biểu mô xen kẽ với các tế bào sinh sắc tố. Sự phân chia tế

bào ở chất cơ bản tạo thành các tế bào hình thành cấu trúc chính của sợi lơng

và bên trong chân sợi lông. Các tế bào biểu mô ở tóc là nhóm tế bào phát triển

nhanh nhất trong cơ thể người. Điều này giải thích tại sao khi dùng hoá trị



6



liệu ngăn chặn tế bào phân chia hoặc tia xạ điều trị chỉ làm rụng tóc tạm thời.

Nang lơng hình trứng hoặc hình quả lê được bao bọc hồn toàn bởi chất cơ

bản ở xung quanh trừ phần nhỏ nối liền với tổ chức liên kết tiếp cận với mao

mạch.

- Vỏ bọc chân lông: được bao gồm vỏ trong và vỏ ngồi. Vỏ ngồi

rỗng, gồm những tế bào hình khối, được thấy rõ khi nhuộm HE. Vỏ trong

gồm 3 lớp: lớp biểu bì (cuticle), lớp giữa (cortex), lớp tủy (medulla)

- Sợi lơng, tóc: bao gồm lớp cutin nối tiếp với vỏ bọc chân lông, chất

vỏ trung gian và chất lõi bên trong.

- Phình nang lơng: nằm ở vỏ bọc ngồi chỗ bám của cơ dựng lơng.

Đây là nơi khu trú của nhiều tế bào gốc của da, cung cấp tế bào mới cho tồn

bộ nang lơng và làm nhiệm vụ liền vết thương khi thượng bì bị tổn thương

[14,35].

- Các cấu trúc khác: bao gồm cơ dựng lông, tuyến bã và tuyến mồ hôi

tiết nhầy apocrine. Các thụ thể của nang lông cảm giác đều nằm ở các sợi lông.

1.4. Lâm sàng bệnh viêm nang lông

1.4.1. Tổn thương cơ bản

Viêm nang lông là hiện tượng viêm nhiễm ở phần nơng của một vài hoặc

nhiều nang lơng. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi vùng da có lơng trên cơ thể.

Viêm nang lơng thường dễ chẩn đốn vì tổn thương cơ bản của bệnh là

các sẩn viêm đỏ, mụn mủ, vết chợt hoặc vảy tiết ở cổ nang lông, xung quanh

có quầng đỏ, kích thước khoảng 2- 5 mm khu trú ở chân các sợi lơng, tóc. Khi

mụn mủ vỡ để lại vết chợt nhỏ và đóng vảy tiết.

Tổn thương có thể đứng rải rác hoặc tập trung thành đám.

Vị trí viêm nang lơng thường gặp nhất là da đầu, gáy, tóc mai, hai

nách, vùng lơng mu (sinh dục), hai cẳng chân, hai đùi, hai mông hoặc rải rác

khắp người.



7



Viêm nang lông khi khỏi bệnh không để lại sẹo, nhưng có thể để lại vết

tăng sắc tố sau viêm trong một thời gian dài, nhất là ở vùng mặt.

Do ngứa nhiều nên bệnh nhân thường hay gãi gây xây xước, tổn thương

tổ chức xung quanh hình thành nhiều vảy tiết, dính máu khơ cứng hoặc có mủ

tại các sẩn đỏ.

Tình trạng nhiễm trùng có thể lan rộng hơn, sâu hơn xuống tồn bộ

nang lơng. Khi nang lơng và các tổ chức quanh nang lông hoặc các phần

nông, sâu của da bị viêm thì tùy theo từng mức độ mà có các tên gọi khác

nhau như nhọt, cụm nhọt, viêm mô bào, hậu bối....

1.4.2. Một số tình trạng viêm nang lơng cần chú ý

- Viêm nang lông sâu

Là hiện tượng viêm nhiễm lan sâu xuống nang lơng đến lớp trung bì nên

thương tổn thường rộng hơn và nổi cao hơn viêm nang lông nông. Trong những

trường hợp này bệnh nhân thấy đau nhức nhiều tại thương tổn, dễ hóa mủ, tuy

khơng vỡ nhưng khi xẹp sẽ đóng vảy tiết. Khi vảy tiết bong đi dễ để lại sẹo lõm

do trung bì bị tổn thương.

- Nhọt

Là thuật ngữ dùng để chỉ khi viêm nang lông sâu, viêm quanh nang

lông và hoại tử vùng trung tâm nang lơng tạo nên ngòi màu vàng.

Nhọt rất thường gặp và có thể xuất hiện bất cứ trên vùng nang lông nào

của cơ thể, tuy nhiên vị trí thường gặp nhất là mặt, cổ, hố nách, mơng, đùi và

những vùng da băng ẩm kéo dài.

Bệnh hay gặp ở thanh niên, nam bị nhiều hơn nữ thường do ăn ngọt

nhiều. Đa số bệnh nhân chỉ có 1 đến 2 nhọt. Tuy nhiên cũng có người có

nhiều nhọt 5-7 cái. Vị trí hay gặp là ở mặt, cổ, tay, mơng …

Tổn thương ban đầu là cục cứng, đỏ, nóng, đau, khu trú ở nang lơng, ở

giữa có một đốm trắng/mụn mủ còn gọi là “ngòi”. Khi vùng trung tâm nhọt



8



mềm hơn, màu thẫm hơn và hơi bùng nhùng (nhọt “chín”) thì nhọt sẽ vỡ mủ,

“ngòi” thốt ra ngồi để lại trên nền thâm nhiễm một lỗ nhỏ, dần dần lên da

non và lành sẹo.

Bệnh nhân đau nhức, sốt cao, tồn thân mệt mỏi, chán ăn. Có thể bệnh

nhân bị nhiễm trùng huyết nếu không được điều trị đúng đắn, kịp thời.

- Nhọt cụm, hậu bối

Là do nhiều nhọt tập trung thành đám tạo thành “tập đoàn” nhọt.

Trường hợp này tổn thương thường viêm nặng hơn, lan rộng hơn và thâm

nhiễm sâu hơn. Vị trí nhọt cụm thường ở gáy, lưng, đùi. Khi cụm nhọt xuất

hiện ở gáy, lưng thì được gọi là “gương sen” hoặc “hậu bối”. Bệnh nhân

thường có sốt, đau đầu, mệt mỏi và rất đau, có thể có albumin niệu.

- Bệnh nhọt

Là chỉ một người bị nhọt với số lượng nhiều tái đi tái lại nhiều lần hàng

tháng, có khi hàng năm khơng khỏi.

- Đinh râu

Là hiện tượng nhọt xuất hiện ở vùng mặt, chủ yếu ở vùng có râu và

vùng “bát úp” quanh miệng, chóp mũi. Do cấu tạo giải phẫu ở vùng mặt có

các tĩnh mạch đổ vào xoang tĩnh mạch trong sọ não nên vi khuẩn có thể

nhnhanh chóng theo dòng máu gây nhiễm khuẩn các xoang tĩnh mạch. Bệnh

nhân rất dễ sốt cao, hơn mê và tử vong.



9



Hình 1.3. Một số tình trạng viêm nang lông

- Nguyên nhân gây viêm nang lông:

Nguyên nhân chủ yếu là tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh, vi khuẩn

gram âm.

Các nguyên nhân khác:

+ Nấm: Trichophyton rubrum, Malassezia folliculitis, Candida albicans…

+ Virus Herpes simplex, virus u mềm lây.

+ Demodex

1.5. Lịch sử vi nấm Malassezia

Bệnh nấm da nói chung mơ tả rất sớm trong lịch sử lồi người. Năm

1800, Gruby đã nuôi cấy nấm gây bệnh thực nghiệm trên vùng da ẩm ướt.

Năm 1910, Sabouraud là người đầu tiên đưa ra bảng định danh các loài nấm,

đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị bệnh nấm. Với công sức này ông

được coi là cha đẻ ngành nấm y học hiện đại [14]. Nấm gây bênh trên bề mặt



10



da rất phổ biến vì chúng có mặt ở khắp nơi và rất dễ lây nhiễm đặc biệt ở các

nước khí hậu nóng ẩm nhiệt đới như nước ta. Bệnh có thể gây ra bởi các

chủng Dermatophyte, Candida, Malassezia, Trichosporon...Trong đó, bệnh do

nấm Malassezia nói riêng cũng đã được mô tả từ lâu trong y văn thế giới. Đầu

những năm 50 của thế ký 18, Robin phát hiện một loại nấm ở thương tổn vẩy

da bệnh nhân lang ben đặt tên Malassezia furfur. Cũng trong thời gian đó,

Raymond Sabouraud đã xác định vi sinh vật gây hiện tương gầu da đầu cũng

có tên gọi là: Pityrosporum. Nhưng mãi đến giữa thế kỷ 20 một số nhà khoa

học tìm được 3 lồi nấm là: P. oval, P.orbiculair, P.pachydermatis. Trong đó,

có hai loài nấm men ưa lipid gây bệnh ở người là P.oval & P.orbiculair. Ngoại

trừ một lồi khơng ưa Lipid thường gây bệnh cho động vật đó là

P.pachydermatis [15]. Còn Louis - Charler lại mô tả vi nấm này dưới tên gọi

Malassezia. Ban đầu một số nhà khoa học cho rằng hình thái Malassezia là

tồn tại dưới dạng sợi nấm, còn Pityrosporum là hình thái nấm men. Nhưng

sau đó khơng lâu Sabouraud khẳng định rằng thực chất đó chỉ là sự phân chia

biến đổi trong vòng đời của nấm men và tác giả đã ghi nhận vai trò nấấm gây

bệnh của vi nấm ở một số bệnh như: Lang ben, viêm da dầu, viêm nang lông,

viêm da cơ địa... Năm 1995-1996, thành tựu khoa học công nghệ phát 5 triển

nhanh chóng đã ứng dụng thành cơng trong việc giải mã trình tự bộ gen của vi

nấm này và tìm được 7 loài Malassezia.spp [16]. Năm 2004 các nhà khoa học

Nhật Bản tiếp tục tìm ra thêm 4 lồi mới nữa. Hiện nay số lồi Malassezia có

khoảng hơn 11 lồi: M. globosa, M. restricta, M. sympodialis, M. furfur, M.

obtusa, M. slooffiae, M. pachydermatis, Mjaponica, M. nana, M. dermatis and

M. yamatoensis...[17]. Các nhà khoa học tiết lộ tìm thêm 3 lồi mới và đang

tiếp tục tìm một số lồi khác sẽ cơng bố trong thời gian gần đây [20]. Từ đó,

các nhà khoa học đã thống nhất dưới tên gọi vi nấm là Malassezia.spp [18],

[19].



11



1.5.1. Đặc điểm Malassezia.spp

Trước đây, Malassezia được biết đến như một vi nấm men thuộc hệ vi

sinh vật bình thường trên da người và cả ở động vật. Và bấy lâu nay người ta

vẫn cho rằng Malassezia không phải tác nhân gây bệnh cho dù là căn nguyên

tiên phát hay bội nhiễm thứ phát bởi con người đã cố chứng minh rằng họ vẫn

thích nghi và kiểm sốt được loài vi nấm ký sinh này. Nhưng vài thập kỷ gần

đây rất nhiều nghiên cứu khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới đã cho biết vi

nấm này được chú ý rất nhiều trong cơ chế bệnh sinh của một số bệnh da

thường gặp như: Viêm da cơ địa, viêm da dầu, gầu da đầu, viêm nang lông...

[19], [20], [22], [23].

Malassezia là nấm men ưa lipid, đa phần các loài gây bệnh cho người

như: M.globosa, M. furfur, M. dermatits, M.sympothealis....Chúng thường biểu

hiện ở mọi lúa tuổi và trong rất nhiều bệnh lý với nhiều vị trí khác nhau nhưng

chủ yếu là độ tuổi thanh niên có liên quan vùng da mỡ. Ngồi ra, một số lồi

khác gây bệnh móng và cơ quan, hệ thống. Bên cạnh đó, một số lồi gây bệnh

động vật như: M.pachydermatis. Nhưng đơi khi cũng gây bệnh cho người trong

một số trường hơp suy giảm miễn dịch..., có thể biểu hiện tình trạng bệnh cảnh

lâm sàng nặng nề, nguy kịch. Malassezia spp có cấu tạo đơn bào và sinh sản

hình thức nảy chồi. Tuy nhiên, một số lồi có cấu tạo đa bào như: M.globosa,

lồi này có phương thức sinh sản hữu tính tức do đó chúng thích nghi, sinh sản

và phát triển hàng loạt. Đồng thời di truyền những đặc tính về khả năng thích

nghi và đề kháng với những yếu tố có tính chất đào thải nấm trong chính mỗi

cá thể hoặc từ mơi trường tự nhiên qua nhiều thế hệ. Do đó, lồi M.globosa

mang tính chọn lọc tự nhiên rất cao hơn nữa loài nấm này tồn tại ở vi hệ rất

nhiều và là căn nguyên gây bệnh chủ yếu [18],[21],[22]. Nấm Malassezia.spp

thuộc vi hệ trên da của người và động vật máu nóng. Nhiều nghiên cứu cho

thấy có khoảng 70-90% vi nấm Malassezia.spp có mặt trên da người khỏe



12



mạnh [17],[22]. Tuy nhiên,vi nấm tồn tại ở vi hệ không bền vững nhiều khi

cũng thay đổi. Ngay từ khi mới sinh, vi nấm đã xuất hiện và có mặt ở nhiều vị

trí trên cơ thể. Nhưng đa phần chúng phát triển nhiều ở tuổi vị thành niên, bởi

lứa tuổi này tuyến bã hoạt động mạnh nên chế tiết nhiều chất bã… Bên cạnh

đó, vi nấm cũng có thể đồng nhiễm với một số vi khuẩn và vi nấm khác cũng

thuộc vi hệ gây bệnh cơ hội. Do đó, chúng có thể là căn nguyên gây bệnh hoặc

bội nhiễm thứ phát làm nặng thêm tình trạng bệnh. Ngồi ra, chúng còn gây

bệnh cơ hội khi có điều kiện thuận lợi [18], [19],[23].

1.5.2. Cơ chế gây bệnh

Hầu hết các loại nấm thường sống hoại sinh, chúng phát triển ở thực

vật hoặc trong đất, ít khi thích ứng trên cơ thể người. Do đó, người khỏe

mạnh ít khi bị mắc bệnh nấm [24],[25],[15]. Sự xâm nhập diễn ra khi một bào

tử nấm nhiễm vào cơ thể ở trạng thái nghỉ khơng hoạt động, sau đó chuyển

hóa trong cơ thể vật chủ, nẩy mầm và sinh sản rồi xâm nhập vào mơ. Mỗi

hình thái nấm như: Sợi nấm, bào tử nấm hoặc tế bào nấm men có tính kháng

ngun đặc trưng khác nhau. Do đó, khi xâm nhập vào cơ thể, nấm gây ra sự

đáp ứng miễn dịch với cơ thể vật chủ và sẽ có hai cơ chế bảo vệ: Miễn dịch

dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào [26]. Trong quá trình trao đổi chất

vì lý do nào đó → thiếu hụt gen mã hóa Enzym tổng hợp axit béo→vi nấm

khơng tự tổng hợp axit béo → sử dụng nguồn axit béo từ bên ngồi. - Xu

hướng tìm vùng giàu chất bã nhờn: da đầu, mặt, lưng, ngực…

Malassezia.spp tiết 8 loại Lipase và 3 loại Photpholipase Thủy phân

axit béo trung tính→ axit béo tự do→phản ứng trung gian tế bào→ kích hoạt

con đường gây viêm [18]

Khả năng né tránh và chống lại quá trình thực bào do:

+ Lớp lipid dày bao quanh tế bào nấm

+ Tính đa kháng nguyên và thay đổi thành phần tế bào.



13



1.5.3. Một số yếu tố thuận lợi

Bệnh do nấm Malassezia thường có nguồn gốc nội sinh do các loài

Malassezia phát triển quá mức gây bệnh, đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi

[27], [28],[29],[15].

Các yếu tố thuận lợi hay gặp là:

* Yếu tố bên trong:

- Sinh lý: phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh

- Bệnh lý tồn thân: Nhiễm trùng cấp và mạn tính, bệnh chuyển hóa,

béo phì…Các bệnh lý như bỏng, ung thư, Hodking, nhiễm HIV/AIDS…

- Bệnh lý tại chỗ làm thay đổi tính chất da: VDCD, VDD, Bạch biến…

- Sử dụng hóa chất: Dùng kháng sinh phổ rộng, kéo dài làm thay đổi sự

cân bằng vi hệ…

* Yếu tố bên ngoài:

- Người già sức đề kháng suy giảm

- Loét do bỏng

- Điều kiện vệ sinh kém, không ý thức bệnh tật hoặc thiếu kiến thức Mơi trường vi khí hậu thay đổi…

- Ngồi ra, thói quen dùng dầu dưỡng tóc, kem chống nắng, mơi trường

nóng ẩm… là yếu tố thuận lợi cho Malassezia ssp phát triển và gây bệnh.

1.6. Chẩn đốn viêm nang lơng do Malassezia

- Chẩn đoán xác định:

+ Tổn thương cơ bản:

 Loại tổn thương cơ bản:Là các sẩn mụn, mụn mủ, sẩn mụn mủ

đơn độc.

 Kích thước: 1-2mm.

 Vị trí: Thường gặp nhất là ở lưng, ngực, vai. Có thể gặp ở

mặt( cằm, hai bên khn mặt ít khi trung tâm khn mặt), mặt duỗi

cánh tay, cổ.



14



+ Triệu trứng cơ năng: Ngứa là triệu chứng thường gặp nhất, có thể ngứa

mãnh liệt.

- Cận lâm sàng: Soi tươi nấm ≥20 TB nấm men/ 1 vi trường.

- Đánh giá mức độ:

+ Nhẹ: có dưới 10 tổn thương viêm đỏ tại các chân lơng, có ngứa.

+ Trung bình: có từ 10 - 20 tổn thương viêm đỏ tại các chân sợi lơng,

có ngứa tại tổn thương.

+ Nặng: có trên 20 tổn thương viêm đỏ tại các chân sợi lơng, ngứa

nhiều tại tổn thương.

- Chẩn đốn phân biệt:

Viêm nang lông do tụ cầu: tụ cầu trùng vàng có thể gây viêm nang lơng

nơng hay còn gọi là chốc nang lơng của Bockhart và cũng có thể gây viêm sâu

lan xuống tồn bộ nang lơng (sycosis). Sycosis hay gặp ở vùng râu và gây

ngứa. Khi viêm lan cả đơn vị nang lơng-tuyến bã thì có thể để lại sẹo sau khi

khỏi. Bệnh hay tái phát khi không loại được các yếu tố thuận lợi như môi

trường ô nhiễm, nóng ẩm. Một số vùng hay bị như vùng râu, nách, chân tóc

vùng gáy, tóc mai, lơng mu.

Viêm nang lông do vi khuẩn Gram âm: thường xảy ra ở những người bị

trứng cá sử dụng kháng sinh uống dài ngày. Các mụn trứng cá trở nên nặng

hơn, viêm nang lông thành sẩn hoặc áp xe nang lông thành bọc vùng má, cằm.

Viêm nang lông do nấm sợi: khởi đầu thường là nhiễm nấm ở lớp sừng

quanh miệng nang lông sau đó mới lan vào sâu trong nang lơng và vào lơng.

Nấm da và nang lơng có thể thấy ở đầu với các biểu hiện khác nhau do các

chủng nấm khác nhau gây nên.

+ Nấm da gây đứt sợi tóc và bong vảy da, loại nấm này gây thương tổn

là một đám da tròn, bong vảy da trắng và gây rụng tóc, tác nhân gây bệnh là

nấm microsporum do súc vật truyền sang mà thường là chó mèo

(Microsporum canis);



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bệnh hay gặp do Staphylococcus aureus và Staphylococcus epidermidis gây ra [55]. Tại Anh, 15% số bệnh nhân cần chăm sóc ban đầu đều liên quan đến bệnh da, trong đó các bệnh da do nhiễm khuẩn thường hay gặp nhất cả về diện rộng, mức độ nặng. Các bệnh da nh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×