Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình ảnh khối UTBMTBG hầu hết là các khối tăng sinh mạch, các mạch máu thường sắp xếp lộn xộn, có thể thấy các hồ mạch máu hoặc hồ tĩnh mạch. Ngoài ra có thể đánh giá mức độ thông động tĩnh mạch cửa, thông động tĩnh mạch gan…

Hình ảnh khối UTBMTBG hầu hết là các khối tăng sinh mạch, các mạch máu thường sắp xếp lộn xộn, có thể thấy các hồ mạch máu hoặc hồ tĩnh mạch. Ngoài ra có thể đánh giá mức độ thông động tĩnh mạch cửa, thông động tĩnh mạch gan…

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



phosphatase trong tế bào ác tính dẫn đến việc đào thải 18F-FDG làm tế bào ung

thư hấp thụ18F-FDG không cao hơn tế bào gan bình thường.

1.3.3. Tế bào học và mô bệnh học.

+Tế bào học

Đây là phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu

âm. Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Hợp và cộng sự được thực hiện tại Việt

Nam năm 1993 đã chứng minh đây là phương pháp an tồn, chính xác và giá

trị chẩn đoán cao với độ nhạy 90 - 95% và độ đặc hiệu 91 - 93% [25]

Các đặc điểm của tế bào ung thư gan trên tiêu bản tế bào học gồm: tế

bào kích thước to nhỏ khác nhau, đứng riêng rẽ hay từng bè gợi lại cấu trúc tế

bào gan; có thể có các giọt mật trong nguyên sinh chất; nhân tế bào lớn, kiềm

tính, có thể có nhân qi, nhân chia, có nhiều hạt nhân, nhân khơng điển hình,

xuất hiện các hốc sáng bên trong bào tương, các thể vùi ưa acid hoặc bazơ.

+Mô bệnh học

Mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng để chẩn đốn ung thư. Độ chính xác

phụ thuộc vào kỹ thuật sinh thiết, vị trí, kích thước u và kinh nghiệm của nhà

giải phẫu bệnh. Độ nhạy của phương pháp là 70- 90%.

Mô bệnh học UTBMTBG có đặc điểm tế bào tương tự như mơ tả tế bào

học, ngồi ra còn mơ tả được sự sắp xếp của các tiểu thùy thành thể bè, thể

ống tuyến, thể nhú, thể đảo hay thể khơng điển hình.

1.4. Chẩn đoán xác định

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế tháng 12/2012 thì chỉ chẩn đốn xác định

UTBMTBG khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau [16]:

- Có bằng chứng mơ bệnh học là UTBMTBG.

- Có hình ảnh u điển hình trên phim chụp CLVT hoặc CHT ổ bụng có

cản quang + nồng độ AFP huyết thanh > 400ng/ml.

- Có hình ảnh u điển hình trên phim chụp CLVT hoặc CHT ổ bụng có

cản quang + nồng độ AFP tăng cao hơn bình thường (nhưng < 400 ng/ml) +

có nhiễm virus viêm gan B hoặc C.



11



Hình ảnh u điển hình của UTBMTBG trên phim chụp CLVT và CHT là

hình ảnh ngấm thuốc cản quang mạnh thì động mạch, thải thuốc nhanh thì

tĩnh mạch cửa.

1.5. Chẩn đốn giai đoạn UTBMTBG

Có nhiều bảng phân loại giai đoạn như phân loại theo TNM, phân loại

theo Okuda,phân loại theo Barcelona…, trong đó phân loại giai đoạn theo

Barcelona (BCLC) được áp dụng rộng rãi nhất.

Bảng 1.1: Phân chia giai đoạn bệnh theo BCLC

Giai đoạn



ECO



BCLC



G



Rất sớm



0

A

1

A

2



Sớm



A

3

A



4

Trunggian B

Tiến triển C

Cuối

D



Hình thái khối u



Okud

a



0



1 khối< 2cm



I



0



1khối<5cm



I



0



1khối <5cm



I



Chức năng gan

ALTMC và Bilirubin

máu bình thường

ALTMC và Bilirubin

máu bình thường

Tăng ALTMC và

Bilirubin máu bình

thường

ALTMC và Bilirubin



0



1 khối <5cm



I



0



3 khối <3cm



I-II



Child-Pugh: A-B



0

1-2

3-4



Khối lớn,nhiều khối

Xâm lấn mạch, dicăn

Xâm lấn mạch, dicăn



I-II

I-II

III



Child-Pugh: A-B

Child-Pugh: A-B

Child-Pugh: C



máu tăng



Bảng 1.2: Đánh giá chức năng gan theoChild-Pugh

Các chỉ số đánh giá

Hội chứng não gan

Cổ chướng

Bilirubin huyết thanh(µmol/L)

Albumin huyết thanh(g/L)

Tỷ lệ prothrombin(%)



1điểm

Khơng

Khơng

<34

>35

>54



2điểm

Nhẹ

Ít

34–50

28–35

45–54



3điểm

Nặng

Vừa,nhiều

>50

<28

<45



Hoặc INR



< 1,7



1,7 – 2,2



>2,2



12



Xếp loại Child-Pugh:



A:5-6 điểm,B:7-9 điểm,C:10-15 điểm



1.6. Các phương pháp điều trị UTTBG hiện nay

Trong hai thập kỷ gần đây, điều trị UTTBG ở trên thế giới và trong nước

đã có những bước phát triển đáng khích lệ. Nhờ xu hướng áp dụng rộng rãi

các chương trình khám sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao đã làm tăng

tỷ lệ phát hiện bệnh giai đoạn sớm, u gan có kích thước nhỏ, giúp làm tăng tỷ

lệ số bệnh nhân được tiếp cận với các phương pháp điều trị triệt căn và nâng

cao hiệu quả điều trị… Bên cạnh đó, những tiến bộ trong điều trị UTTBG,

đặc biệt là phẫu thuật cắt gan và ghép gan, đã làm thay đổi nhiều tiên lượng

của căn bệnh này. Những tiến bộ về kỹ thuật của từng phương pháp điều trị

cũng đã và đang được triển khai áp dụng trong thực hành lâm sàng điều trị các

bệnh nhân UTTBG ở nước ta hiện nay.

1.6.1. Phẫu thuật cắt gan

Phẫu thuật cắt gan là lựa chọn tối ưu cho các trường hợp UTTBG còn

chỉ định phẫu thuật, với một chức năng gan tốt. Nhờ những tiến bộ về kỹ

thuật cầm máu và gây mê hồi sức, phẫu thuật cắt gan được thuận lợi và ít biến

chứng hơn so với trước đây. Thậm chí đối với những trường hợp u gan kích

thước lớn trên 10cm, phẫu thuật cũng có thể đem lại kết quả tốt mà an toàn.

Cắt gan thuỳ phải hoặc thuỳ trái mở rộng cũng có thể được thực hiện trên một

nền gan xơ nếu xét thấy dự trữ chức năng gan còn lại tốt. U gan đa ổ hoặc có

xâm lấn mạch máu ở các tĩnh mạch trong gan có liên quan đến tiên lượng xấu

sau phẫu thuật. Đối với các trường hợp mà tính tốn thể tích phần gan còn lại

khơng đủ cho một phẫu thuật cắt thuỳ phải hoặc cắt thuỳ phải mở rộng, người

ta thường thực hiện tắc tĩnh mạch cửa nhánh phải để làm teo thuỳ gan phải và

phì đại bù trừ thuỳ gan trái. Ở các trung tâm chuyên khoa phẫu thuật gan mật,

phẫu thuật cắt gan điều trị UTTBG hiện nay là khá an toàn, với tỷ lệ tử vong

chỉ khoảng 2-5%, thấp hơn nhiều so với trước đây. Biến chứng chảy máu lớn

và suy gan sau phẫu thuật là hai mối lo lớn nhất của phẫu thuật viên, đến nay



13



đã giảm thấp nhờ việc lựa chọn bệnh nhân cẩn thận và những tiến bộ về kỹ

thuật [13],[28],[29].

Những năm gần đây, phẫu thuật cắt gan nội soi đã trở nên phổ biến hơn,

với những phát triển về dụng cụ nội soi cho phép cắt gan không chảy máu

lớn. Cắt gan nội soi được áp dụng cho các trường hợp u gan ở thùy trái hoặc

các phân thuỳ trước gan phải, mang lại nhiều ích lợi về hậu phẫu. Một phân

tích hồi cứu cho thấy phẫu thuật nội soi làm giảm có ý nghĩa lượng máu mất

trong khi đạt kết quả tương đương về viền cắt bỏ âm tính ung thư so với phẫu

thuật mổ mở [29].

Trước đây, u gan cả 2 thuỳ là một chống chỉ định của phẫu thuật cắt gan.

Ngày nay, nhờ sự phát triển của các phương pháp phá huỷ khối u bằng nhiệt,

có thể thực hiện kết hợp cắt gan cho khối u chính ở một thuỳ với phá huỷ

bằng nhiệt khối u kia ở thuỳ khác. Việc kết hợp này làm tăng tỷ lệ bệnh nhân

được điều trị triệt căn, do vậy đạt được kết quả tối ưu cho người bệnh. Kết

quả sống thêm lâu dài sau phẫu thuật cắt gan đã cải thiện đáng kể, với tỷ lệ

sống thêm sau 5 năm hiện nay đạt trên 50% [30]. Kết quả này có liên quan

đến tăng tỷ lệ bệnh nhân được phát hiện UTTBG giai đoạn sớm và rất sớm,

cũng như liên quan với giảm truyền máu trong khi mổ. Truyền máu trong khi

mổ có ảnh hưởng bất lợi tới sống thêm sau phẫu thuật do làm ức chế miễn

dịch dẫn tới tăng nguy cơ tái phát sau mổ. Tình trạng tái phát sau mổ có liên

quan đến các tổn thương di căn vi thể hoặc các nhân ung thư tiềm tàng ở phần

gan còn lại. Cho đến nay, hố bổ trợ sau phẫu thuật rất ít giá trị ngăn ngừa tái

phát trong các thử nghiệm lâm sàng. Phẫu thuật lại hoặc sử dụng các phương

pháp phá huỷ qua da vẫn được cân nhắc lựa chọn hơn cho các trường hợp tái

phát đơn độc [29]. Điều trị tân bổ trợ trước phẫu thuật cắt gan bằng hóa tắc

mạch chưa được khuyến cáo trong các hướng dẫn đồng thuận quốc tế điều trị

UTTBG [30].

1.6.2. Ghép gan



14



Trong những năm thập kỷ 90 của thế kỷ trước, UTTBG giai đoạn tiến

triển không thể phẫu thuật là chỉ định chung cho ghép gan. Tuy nhiên kết quả

đạt được khá hạn chế, với tỷ lệ sống thêm sau 5 năm chỉ đạt khoảng 20%.

Nguy cơ tái phát rất cao do sự xuất hiện các tế bào ung thư trong tuần hoàn hệ

thống trên cơ sở sử dụng thuốc ức chế miễn dịch để chống thải ghépCác

nghiên cứu sau đó chỉ ra việc lựa chọn bệnh nhân là một trong những yếu tố

quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả sống thêm sau ghép. Hiện nay, các chỉ

tiêu được chấp nhận rộng rãi cho chỉ định ghép gan là các trường hợp xơ gan

Child C có 1 khối u gan dưới 5cm hoặc có tối đa 3 khối u với kích thước mỗi

khối dưới 3cm đường kính và khơng có xâm lấn mạch máu hoặc di căn ngoài

gan (chỉ tiêu Milan). Các trường hợp này thường là chống chỉ định cho phẫu

thuật cắt gan vì chức năng gan kém. Một số trung tâm ghép gan trên thế giới

áp dụng chỉ tiêu Milan mở rộng: 1 khối u đơn độc dưới 6,5cm đường kính

hoặc ≤ 3 khối u với đường kính khối lớn nhất ≤ 4,5cm và đường kính khối u

tổng cộng ≤8cm (chỉ tiêu UCSF). Với chỉ tiêu chọn lựa như vậy, tỷ lệ sống

thêm sau 5 năm đạt 60-75%. Tái phát UTTBG là một trong những nguyên

nhân quan trọng nhất ảnh hưởng tới sống thêm lâu dài sau phẫu thuật ghép

gan. Hiện nay, vẫn chưa có một phương pháp điều trị bổ trợ có hiệu quả nào

để làm giảm nguy cơ tái phát [32].

Đối với các trường hợp UTTBG kích thước nhỏ trên nền xơ gan Child A,

nên áp dụng điều trị phẫu thuật cắt gan hay ghép gan đang còn là vấn đề gây

tranh cãi. Một số trung tâm điều trị UTTBG ở châu Âu khuyến cáo điều trị

ghép gan cho các trường hợp này bởi vì tỷ lệ tái phát thấp hơn so với phẫu

thuật cắt gan. Tuy nhiên ở phần lớn các trung tâm điều trị ở châu Á, phẫu

thuật cắt gan vẫn là lựa chọn đầu tiên do tình trạng thiếu nguồn cho, và kết

quả đạt được là tỷ lệ sống thêm sau 5 năm cũng đạt tương tự (70%) như ghép

gan. Một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân chờ ghép gan bị loại do u gan tiến triển.

Một chiến lược có vẻ hợp lý hơn trong điều trị các trường hợp UTTBG kích



15



thước nhỏ với dự trữ chức năng gan tốt là thực hiện phẫu thuật cắt gan trước,

sau đó sẽ áp dụng ghép gan nếu có tái phát hoặc suy gan xảy ra [33],[34].

Đặc biệt, việc áp dụng phẫu thuật nội soi hoặc nội soi hỗ trợ trong cắt lấy

gan từ người cho sống đã bước đầu được áp dụng thành công, giúp giảm thiểu

các biến chứng cho người cho gan. Tuy nhiên hiện nay ở nước ta, ghép gan từ

người cho sống đối với các bệnh nhân UTTBG chưa thực hiện được nhiều do

nguồn hiến tạng hiếm và chi phí ghép gan tại Việt Nam còn quá cao [35].

1.6.3. Các phương pháp phá huỷ khối u tại chỗ

Phá huỷ tại chỗ (local ablation) cũng là một phương pháp điều trị mang

tính chất triệt căn cho các khối UTTBG nhỏ không phù hợp cho điều trị phẫu

thuật. Các trường hợp UTTBG kích thước dưới 5cm và tối đa 3 khối u là

những chỉ định tốt nhất cho các phương pháp phá huỷ tại chỗ, mặc dù một số

trường hợp khối u kích thước lớn hơn cũng có thể điều trị được bằng phương

pháp này. Một số bằng chứng cho thấy điều trị phá hủy tại chỗ cũng cho kết

quả tương đương như phẫu thuật đối với các trường hợp UTTBG kích thước

nhỏ. Tuy nhiên các bằng chứng này chưa đủ mạnh để có thể đưa ra khuyến

cáo áp dụng phương pháp này như là lựa chọn đầu tiên cho các trường hợp

UTTBG kích thước nhỏ còn chỉ định phẫu thuật. Mặc dù vậy, đối với các

trường hợp như vậy, khi khối u ở trung tâm, chức năng gan ở giai đoạn ranh

giới, thì phá huỷ khối u tại chỗ lại là phương pháp khá an toàn. Các phương

pháp phá huỷ tại chỗ cũng rất ích lợi cho các trường hợp u gan tái phát sau

phẫu thuật, hoặc trong các trường hợp chờ ghép gan với mục đích kiểm sốt

sự tiến triển của khối u [6],[29],[36].

Tiêm ethanol qua da trực tiếp vào khối u (percutaneous ethanol injection

therapy- PEIT) là phương pháp phá huỷ khối u tại chỗ được sử dụng rộng rãi

vào những năm 90 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, những năm gần đây, phương

pháp này đã gần như được thay thế một cách rộng rãi bởi kỹ thuật đốt nhiệt

sóng cao tần (Radiofrequency ablation- RFA). Rất nhiều thử nghiệm lâm sàng

ngẫu nhiên đã cho thấy RFA tốt hơn PEIT trong việc kiểm soát khối u cũng



16



như thời gian sống thêm. Kỹ thuật này cũng đòi hỏi ít lần can thiệp hơn. Tỷ lệ

tử vong liên quan đến kỹ thuật chỉ dưới 1%. Kỹ thuật này có thể được thực

hiện qua da, trong khi mổ mở hoặc mở nội soi, dưới hướng dẫn trực tiếp của

siêu âm hoặc chụp CLVT. Sự lựa chọn phương pháp điều trị này chủ yếu dựa

vào kích thước và vị trí u cùng tình trạng tồn thân. Các trường hợp u gan

kích thước dưới 3cm ở ngoại vi là lựa chọn tốt nhất cho RFA. RFA dưới

hướng dẫn nội soi (laparoscopic RFA) cho phép tiêu huỷ các khối u ở gần các

tạng xung quanh như túi mật, thận, ruột và cơ hoành (các trường hợp này RFA

qua da dễ gây biến chứng). RFA trong khi mổ được chỉ định cho các trường

hợp u gan kích thước lớn hoặc u gan đa ổ nằm ở các phân thuỳ trên hoặc sau

của gan. Kỹ thuật này đạt được độ chính xác tiêu huỷ khối u cao hơn so với

RFA qua da hoặc nội soi. Đối với các trường hợp UTTBG kích thước >3cm,

một số nghiên cứu cho thấy RFA trong khi mổ mở cho kết quả sống thêm lâu

dài tốt hơn so với RFA qua da. Các nghiên cứu gần đây cho thấy đối với các

trường hợp UTTBG kích thước nhỏ, điều trị RFA đạt kết quả sống thêm sau 5

năm 40-60%, tuy nhiên tỷ lệ tái phát vẫn còn cao [6],[30]

Kết hợp điều trị tiêu huỷ tại chỗ với các phương pháp điều trị qua đường

động mạch và điều trị hệ thống (điều trị đa mô thức - multimodalities) cũng là

một xu hướng điều trị đang được áp dụng rộng rãi. Nhiều nghiên cứu trong và

ngoài nước cho thấy, PEIT hoặc RFA kết hợp hoá tắc mạch cho kết quả tốt

hơn về kiểm soát khối u cũng như thời gian sống thêm so với hoá tắc mạch

đơn thuần [37],[38],[39].

Siêu âm hội tụ cường độ cao (High Intensity Focused Ultrasound- HIFU)

là một phương pháp điều trị tiêu huỷ tại chỗ mới hoàn toàn khơng xâm nhập.

Phương pháp này sử dụng sóng siêu âm tập trung cường độ cao tiêu diệt các

tế bào ung thư thông qua hiệu ứng tạo khoang (cavitation effect) kết hợp với

hiệu ứng nhiệt (thermal ablation effect). Nhiều báo cáo đã cho thấy phương

pháp này đạt hiệu quả tiêu huỷ u tương đương với RFA. Do không cần kim

chọc vào khối u nên tránh được biến chứng chảy máu và gieo rắc tế bào ung



17



thư như đối với nguy cơ của RFA hay PEIT. Phương pháp này cũng áp dụng

được cho các khối u nằm gần mạch máu hoặc đường mật, cũng như các

trường hợp u lớn hơn 5cm đường kính [40],[34].

Tiêu huỷ khối u bằng vi sóng (microwave ablation), bằng nhiệt lạnh

(cryoablation), hoặc bằng lazer cũng là những phương pháp tiêu huỷ khối u tại

chỗ đã và đang được áp dụng với những kết quả bước đầu khả quan [40],[36].

1.6.4. Điều trị can thiệp qua đường động mạch

Tắc mạch hóa chất (hóa tắc mạch, nút mạch hóa chất, tắc mạch

hóa dầu: Transarterial chemoembolization - TACE hay Transarterial Oily

Chemoembolization - TOCE) từ lâu đã được chấp nhận rộng rãi như là một

phương pháp điều trị tạm thời cơ bản cho các trường hợp UTTBG khơng còn

chỉ định phẫu thuật, với hiệu quả đã được chứng minh trong các thử nghiệm

lâm sàng ở nhiều trung tâm trên thế giới về khả năng làm giảm kích thước u

cũng như kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân khi so sánh với điều trị

hố chất tồn thân hoặc điều trị triệu chứng [6].

Nguyên lý chung của phương pháp tắc mạch hóa chất trong điều trị

UTTBG là việc kết hợp sử dụng hoá chất gây độc tế bào bơm trực tiếp vào động

mạch ni khối u theo sau bởi bít tắc động mạch nuôi khối u bởi các tác nhân tắc

mạch. Tác nhân tắc mạch làm chậm và tắc nghẽn dòng máu ni khối u, gây ra

sự thiếu máu nuôi dưỡng của tế bào ung thư, đồng thời làm tăng thời gian tiếp

xúc của tế bào ung thư với các tác nhân hoá chất. Đồng thời sự thiếu máu nuôi

dưỡng của tế bào ung thư cũng làm thay đổi tính thấm của màng tế bào, dẫn đến

làm tăng khả năng thâm nhập hoá chất vào trong tế bào ung thư [6],[42]. Hơn 30

năm phát triển, kỹ thuật can thiệp đã không ngừng được cải tiến và thử nghiệm

với các tác nhân gây tắc mạch khác nhau cũng như các hoá chất gây độc tế bào

khác nhau, nhằm cải thiện việc kiểm soát khối u cũng như hạn chế biến chứng

kỹ thuật và cải thiện thời gian sống thêm cho người bệnh.

Tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu tải thuốc (drug-loaded microspheres)

là một phương pháp hoá tắc mạch cải tiến sử các hạt vi cầu vừa là tác nhân tắc



18



mạch cũng đồng thời là chất mang hóa chất và giải phóng hóa chất một cách

bền vững, cho phép duy trì nồng độ thuốc ổn định trong khối u đồng thời

giảm nồng độ thuốc khuyếch tán ra tuần hoàn ngoại vi. Hiện nay trên thị

trường có một số loại hạt vi cầu tải hóa chất như hạt DC BeadTM

(Biocompatibles UK, Surrey, UK), hạt HepaSphereTM (Merit Medical

Systems, Inc) được thiết kế đặc hiệu cho kỹ thuật hố tắc mạch, có thể được

chuyển tải cùng với hoá chất chống ung thư như doxorubicin, irinotecan….

Tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu đã được chứng minh trong nhiều thử

nghiệm lâm sàng có đối chứng và khơng đối chứng về hiệu quả kiểm sốt

khối u tốt hơn cùng với ít tác dụng phụ hơn so với phương pháp tắc mạch hóa

chất truyền thống [43].

Tắc mạch xạ trị (Radioembolization) hay xạ trị chiếu trong chọn lọc

(Selective internal radiation therapy) sử dụng các hạt vi cầu có gắn dược chất

phóng xạ (Ytrium-90) đưa vào khối u gan theo đường động mạch cũng là một

phương pháp điều trị can thiệp hiện đại, đang được áp dụng ngày càng phổ

biến hơn trong những năm gần đây. Kỹ thuật này là một hình thức chiếu xạ

trong chọn lọc nhằm tập trung liều xạ cao ở trong khối u trong khi hạn chế

được tổn thương gan lành do tia xạ (viêm gan do tia xạ). Một ưu điểm của tắc

mạch xạ trị là có thể phá hủy được huyết khối di căn, do vậy chỉ định được

cho cả các trường hợp UTTBG có xâm lấn tĩnh mạch cửa (nhánh, phân

nhánh) [44],[40]. Phương pháp này đã được áp dụng thành công ở vài bệnh

viện lớn trong nước.

Kết hợp can thiệp qua đường động mạch với các phương pháp tiêu huỷ

khối u tại chỗ, hoặc điều trị hệ thống như sử dụng các thuốc ức chế tăng sinh

mạch cũng là một xu hướng điều trị hiện nay [41],[45]. Đặc biệt, với những

tiến bộ về điều trị đích, ngày càng nhiều các thuốc ức chế tăng sinh mạch (các

thuốc có trọng lượng phân tử nhỏ như Sorafenib hay các kháng thể đơn dòng

như bevacizumab) được áp dụng cho điều trị kết hợp với hoá tắc mạch nhằm

ngăn chặn quá trình tái sinh mạch sau khi điều trị tắc mạch [46].



19



Hiện nay, có nhiều cơng trình nghiên cứu đã và đang tiến hành nhằm đánh

giá hiệu quả của các phương pháp điều trị kết hợp này. Đây cũng là một xu

hướng nghiên cứu chung của nhiều trung tâm điều trị UTTBG trên toàn thế giới.

1.6.5. Điều trị hệ thống

Đối với các trường hợp UTTBG giai đoạn tiến triển mà không phù hợp

với điều trị can thiệp qua đường động mạch, cho đến nay điều trị hoá chất

toàn thân vẫn mang lại kết quả hạn chế trong khi độc tính lại cao do tình trạng

xơ gan kèm theo ở hầu hết các bệnh nhân này. Hoá chất toàn thân truyền

thống sử dụng các chất gây độc tế bào như doxorubicin, cisplatin, 5 FU,

mitomycin C… (đơn thuần hoặc kết hợp) đã được chứng minh trong các thử

nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu là không kéo dài thời gian sống thêm cho người

bệnh [41],[47]. Hiện nay điều trị nhắm trúng đích (Targeted therapy) đang là

một tiến bộ mới trong chuyên ngành ung thư nói chung và ung thư gan nói

riêng. Các chất ức chế tăng sinh mạch (các chất có trọng lượng phân tử nhỏ

hoặc các kháng thể đơn dòng được sử dụng để điều trị trên cơ sở sinh lý bệnh

là UTTBG là dạng ung thư tăng sinh mạch mạnh). Hai thử nghiệm lâm sàng

ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược đã chứng minh hiệu quả của Sorafenib

(là một chất có trọng lượng phân tử nhỏ, ức chế yếu tố phát triển nội mạc

mạch máu- VEGF) kéo dài được thời gian sống thêm cho các bệnh nhân

UTTBG giai đoạn tiến triển [48]. Tuy nhiên hiệu quả vẫn đang còn hạn chế và

giá thành đắt cho nên cũng chưa thực sự được sử dụng một cách rộng rãi ở

nhiều nước trên thế giới.

Hiện nay, nhiều thuốc điều trị đích mới tác động vào các con đường khác

nhau của chuỗi truyền tin tế bào (như thuốc ức chế con đường mTOR, cMET, ức chế yếu tố phát triển fibroblast) đã và đang được đánh giá trong các

thử nghiệm lâm sàng. Một số thuốc mới như Everolimus, Brivanib đã được

chứng minh khá hiệu quả và an toàn ở pha 2 và hiện nay đang được thử

nghiệm ở các nghiên cứu pha 3. Hiệu quả của các thuốc điều trị đích này cũng

đang được đánh giá đối với các trường hợp UTTBG giai đoạn sớm [46],[47].



20



1.5. Điều trị UTBMTBG bằng phương pháp ĐNSCT

1.5.1. Nguyên lý

Các thực nghiệm trên động vật cho thấy, dòng điện xoay chiều có tần số

cao an tồn ở động vật do khơng gây kích thích cơ và rối loạn nhịp tim. Tần

số sóng cao tần sử dụng trong y khoa là từ 200kHz - 20 MHz. Các mô trong

cơ thể do chứa dung dịch giàu ion nên cũng là mơi trường dẫn điện. Người ta

sử dụng dòng điện xoay chiều để tạo ra nhiệt phá hủy khối u. Một mạch điện

khép kín được tạo bởi nguồn phát, điện cực, kim, người bệnh và điện cực

phân tán (Hình 1.1). Do điện trở giữa đầu kim (bằng kim loại) và mơ trong cơ

thể có sự khác biệt rất lớn nên khi dòng điện xoay chiều đi qua, các ion liên

tục va đập vào đầu kim với tốc độ rất cao làm cho đầu kim nóng lên và sinh ra

nhiệt (Hình 1.2).



Hình 1.1. Minh họa nguyên lý ĐNSCT trong gan [49]

Nhiệt năng tập trung ở đầu điện cực được dẫn truyền vào các tổ chức

xung quanh cho đến khi đạt được tình trạng cân bằng nhiệt ổn định. Năng

lượng càng cao, thể tích tổ chức hoại tử càng lớn. Tuy nhiên khi sử dụng dòng

điện cường độ cao sẽ làm khơ tổ chức quanh đầu kim nhanh chóng dẫn đến

thể tích đốt sẽ bị thu nhỏ. Các tổ chức quanh đầu kim khi bị cháy và khô lại

tạo ra CO2 sẽ đóng vai trò như lớp cách điện làm giảm bề mặt điện cực tiếp

xúc dẫn đến sự ngắt quãng của dòng điện xoay chiều (Hình 1.2). Do vậy để



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình ảnh khối UTBMTBG hầu hết là các khối tăng sinh mạch, các mạch máu thường sắp xếp lộn xộn, có thể thấy các hồ mạch máu hoặc hồ tĩnh mạch. Ngoài ra có thể đánh giá mức độ thông động tĩnh mạch cửa, thông động tĩnh mạch gan…

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×