Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…

Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…

Tải bản đầy đủ - 0trang

28



corticoid



mạch.

- Trung tâm của



Viêm da



mặt

- Viêm bờ mi.



- Có vảy da, tổn thương



dầu



- Ban đỏ.



dạng chàm.

- Vị trí: cạnh mũi, rãnh mũi



Viêm da



- Ban đỏ, sẩn.



má, vùng ngoài của mặt.

- Phân bố quanh vùng



quanh



miệng.



miệng



- Tổn thương nhỏ hơn.

- Khơng có giãn mạch, cơn

nóng bừng mặt hay cơn đỏ



Viêm da



-



Ban



tiếp xúc



mụn mủ.



đỏ,



mặt.

sẩn, - Thường phân bố theo kích

thước và vị trí tiếp xúc.



- Cảm giác bỏng, - Bong vảy.

châm chích.

Viêm da



-



Ban



do ánh



mụn mủ.



sáng

Lupus



-



ban đỏ



mặt.



Ban



đỏ,



- Có hiện tượng xốp bào và

á sừng trên mô bệnh học.

sẩn, - Thay đổi theo mùa.

- Thường bị ở vùng ngoài



đỏ



của mặt.

vùng - Phân bố thường gặp là ban

hình cánh bướm.

- Nhạy cảm ánh sáng.

- Có thể kèm các triệu

chứng khác như đau khớp,

rụng tóc, loét miệng,…

- Xét nghiệm miễn dịch đặc



29



hiệu.

1.10.



Các phương pháp điều trị



Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị được chứng

minh là có hiệu quả đối với bệnh trứng cá đỏ: điều trị bằng bơi

tại chỗ, thuốc uống tồn thân, laser/IPL, phẫu thuật,... Lựa

chọn phương pháp điều trị phù hợp phụ thuộc vào các thể

bệnh và mức độ nặng của từng thể bệnh.

Điều quan trọng đầu tiên trong điều trị trứng cá đỏ là tư

vấn cho bệnh nhân về tính chất mạn tính, tái phát của bệnh

và cần được điều trị và theo dõi lâu dài. Tránh các yếu tố khởi

phát hoặc làm nặng bệnh như rượu, đồ ăn cay, nóng, tránh

căng thẳng, tia UV, nhiệt độ nóng hoặc lạnh, gió, tập luyện

thể dục, tránh sử dụng các mỹ phẩm chứa các chất gây kích

ứng như toners, methol, camphor và sodium lauryl sulfate…

Có thể sử dụng kem dưỡng ẩm, kem chống nắng, các chất tẩy

rửa khơng chứa xà phòng. Các yếu tố khởi phát hoặc làm

nặng bệnh là đặc hiệu với từng cá nhân, và những tác nhân

phổ biến không phải tác động đến tất cả bệnh nhân, vì vậy,

việc hỏi bệnh kỹ lưỡng để khai thác được các yếu tố này đóng

vai trò quan trọng trong việc tư vấn cho bệnh nhân [3-21].

Việc tránh nắng và sử dụng kem chống nắng là quan

trọng. Tuy nhiên, một số sản phẩm chống nắng có chứa các

chất gây kích ứng có thể là yếu tố khởi phát bệnh, làm tăng

tình trạng ban đỏ. Kẽm oxyd và titanium dioxide dung nạp tốt

ở đa số bệnh nhân.



30



1.10.1.



Điều trị tại chỗ



Các thuốc điều trị tại chỗ đã được FDA công nhận trong

điều trị trứng cá đỏ là azelaic acid gel 15%, metronidazol 1%

(dạng kem, gel và lotion), sodium sulfacetamide 10% với lưu

huỳnh 5% [15]. Sử dụng các thuốc này một lần/ ngày được

chứng minh là làm giảm tổn thương sẩn viêm và mụn mủ và

giảm ban đỏ. Các thuốc này có thể cân nhắc sử dụng hai lần/

ngày hoặc phối hợp phương pháp khác nếu điều trị đơn độc

khơng có hiệu quả. Metronidazol và azelaic acid được khuyến

cáo ở mức độ B khi dùng cho phụ nữ có thai, trong khi đó

sodium sulfacetamide và lưu huỳnh là mức độ C. Azelaic acid

có thể gây ra hiện ngứa, bỏng rát khi bắt đầu sử dụng nhưng

sau đó sẽ biến mất khi vẫn tiếp tục dùng [3].

Một số các thuốc tại chỗ khác như benzoyl peroxide,

clindamycin,



erythromycin,



ức



chế



kênh



calcineurin



(tacrolimus, pimecrolimus), ivermectin và retinoid, cũng đã

được chứng minh có hiệu quả ở một số nghiên cứu, tuy nhiên

các thuốc này chưa được FDA công nhận trong điều trị bệnh

trứng cá đỏ.



31



1.10.2.



Điều trị đường uống



Sử dụng thuốc tại chỗ nhìn chung được ưa thích hơn, đặc

biệt là cân nhắc hậu quả đến sự kháng kháng sinh và các

nguy cơ liên quan đến việc sử dụng lâu dài các kháng sinh

đường uống. Hơn nữa, đa số bệnh nhân bị trứng cá đỏ bị làm

nặng hơn bởi ánh sáng, nên sử dụng các thuốc nhạy cảm ánh

sáng cần phải thận trọng. Các kháng sinh đường uống được

sử dụng ngắn ngày để đạt được kiểm soát nhanh các triệu

chứng, nhưng điều trị duy trì lâu dài bằng các thuốc tại chỗ

nên là mục tiêu cuối cùng.

Hiện nay, trong các thuốc điều trị tồn thân chỉ có duy

nhất doxycyclin USP 40mg (chứa 30 mg giải phóng nhanh và

10mg giải phóng chậm) được FDA cơng nhận để điều trị trứng

cá đỏ [22].

Với cơn nóng bừng hoặc ban đỏ mức độ trung bình đến

nặng, việc sử dụng thuốc uống ngắn ngày (2-4 tháng) với

nhóm tetracyclin hoặc isotretinoin có thể có hiệu quả kiểm

soát bệnh ban đầu. Tetracyclines làm giảm nhanh hơn các tổn

thương sẩn đỏ, mụn mủ và ban đỏ khi so sánh với isotretinoin,

và kể từ những năm 1950, trứng cá đỏ đã được sử dụng điều

trị duy trì bằng nhóm Tetracycline (với cả liều kháng khuẩn và

liều dưới kháng khuẩn). Tỷ lệ tái phát khoảng ¼ sau khi

ngừng tetracycline 1 tháng, và hơn ½ tái phát sau 6 tháng kể

từ khi ngừng điều trị. Vì vậy, điều trị duy trì bằng thuốc bơi

được thêm vào. Nhóm tetracyclines đường uống nên tránh ở

phụ nữ có thai và chuẩn bị có thai [3].



32



Ở một nghiên cứu nhỏ, người ta nhận thấy khi sử dụng

isotretinoin (30mg × 2 lần/ ngày trong 10 tuần) để điều trị

làm giảm có ý nghĩa lưu lượng dòng chảy của mạch máu ở da

mặt (đo bằng máy laser – Doppler), trong khi đó sử dụng

tetracycline (250mg 2 lần/ ngày trong 10 tuần) thì khơng có

sự khác biệt. Liều thấp isotretinoin (10-40mg/ ngày hoặc ít

hơn 0,5mg/kg/ngày) cũng đạt được hiệu quả và dung nạp tốt

hơn ở bệnh nhân trứng cá đỏ. Vì isotretinoin đi qua rau thai

nên cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ trong lứa tuổi sinh

đẻ.

Các thuốc khác sử dụng để điều trị trứng cá đỏ bao gồm:

nhóm macrolide, metronidazol, tác nhân kháng androgenic

(thuốc tránh thai, spironolactone, và cyproterone acetate),

chẹn β, cloidine, naloxone, và các chất ức chế tái hấp thu

serotonin chọn lọc. Ở bệnh nhân có tiền sử trứng cá hoặc

overlap giữa trứng cá thông thường và trứng cá đỏ,

spironolactone liều thấp (25-50mg/ ngày) và/ hoặc thuốc

tránh thai tỏ ra có hiệu quả.

Khi Demodex với số lượng lớn làm nặng thêm bệnh, hoặc

ở những trường hợp kháng trị với nhóm cyclin, có thể sử dụng

Ivermectin

thêm vào hoặc sử dụng đơn độc với liều 0,2 mg/kg/lần;

lặp lại hàng tuần hoặc hàng tháng đến khi kiểm soát được

triệu chứng [3].

1.10.3.



Điều trị bằng laser hoặc IPL



Laser mạch máu và Intense pulsed light (IPL) có thể được

sử dụng hỗ trợ với điều trị tại chỗ và đường uống để kiểm soát



33



triệu chứng nhanh hơn và triệt để hơn. Phương pháp này có

thể loại bỏ được các tổn thương giãn mạch, làm giảm hoặc

loại bỏ được tổn thương ban đỏ, giảm số lượng sẩn, mụn mủ

và kéo dài thời gian tái phát. Nhược điểm của phương pháp

này là chi phí điều trị đắt, có các tác dụng phụ như: ban đỏ

thoáng qua, sưng nề, xuất huyết, bọng nước, bỏng rát và có

thể có hiện tượng bong vảy.

Laser mạch máu bao gồm laser màu xung (PDL – 585

nm hoặc 595nm), laser  potassium titanyl phosphate - KTP

532nm, laser diode với bơm tăng gấp đôi tần suất (diode –

pumped frequancy – doubled laser - 532nm). Laser mạch

máu sóng dài có thể tác động đến các mạch máu sâu và lớn.

Những laser này bao gồm: Alexandrite xung dài (755 nm),

Laser



diode



(810



nm),







laser



neodynium:



yitrium



aluminium garnet - Nd: YAG (1064 nm).

Khác với laser – chỉ phát ra một bước sóng nhất định, IPL

phát ra một dải bước sóng rộng, từ 550nm – 1200nm. IPL có

hiệu quả trong điều trị làm giảm giãn mạch và ban đỏ trong

bệnh trứng cá đỏ [3].

1.10.4.



Điều trị một số thể đặc biệt



 Điều trị thể phì đại:

Uống isotretinoin đơn độc hiệu quả trong trường hợp thay

đổi vùng tuyến bã nhẹ hoặc trung bình. Phì đại thể nặng có

thể sử dụng phẫu thuật hoặc kết hợp với isotretinoin.



 Điều trị thể mắt:

Với viêm bờ mi thể nhẹ có thể điều trị tại chỗ bằng các

dung dịch rửa nhẹ hoặc natri sulfacetamide / lưu huỳnh, dùng



34



một



hoặc



hai



lần/



ngày.



Thuốc



mỡ



tra



mắt



Sodium



sulfacetamide 10% cũng có hiệu quả. Khi điều trị tại chỗ đáp

ứng kém, sử dụng nhóm tetracycline uống thường có hiệu

quả.

1.11.



Điều trị bệnh trứng cá đỏ bằng phối hợp



Doxycyclin uống và kem Metronidazol bôi

1.11.1.



Metronidazol tại chỗ



Pye và Burton là những tác giả đầu tiên đã mô tả sử

dụng thành công metronidazol đường uống để điều trị trứng

cá đỏ [23]. Nielsen đã chứng minh hiệu quả của Metronidazol

tại chỗ để điều trị trứng cá đỏ trong những năm 1980. Về sau

có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả điều trị bệnh trứng cá

đỏ bằng Metronidazol tại chỗ.

Cơ chế hoạt động của metronidazol trong trứng cá đỏ

chưa được làm rõ. Hiệu quả của kháng sinh



phổ rộng này



được cho là do tính kháng khuẩn và chống viêm của nó. Trong

nghiên cứu in vitro đã chỉ ra rằng Metronidazol làm giảm sự

giải phóng các phân tử oxygen hoạt hóa – chất gây tổn

thương mô tại vùng bị viêm từ bạch cầu đa nhân trung tính.

Hoạt tính chống oxy hóa này có thể là cơ sở tác dụng chống

viêm trong bệnh trứng cá đỏ [7].

Hai công thức được sử dụng rộng rãi là Metronidazol

0,75% và 1%. Dahl và cộng sự (2001) đã tiến hành nghiên

cứu đa trung tâm so sánh giữa hai nhóm điều trị bằng kem

Metronidazol 0,75% và 1% sử dụng tại chỗ một lần/ngày, tiến

hành trên 72 bệnh nhân trứng cá đỏ mức độ trung bình và



35



nặng. Kết quả cho thấy khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm

sau 12 tuần điều trị về sự giảm số lượng tổn thương, ban đỏ,

mức độ nặng của bệnh theo đánh giá của bác sỹ, mức độ khơ

da và độ an tồn khi sử dụng thuốc [24]. Nghiên cứu này cũng

chỉ ra rằng Metronidazol tại chỗ dung nạp tốt, tác dụng phụ

thường gặp là bề mặt da ghồ ghề và bong vảy (chiếm 2528%), viêm da tiếp xúc, nặng hơn tình trạng trứng cá đỏ (614%). Tuy nhiên, các tác dụng phụ này giảm đi sau khi giảm

lượng thuốc bôi.

Nghiên cứu của Joseph L. Jorizzo và cộng sự (1998) tiến

hành trên 277 bệnh nhân trứng cá đỏ, chia thành bốn

nhóm điều trị: sử dụng Metronidazol 1% bôi một lần/ ngày;

Metronidazol 1% bôi hai lần/ ngày; nhóm giả dược bơi một

lần/ ngày, và nhóm giả dược bôi hai lần/ ngày. Kết quả cho

thấy việc sử dụng Metronidazol 1% bơi tại chỗ có hiệu quả

làm giảm nhanh tổn thương sẩn, mụn mủ và ban đỏ hơn so

với nhóm được dùng giả dược (sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê). Và khi so sánh giữa hai nhóm dùng Metronidazol 1% bơi

tại chỗ một lần/ngày và hai lần/ngày có tác dụng làm giảm

triệu chứng sẩn, mụn mủ khơng có sự khác biệt [25].

Sự thuyên giảm của các tổn thương viêm có thể xảy ra

sau ít nhất 2 - 4 tuần điều trị, nhưng để đạt được hiệu quả tối

đa thường xảy ra sau 8 - 9 tuần điều trị. Sự tái phát có thể xảy

ra sau khi ngừng điều trị, vì vậy điều trị duy trì sau đó cũng

đóng vai trò quan trọng [26].

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, mù đôi, đa trung tâm

của Karl Beutner và cộng sự (2005) đã so sánh điều trị trứng



36



cá đỏ bằng metronidazol 1% dạng kem, metronidazol 1%

dạng gel và giả dược. Kết quả cho thấy, sau 10 tuần điều trị,

số lượng tổn thương viêm giảm 66,7% ở nhóm sử dụng dạng

gel; 58,3% ở nhóm sử dụng dạng kem và 46,2% ở nhóm giả

dược (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,0001). Và sự

khác biệt này bắt đầu có ở tuần thứ 4 và tiếp tục đến khi kết

thúc nghiên cứu. Trong đó các tác dụng phụ tại chỗ giữa 3

nhóm khơng có sự khác biệt [27].

1.11.2.



Doxycylin đường uống



Doxycyclin là thuốc thế hệ thứ hai trong nhóm Cyclin, và

khi so sánh với thế hệ đầu thì Doxycyclin đã cải thiện được tác

dụng sinh học, có thời gian bán thải dài hơn và có thể dùng

cùng với thức ăn hoặc sữa, chính vì thế có tác dụng phụ lên

tiêu hóa ít hơn [28]. Năm 2006, FDA công nhận dùng

Doxycyclin USP 40mg trong điều trị trứng cá đỏ. Tuy nhiên,

hiện tại chế phẩm này chưa có mặt tại Việt Nam. Mặc dù chưa

được FDA công nhận, nhưng sử dụng Doxycyclin với liều

kháng khuẩn 100 – 200 mg/ ngày cũng đã được chứng minh

có hiệu quả và sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh trứng cá

đỏ, đặc biệt là trứng cá đỏ thể sẩn mủ [15].

Các nghiên cứu điều trị bệnh trứng cá đỏ bằng

Doxycyclin đường uống (với liều kháng khuẩn hay dưới kháng

khuẩn) đều cho thấy thuốc dung nạp tốt, các tác dụng phụ

xuất hiện rất ít và thường phục hồi sau khi ngừng thuốc. Trong

đó các tác dụng phụ có thể gặp khi sử dụng liều kháng khuẩn

(100-200mg/ ngày) là [22]:



37



 Hệ thống tiêu hóa: trợt/loét thực quản, ợ hơi, ợ chua,

nơn/buồn nơn.

 Da: nhạy cảm ánh sáng, tổn thương móng da ánh sáng

(photo-onycholysis), ngứa, triệu chứng dị ứng và có thể gặp

các hình thái dị ứng thuốc như: dị ứng thuốc thể phát ban

mụn mủ cấp tính (AGEP), Stevens-Johnson, trứng cá, …

 Hệ thống thần kinh trung ương: tăng áp lực nội sọ, chóng

mặt.

 Hệ thống sinh dục: viêm âm đạo, viêm âm đạo do Candida,

khô âm đạo, viêm âm hộ, ra khí hư màu trắng.

 Hệ hơ hấp: viêm mũi.

 Khác: hạ đường huyết, mất khứu giác, thay đổi vị giác,

giảm tiểu cầu, đau đầu, đổi màu răng, ức chế phát triển

xương tạm thời…

Trong đó tác dụng phụ lên đường tiêu hóa và nhạy cảm ánh

sáng là những tác dụng phụ hay gặp nhất, còn các tác dụng

phụ khác xuất hiện rất ít.

Việc điều trị kết hợp Doxycyclin đường uống với bôi

Metronidazol 1% mang lại nhiều hiệu quả hơn trong điều trị

bệnh, làm giảm nhanh các triệu chứng viêm, các tổn thương

sẩn, mụn mủ, ban đỏ; đồng thời việc dùng Metronidazol 1%

bơi duy trì lâu dài vừa làm giảm tác dụng phụ của thuốc uống,

giảm nguy cơ đề kháng kháng sinh và đặc biệt là làm giảm tỷ

lệ tái phát của bệnh [26].

Các nghiên cứu của Fowler và cộng sự (2007); Jorge

Sanchez và cộng sự (2005) đã so sánh hiệu quả điều trị của



38



sử dụng Doxycyclin đường uống phối hợp với gel metronidazol

bôi (1% và 0,75%) cho thấy sự giảm tổn thương viêm nhanh

hơn ở nhóm điều trị phối hợp. Tổn thương viêm bắt đầu giảm

ở tuần thứ 4 và rõ rệt ở tuần thứ 12 -16 (sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê). Điều trị phối hợp 2 thuốc này cũng được

chứng minh là an toàn, hiệu quả và dễ dung nạp [29-30].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×