Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cỏc acid amin chui nhỏnh c bit l leucin cú vai trũ rt ln i vi chuyn hoỏ glutamate, mt cht dn truyn thn kinh quan trng nóo . Chỡa khoỏ ca chuyn hoỏ acid amin nóo l duy trỡ nng rt thp ca acid glutamic khe synap v cung cp mt lng n nh cỏc tin cht cho quỏ

Cỏc acid amin chui nhỏnh c bit l leucin cú vai trũ rt ln i vi chuyn hoỏ glutamate, mt cht dn truyn thn kinh quan trng nóo . Chỡa khoỏ ca chuyn hoỏ acid amin nóo l duy trỡ nng rt thp ca acid glutamic khe synap v cung cp mt lng n nh cỏc tin cht cho quỏ

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Trong MSUD, do thiếu hụt phức hợp enzyme BCAD làm tích tụ các acid

alpha cetonic làm cho phản ứng transaminase xảy ra theo chiều ngược lại, gây

tiêu thụ một lượng lớn glutamate cũng như aspartate, glutamine và alanine.Sự

thiếu hụt nghiêm trọng của glutamate não, GABA, và aspartate đã được quan

sát thấy ở não bộ của loài bê là loài vật có thiếu hụt tự nhiên phức hợp

enzyme BCKAD và ở hầu hết những trẻ sơ sinh chẩn đoán MSUD tử vong

được giải phẫu tử thi. Qua đó tác động lên những q trình sinh hố quan

trọng phục vụ cho chuyển hoá năng lượng như con thoi malate- aspartate. Hậu

quả là q trình chuyển hố năng lượng của tế bào não bị đình trệ, nhiễm toan

lactat não. Vì vậy, trong một chừng mực nhất định, độc tính này được thuyên

giảm bằng cách bổ sung alanine và các acid amin khác để làm giảm đi sự tiêu

thụ glutamate nội sinh.

Do phức hợp enzyme BCKD có thành phần E3 liên kết với 2 enzyme

pyruvate dehydrogenase và alpha ketoglutarate dehydrogenase nên sự thiếu

hụt hoạt động của 2 enzyme này có thể liên quan đến chẹn con đường

phosphoryl hoá oxy hoá trong chuyển hoá năng lượng tế bào.

Cơ chế gây độc thần kinh trong MSUD còn thứ phát sau nhiều yếu tố kết

hợp và khơng phải tất cả các yếu tố này đều liên quan trực tiếp đến chuyển

hố năng lượng của não. Ví dụ như nồng độ cao của leucin có thẻ ức chế sự

vận chuyển các acid amin và các chất dinh dưỡng khác qua hàng rào máu não.

Các nghiên cứu cho thấy trong bệnh MSUD não bộ bị giảm nguồn cung cấp

các acid amin tryptophan, methionine, tyrosine, phenylalanine, histidine,

valine và threonine. Thiếu acid amin não có hậu quả bất lợi cho sự phát triển

não bộ và tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine, serotonin,

norepinephrine, và histamine.

Mặt khác, nồng độ quá cao leucin có thể tác động đến cơ chế đảm bảo

cân bằng nước và điện giải của tế bào não gây phù não.



15



1.4.4.2. Đối với chuyển hoá ở các mơ khác

Tương tự như với chuyển hố ở não, sự tăng nồng độ của các acid alpha

cetonic của acid amin chuỗi nhánh trong cơ và các mô khác đã làm phản ứng

trao đổi amin xảy ra theo chiều ngược lại gây tiêu thụ các acid amin khác của

mô, gián đoạn q trình chuyển hố năng lượng của tế bào.

1.5. Đặc điểm lâm sàng MSUD

1.5.1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tuỳ thuộc vào thể. Ở thể cổ điển,

các triệu chứng xuất hiên ở giai đoạn sơ sinh trong khoảng ngày thứ 4 đến

ngày thứ 7 tuỳ thuộc vào chế độ ăn. Ở những trẻ được bú mẹ các triệu chứng

có thể xuất hiện muộn ở tuần thứ 2. Các triệu chứng điển hình đầu tiên bao

gồm bỏ bú, nơn, sụt cân và li bì tang dần.

Các thể phi cổ điển các triệu chứng có thể xuất hiện ngoài giai đoạn sơ

sinh và thay đổi. Các biểu hiện lâm sàng của MSUD rất khác nhau giữa các

bệnh nhân, tuy nhiên có 5 kiểu hình lâm sàng có thể được phân biệt dựa trên

tuổi khởi phát bệnh, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và đáp ứng



16



điều trị thiamine. Các kiểu hình lâm sàng bao gồm: thể cổ điển, thể trung

bình, thể từng đợt, thể đáp ứng với thiamine và thể thiếu hụt E3

1.5.2. Các thể lâm sàng

1.5.2.1. Thể cổ điển

Là thể mà hoạt độ enzyme chỉ còn từ 0 – 2%, các triệu chứng xuất hiện từ

rất sớm. Trẻ bú sữa mẹ có thể biểu hiện muộn hơn sau 1 tuần đầu của cuộc sống.

Triệu chứng sớm nhất là mùi khét ngọt trong chất tiết của các tuyến

ngoại tiết như dịch âm đạo, dịch tiết từ ống tai ngoài, ráy tai…ngay sau sinh,

và trong nước tiểu của trẻ trước 5 – 7 ngày tuổi.

Nếu những trẻ này không được điều trị, sẽ xuất hiện các triệu chứng thần

kinh như kích thích, ăn kém trong vòng 48 tiếng sau sinh. Sau đó là các biểu

hiện nặng hơn như li bì, thở khơng đều, các động tác bất thường ở tay chân,

tang hoặc giảm trương lực cơ, co giật xuất hiện lúc 4 – 5 ngày tuổi. Theo sau

đó là tình trạng hơn mê, suy hơ hấp do ức chế thần kinh trung ương.

Sau giai đoạn sơ sinh, các đợt ngộ độc cấp tính leucin và biểu hiện suy

thần kinh có thể tiến triển rất nhanh ở bất kì độ tuổi nào. Đó là các đợt mất bù

chuyển hoá protein do nhiễm trùng, phẫu thuật, chấn thương hoặc các căng

thẳng tâm lý.

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, các đợt mất bù này biểu hiện là buồn nôn, nôn,

ăn kém, thay đổi ý thức, rối loạn vận động, xoắn vặn, các động tác tư thế bất

thường, mất điều hoà động tác.

Ở trẻ lớn hơn và người lớn các dấu hiệu thần kinh do nhiễm độc leucin

cấp tính bao gồm: suy giảm nhận thức, tăng động, rối loạn giấc ngủ, ảo giác,

thay đổi tâm trạng, thất điều.

Khi nồng độ trong huyết tương của leucine acid alphacetonic tăng, các

bệnh nhân bị ức chế thần kinh ngày càng nặng, suy giảm ý thức có thể đi vào

hơn mê.



17



Các đợt mất bù chuyển hố cấp tính của bệnh có liên quan đến nguy cơ

phù não (Levin et al, 1993). Thêm nữa, sự kéo dài mất cân bằng acid amin

não trong những năm đầu của sự phát triển não bộ dẫn đến những bất thường

về cấu trúc và chức năng thần kinh gây hậu quả là những rối loạn về tâm thần

lâu dài.

Các triệu chứng về tâm thần ở những bệnh nhân MSUD:

Về trí thơng minh: chỉ số IQ của những người bệnh MSUD trong độ tuổi

từ 5 – 35 tuổi được điều trị bằng chế độ ăn là 81 ± 19 và ở nhóm được ghép

gan là 90 ± 15 thấp hơn so với trung bình cùng lứa tuổi (Mueller et al, 2013)

Rối loạn cảm xúc: 1 nghiên cứu cho thấy 36 bệnh nhân MSUD có tỉ lệ

gặp các rối loạn trầm cảm, lo âu, giảm chú ý cao hơn so với người bình

thường cùng lứa tuổi (Mueller et al, 2013). Thêm nữa, khi so sánh giữa những

bệnh nhân MSUD nhưng khơng có triệu chứng lâm sàng trong suốt giai đoạn

sơ sinh với những trẻ sơ sinh có bệnh não tại thời điểm chẩn đốn thì khả

năng mắc chứng lo âu trầm cảm sau này ở nhóm có bệnh não thời kì sơ sinh

cao gấp 5 – 10 lần.

Giảm tập trung chú ý và tăng động: tỉ lệ tích luỹ suốt đời về rối loạn tăng

động giảm chú ý là 54 % các bệnh nhân MSUD điều trị bằng liệu pháp dinh

dưỡng, 82 % các bệnh nhân được điều trị bằng ghép gan và khơng có mối liên

quan đến tình trạng bệnh nhân thời điểm được chẩn đoán.

Các rối loạn vận động: trong số 17 bệnh nhân người lớn độ tuổi trung

bình là 27.5 tuổi, có 12 bệnh nhân (chiếm 70.6%) có các rối loạn về vận động

như run cơ, cơn xoắn vặn, tư thế bất thường khi khám lâm sàng (Carecchio et

al, 2011). Parkinson và các tic vận động đơn giản cũng được quan sát thấy

trên những bệnh nhân MSUD. Tuy vậy các khuyết tật vận động ít gặp nếu

bệnh nhân MSUD được điều trị và quản lý thích hợp từ giai đoạn sơ sinh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cỏc acid amin chui nhỏnh c bit l leucin cú vai trũ rt ln i vi chuyn hoỏ glutamate, mt cht dn truyn thn kinh quan trng nóo . Chỡa khoỏ ca chuyn hoỏ acid amin nóo l duy trỡ nng rt thp ca acid glutamic khe synap v cung cp mt lng n nh cỏc tin cht cho quỏ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×