Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Khái quát về cây chè và sản lượng chè Thái Nguyên.

1 Khái quát về cây chè và sản lượng chè Thái Nguyên.

Tải bản đầy đủ - 0trang

thể và đề xuất những chính sách kinh tế ngắn hạn có hiệu quả phục vụ cơng tác điều

hành kinh tế theo mục tiêu của Chính phủ. Tại các nước cơng nghiệp và nhiều nước

đang phát triển, q trình xây dựng các mơ hình đã được thực hiện thường xun từ

nhiều thập kỷ; các mơ hình ngày càng được chuẩn hóa, hình thành nên nhiều mơ hình

chuẩn và được lưu trữ trong máy tính để mỗi khi Chính phủ muốn áp dụng các chính

sách mới thì tiến hành thử nghiệm trên máy, từ đó lựa chọn được những giải pháp tối

ưu để áp dụng trong thực tế, hoặc mỗi khi có những thay đổi trong mơi trường kinh tế

quốc tế thì cũng có thể sử dụng mơ hình để phân tích ảnh hưởng của chúng tới nền

kinh tế và giúp lựa chọn những quyết sách cần thiết.

Như vậy “ dự báo là khoa học nghệ thuật tiên đoán những việc sẽ xảy ra trong

tương lai , trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được”.

1.1.2. Khái niệm về dự báo kinh tế xã hội

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của các ngành khoa học khác nhau, dự báo đã ra

đời và phát triển. Ngày nay, dự báo được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực khoa học

- kỹ thuật, kinh tế - chính trị - xã hội với nhiều loại và phương pháp dự báo khác nhau.

Dự báo kinh tế xã hội là sự phán đốn có căn cứ khoa học về những trạng thái có thể

đạt tới trong tương lai của đối tượng nghiên cứu hoặc về những cách thức và thời hạn

đạt được những mục tiêu và hiệu quả nhất định. Do dự báo chỉ cho chúng ta những

thông tin có thể có trong tương lai nên nó mang một số đặc điểm riêng biệt: Thứ nhất,

để nghiên cứu một hiện tượng kinh tế xã hội, dự báo có nhiều phương pháp khác nhau,

mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm riêng. Thứ hai, dự báo mang tính xác xuất,

nghĩa là nó có một độ tin cậy nhất định và khơng phải lúc nào kết quả dự báo cũng

chính xác. Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm thứ nhất là có nhiều phương pháp khác

nhau cùng nghiên cứu về một hiện tượng nên có những kết quả khác nhau. Thứ ba, dự

báo mang đặc điểm của dãy số tiền sử, tuân theo quy luật biến động của dãy số tiền sử.

Dãy số này có đặc điểm gì và biến động như thế nào thì trong tương lai vẫn có thể biến

động như vậy (thay đổi không đáng kể).

1.1.3. Các nguyên tắc của dự báo kinh tế xã hội

Cơ sở lý luận của dự báo kinh tế - xã hội là lý luận Mác – Lê nin về sự phát

triển xã hội. Nhận thức tính khách quan và khả năng nhận thức các quy luật phát triển

kinh tế - xã hội là nội dung cơ bản của dự báo. Phân tích chất lượng và quy mơ của các



6



hiện tượng kinh tế - xã hội hiện thực, phát hiện những điều kiện khách quan, những

nhân tố và xu hướng phát triển, lý luận tái sản xuất mở rộng có ý nghĩa hàng đầu đối

với dự báo các hiện tượng kinh tế - xã hội. Đề cập đến những yếu tố cơ bản của tái sản

xuất (lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất), tốc độ và các nhân tố tăng trưởng kinh

tế, lý luận tái sản xuất tạo ra cơ sở phương pháp luận để hình thành các nguyên tắc của

dự báo kinh tế - xã hội.

a. Nguyên tắc liên hệ biện chứng

Các hiện tượng kinh tế - xã hội có liên hệ biện chứng với nhau. Những mối liên

hệ đó có thể rất khác nhau: bản chất và khơng bản chất, cố định và tạm thời, trực tiếp

và gián tiếp, tất nhiên và ngẫu nhiên, nguyên nhân và kết quả… Nguyên tắc liên hệ

biện chứng tạo ra công cụ phương pháp luận rất có hiệu quả để giải thích, phân tích

đúng đắn và dự báo các hiện tượng kinh tế - xã hội. Vận dụng nguyên tắc này có nghĩa

là trong phân tích và dự báo khơng thể khơng tính đến những mối liên hệ tồn tại giữa

sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa các ngành, các thành phần

kinh tế, những quan hệ quốc tế và những mối liện hệ khác nữa. Nguyên tắc liên hệ

biện chứng đòi hỏi khi tiến hành dự báo các hiện tượng kinh tế xã hội phải có quan

điểm đồng bộ, nghĩa là phải tính đến mối liên hệ giữa các hiện tượng kinh tế với các

vấn đề về chính trị, pháp luật, dân số và các quan hệ xã hội khác. Nguyên tắc liên hệ

biện chức đòi hỏi phải xem xét mọi hiện tượng kinh tế trong những điều kiện cụ thể có

tính đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các mặt của hiện tượng kinh tế - xã hội. Vận dụng

nguyên tắc liên hệ biện chứng đòi hỏi phải có quan điểm hệ thống trong phân tích hiện

thực kinh tế. Theo quan điểm hệ thống, bất cứ một hiện tượng kinh tế - xã hội nào

cũng là một hệ thống có liên hệ với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác, gồm nhiều

phần tử và phân hệ, trong đó nổi lên các quan hệ chính - phụ, nhân – quả, có tính quyết

định của hệ thống. Các phân hệ không những phục tùng hệ thống, mà còn có tính độc

lập tương đối, có những nhiệm vụ và mục tiêu riêng, phục tùng mục tiêu cuối cùng của

hệ thống.

b. Nguyên tắc tính kế thừa lịch sử

Các hiện tượng và quá trính kinh tế - xã hội vận động và phát triển không

ngừng theo thời gian và không gian từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp. Trạng

thái hiện tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội là kết quả hợp quy luật của sự phát



7



triển trước đó, còn trạng thái tương lai của nó là kết quả hợp quy luật của sự vận động

trong quá khứ và hiện tại. Do đó nghiên cứu đầy đủ và toàn diện sự vận động của các

hiện tượng kinh tế - xã hội trong quá khứ và hiện tại sẽ tạo cơ sở cho việc dự báo và

đánh giá tác động của các xu hướng trong tương lai. Sự nghiên cứu đó khơng chỉ có ý

nghĩa đối với việc phát hiện nguồn gốc của sự phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội, mà còn có ý nghĩa đối với việc dự báo xu hướng phát triển của các hiện tượng

kinh tế - xã hội đó trong tương lai. Chỉ có thể dự báo về tương lai và không rơi vào

không tưởng với điều kiện nghiên cứu sâu sắc hiện tượng kinh tế xã hội trong quá khứ

và hiện tại. Những hiện tượng dù chỉ mới bộc lộ ra dưới hình thức phơi thai trong hiện

tại cũng đã là căn cứ quan trọng để dự báo một cách khoa học các hiện tượng kinh tế xã hội trong tương lai.

c. Nguyên tắc tính đặc thù về bản chất của đối tượng dự báo

Nguyên tắc này đòi hỏi khi dự báo phải tính đến đặc thù về bản chất của đối

tượng dự báo, tính đặc thù của những quy luật phát triển của nó. Nếu vi phạm nguyên

tắc này, đặc biệt là nếu ngoại suy hình thức các hiện tượng kinh tế - xã hội, thì có thể

dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong khi dự báo.

d. Nguyên tắc mô tả tối ưu đối tượng dự báo

Nguyên tắc này đỏi hỏi thông qua phân tích phải mơ tả đối tượng dự báo như

thế nào đó để đảm bảo cho việc xây dựng mơ hình dự báo cho kết quả dự báo có độ tin

cậy cao nhất với chi phí thấp nhất. Nguyên tắc này phải được thực hiện với những yêu

cầu cụ thể: Một là, phải mô tả dự báo với mức độ hình thức hóa tối ưu, nghĩa là phải

sử dụng các mơ hình hình thức kết hợp với các phương pháp mơ tả phi hình thức ở

mức độ đảm bảo giải quyết được nhiệm vụ dự báo với chi phí thấp nhất. Hai là, phải

mô tả đối tượng dự báo bằng một biến số và tham số tối thiểum bảo đảm độ chính xác

của dự báo, đánh giá tầm quan trọng của mỗi biến số khi mô tả và chọn những biến số

quan trọng nhất và có thơng tin đầy đủ nhất phù hợp với nhiệm vụ dự báo. Ba là, phải

chọn thang đo thích hợp cho mỗi chỉ tiêu nhằm đảm bảo thu thập thông tin để dự báo

với chi phí thấp nhất.



8



e. Nguyên tắc tương tự của đối tượng dự báo

Nguyên tắc này đòi hỏi khi tiến hành dự báo phải thường xuyên so sánh những

tính chất của đối tượng dự báo với những đối tượng tương tự đã biết và với các mơ

hình của các đối tượng đó nhằm tìm ra đối tượng tương tự. Từ đó sử dụng mơ hình và

một số yếu tố của mơ hình để phân tích và dự báo. Nguyên tắc này một mặt cho phép

tiết kiệm chi phí dự báo bằng cách sử dụng một phần các mơ hình dự báo đã có sẵn,

mặt khác đảm bảo kiểm tra kết quả dự báo bằng cách so sánh kết quả dự báo đó với dự

báo các đối tượng tương tự.

Có thể nói, những nguyên tắc dự báo trên chỉ có ý nghĩa phương pháp luận.

Trong thực tế khi vận dụng các nguyên tắc này vào phân tích và dự báo các đối tượng

cụ thể là một vấn đề hết sức phức tạp. Tuy nhiên vận dụng càng tốt các nguyên tắc này

thì chất lượng phân tích và dự báo càng cao.

1.1.4. Ý nghĩa và vai trò của phân tích dự báo trong q

trình ra quyết định kinh doanh.

- Ý nghĩa:

+ Dùng để dự báo các mức độ tương lai của hiện tượng , qua đó giúp các nhà

quản trị doanh nghiệp chủ động trong việc đề ra các kế hoạch và các quyết định cần

thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư, quảng bá…

+ Trong doanh nghiệp nếu công tác được dự báo được thực hiện một cách

nghiêm túc còn tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

+ Dự báo chính xác sẽ giảm bớt được rủi ro cho doanh nghiệp nói riêng và nền

kinh tế nói chung.

+ Dự báo chính xác là căn cứ để các nhà hoạch định các chính sách phát triển

kinh tế văn hóa xã hội trong tồn bộ nền kinh tế quốc dân.

+ Nhờ có dự báo các chính sách kinh tế , các kế hoạch và chương trình phát

triển kinh tế được xây dựng có cơ sở khoa học và mang lại hiệu quả cao trong kinh tế.

+ Nhờ có dự báo thường xuyên và kịp thời, các nhà quản trị doanh nghiệp có

khả năng kịp thời đưa ra những biện pháp điều chỉnh các hoạt động kinh tế của đơn vị

mình nhằm thu được hiệu quả kinh tế cao.

- Vai trò.

+ Dự báo tạo ra lợi thế cạnh tranh.



9



+ Công tác dự báo là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của các

doanh nghiệp.

1.2. Phân loại dự báo.

Trong nền kinh tế thị trường, các hiện tượng kinh tế - xã hội không chỉ diễn ra ở

lĩnh vực sản xuất vật chất mà diễn ra ở tất cả các mặt đời sống xã hội. Do vậy để có thể

vận dụng có hiệu quả các phương pháp dự báo trong việc dự báo xu hướng phát triển

của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong tương lai thì phải phân loại dự báo theo các

tiêu thức khác nhau.

1.2.1. Theo độ dài của thời gian dự báo, dự báo bao gồm:

- Dự báo ngắn hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo dưới 3 năm, loại dự

báo này thường dùng để dự báo hoặc lập các kế hoạch kinh tế, văn hoá, xã hội chủ yếu

ở tầm vi mô và vĩ mô trong khoảng thời gian ngắn nhằm phục vụ cho công tác chỉ đạo

kịp thời.

Tầm hạn thời gian của loại dự báo này không quá 1 năm. Mơ hình được sử

dụng để dự báo được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thông tin gắn với các thời kỳ đơn vị

ngắn hơn (tuần, tháng, quý). Dự báo ngắn hạn trước hết phục vụ cho công tác chỉ đạo

tác nghiệp. Do vậy, chúng phục vụ cho việc phân biệt tức thời các quá trình kinh tế và

cho việc thực hiện các quyết định thông qua người sử dụng chúng. Việc tiến hành dự

báo ngắn hạn thườngđược tiến hành thường xuyên, do vậy tạo ra một nguồn thông tin

dồi dào. Đây là cơ sở để đối chứng giữa kết quả dự báo với thực tế diễn ra của đối

tượng cần được dự báo. So sánh thường xuyên hơn hai nguồn thơng tin này cho phép

có cơ hội hoàn thiện phương pháp dự báo.

- Dự báo trung hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 3 đến 5 năm.

Thường phục vụ cho việc xây dựng những kế hoạch trung hạn về kinh tế văn hoá xã

hội… ở tầm vi mô và vĩ mô. Loại dự báo này có các đặc điểm chung là thường sử

dụng mơ hình dự báo nhân quả nhiều hơn so với dự báo ngắn hạn, tần số dự báo ít hơn

so với dự báo ngắn hạn và so với dự báo dài hạn thì thường ít sử dụng mơ hình nhân

quả hơn và số lần đưa ra kết quả dự báo thì nhiều hơn.

- Dự báo dài hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 5 năm trở lên.

Thường dùng để dự báo những mục tiêu, chiến lược về kinh tế chính trị, khoa học kỹ

thuật trong thời gian dài ở tầm vĩ mô. Đặc trưng của loại dự báo này là tần số dự báo



10



dài hạn nói chung là thấp, nhưng tính đồng bộ ở dự báo dài hạn cao hơn hẳn so với ở

dự báo ngắn hạn và dự báo trung hạn. Kết quả dự báo dài hạn có đặc trưng chiến lược,

cho nên việc đưa ra liên tiếp kết quả dự báo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

1.2.2. Căn cứ vào nội dung (đối tượng dự báo), có thể chia dự báo thành: dự báo

khoa học, dự báo kinh tế, dự báo xã hội...

- Dự báo khoa học: Là dự kiến, tiên đoán về những sự kiện, hiện tượng, trạng

thái nào đó có thể hay nhất định sẽ xảy ra trong tương lai. Theo nghĩa hẹp hơn, đó là

sự nghiên cứu khoa học về những triển vọng của một hiện tượng nào đó, chủ yếu là

những đánh giá số lượng và chỉ ra khoảng thời gian mà trong đó hiện tượng có thể

diễn ra những biến đổi. - Dự báo kinh tế: Là khoa học dự báo các hiện tượng kinh tế

trong tương lai. Dự báo kinh tế được coi là giai đoạn trước của công tác xây dựng

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và dự án kế hoạch dài hạn; không đặt ra những

nhiệm vụ cụ thể, nhưng chứa đựng những nội dung cần thiết làm căn cứ để xây dựng

những nhiệm vụ đó. Dự báo kinh tế bao trùm sự phát triển kinh tế và xã hội của đất

nước có tính đến sự phát triển của tình hình thế giới và các quan hệ quốc tế. Thường

được thực hiện chủ yếu theo những hướng sau: dân số, nguồn lao động, việc sử dụng

và tái sản xuất chúng, năng suất lao động; tái sản xuất xã hội trước hết là vốn sản xuất

cố định: sự phát triển của cách mạng khoa học – kĩ thuật và công nghệ và khả năng

ứng dụng vào kinh tế; mức sống của nhân dân, sự hình thành các nhu cầu phi sản xuất,

động thái và cơ cấu tiêu dung, thu nhập của nhân dân; động thái kinh tế quốc dân và sự

chuyển dịch cơ cấu (nhịp độ, tỉ lệ, hiệu quả); sự phát triển các khu vực và ngành kinh

tế (khối lượng động thái, cơ cấu, trình độ kỹ thuật, bộ máy, các mối liên hệ ngành);

phân vùng sản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên và phát triển các vùng kinh tế

trong nước, các mối liên hệ liên vùng; dự báo sự phát triển kinh tế của thế giới kinh tế.

Các kết quả dự báo kinh tế cho phép hiểu rõ đặc điểm của các điều kiện kinh tế - xã

hội để đặt chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn, xây dựng các chương trình, kế hoạch

phát triển một cách chủ động, đạt hiệu quả cao và vững chắc.

- Dự báo xã hội: Dự báo xã hội là khoa học nghiên cứu những triển vọng cụ thể

của một hiện tượng, một sự biến đổi, một qúa trình xã hội, để đưa ra dự báo hay dự

đốn về tình hình diễn biến, phát triển của một xã hội.

.



11



1.3. Tiêu chuẩn lựa chọn phương pháp dự báo.

Để dự báo một hiện tượng nào đó trong tương lai, có 5 tiêu chuẩn để lựa chọn

phương pháp dự báo thích hợp. Đó là:

- Độ chính xác của dự báo: độ chính xác của dự báo được đo bằng thước đo thống

kê. Độ chính xác của dự báo đề cập đến độ chênh lệch của dự báo với số liệu thực tế. Bởi vì

dự báo được hình thành trước khi số liệu thực tế xảy ra, vì vậy tính chính xác của dự báo chỉ

có thể đánh giá sau khi thời gian đã qua đi. Nếu dự báo càng gần với số liệu thực tế, ta nói

dự báo có độ chính xác cao và lỗi trong dự báo càng thấp.

- Chi phí dự báo: bao gồm các chi phí soạn thảo phần mềm và chi phí để tính

tốn dữ liệu.

- Tính tổng hợp và tính khả dụng của phương pháp: tính tổng hợp của phương

pháp dự báo là một tiêu chuẩn không chỉ được xem xét về phương diện chi phí. Chi

phí cho một phương pháp dự báo càng cao thì những người khơng có khả năng chun

mơn càng ít có khả năng kiểm định các kết quả dự báo cũng như sử dụng các kế quả

đó để ra quyết định. Do vậy sẽ là tốt hơn khi chọn một phương pháp ít phức tạp hơn và

do đó chấp nhận một độ chính xác thấp hơn để có thể giảm được mâu thuẫn mà người

có quyền ra quyết định phải gặp trước các phương pháp lượng hóa.

- Thời gian dự báo (tầm xa dự báo): không nên dài quá 1/3 dãy số dùng để dự báo.

- Cơ sở dữ liệu để dự báo:

+ Các số liệu hoặc các đánh giá của chuyên gia.

+ Một dãy số thời gian về hiện tượng cần dự báo: dãy số thời gian phải chính

xác, phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được giữa các mức độ trong dãy số, phải

phản ánh được quy luật biến động của hiện tượng.

+ Độ dài của dãy thời gian: độ dài của dãy số thời gian dung để dự báo cần phải

hợp lý và tuy thuộc vào đặc điểm của dãy số. Nếu một dãy số thời gian có quá nhiều

mức độ được sử dụng, mơ hình dự báo sẽ khơng phản ánh được đầy đủ sự thay đổi của

các nhân tố mới đến biến động của hiện tượng. Ngược lại, nếu chỉ sử dụng một số rất

ít các mức độ ở những thời gian cuối trong dãy số thì chưa phản ánh được quy luật

biến động trong thời gian dài.

+ Hình dạng của dãy số thời gian (xu thế, dao động thời vụ)



12



Ba tiêu chuẩn đầu (độ chính xác, chi phí, tính tổng hợp và tính khả dụng của

phương pháp dự báo) phụ thuộc lẫn nhau. Rõ rang là chi phí dự báo tăng len nếu tính

vạn năng của phương p háp cũng như độ chính xác của dự báo sẽ được nâng cao nếu

sử dụng các phương pháp dự báo phức tạp hơn. Tuy nhiên chọn phương pháp dự báo

thích hợp, cần thấy rằng chi phí bổ sung cao cho phương pháp dự báo phức tạp chưa

chắc bù lại bằng độ chính xác dự báo cao hơn. Điều này phụ thuộc một phần vào ý

nghĩa của dự báo đối với việc ra quyết định và một phần vào trình độ của người sử

dụng kết quả dự báo để ra quyết định.

Khi tiêu chuẩn độ chính xác, chi phí, tính tổng hợp và tính khả dụng của

phương pháp khơng đóng góp một vai trò nổi bật đối với một vấn đề dự báo cụ thể thì

tiêu chuẩn thời gian dự báo và cơ sở dữ liệu của dự báo sẽ có ý nghĩa quyết định đối

với việc lựa chọn phương pháp dự báo.

1.4. Ngơn ngữ lập trình

Tính trên phần mềm Microsoft Excel:

Có 2 cách thực hiện trên Excel:

Cách 1: dùng hàm Fx: Paste function

Tìm trị số b (slope), sử dụng lệnh: Insert / Fx / Statistical (select a category:

chọn loại hàm) / slope (select a function: lựa chọn tên hàm) / OK / quét đánh dấu

khối cột dữ liệu Y và cột dữ liệu X / OK.

Tìm trị số a (intercept), sử dụng lệnh giống như tìm trị số a, chỉ thay đổi

bằng tên hàng Slope bằng tên hàm Intercept (function name)

Tìm trị số R (correlation), dùng lệnh: Insert / Fx / Statistical (select a

category: lựa chọn loại hàm) / Correl (select a function: lựa chọn tên hàm) / OK /

quét đánh dấu khối cột dữ liệu X và cột dữ liệu Y / OK.

Cách 2: Dùng Regression (thường dùng để chạy hồi quy đa biến) Khi thao

tác trên Microsoft Excel, ta sử dụng lệnh: Tools / Data Analysis / Regression / OK.

Trong phần Input (nhập đầu vào):

Nhập dữ liệu Y vào ô: Input Y Range;

Nhập dữ liệu X vào ô: Input X Range;

Trong phần Output options (vị trí đầu ra) có 2 lựa chọn:

Chọn sheet mới: dùng New worksheet ply;

Chọn sheet hiện hành: dùng Output Range.



13



Chương 2.

KHẢO SÁT VÀ ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỒI QUY ĐƠN

ĐỂ DỰ BÁO VỀ SẢN LƯỢNG CHÈ

2.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển công ty.

2.1.1. Thực trạng công ty TNHH Tân Cương-Thái Nguyên.

Công ty TNHH Tân Cương-Thái Nguyên.

Sản xuất- Phân phối đặc sản chè chính hiệu Tân Cương.

Nhà máy sản xuất : xã Tân Cương- TP. Thái Nguyên.

ĐT: 0280 370 8998. Fax: 0280 370 8998.

ĐKCL: 53/2009/CBTC-YTTNg.

GCNVSATTP: 138/2013/GCN/SNN-CCQLCL.

 Quá trình hình thành và phát triển.







Tân Cương nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 10km về phía Tây.

Tập trung chủ yếu ở 3 xã là Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân với tổng diện tích chè

năm 2013 là hơn 1300ha chè sạch. Khơng chỉ nổi tiếng với sản phẩm chè xanh thơm

ngon hảo hạng mà cảnh vật và con người nơi đây cũng khiến nhiều người say lòng.

Với lợi thế nằm gần khu du lịch hồ Núi Cốc hàng năm có hàng trăm ngàn lượt du

khách ghé thăm nơi đây.







Địa hình địa vật của vùng chè Tân Cương chủ yếu là đồi dạng bát up, chất đất màu

mỡ, khí hậu trong lành, nhiệt độ quanh năm mát mẻ tất cả như đã được thiên nhiên sắp

xếp và ban tặng cho vùng đất này để tạo nên một thứ đặc sản chè Thái Nguyên làm say

đắm lòng người.







Nhà máy chè Tân Cương Thái Cương là đơn vị thành viên thuộc Công ty TNHH Tân

Cương Xanh. Công Ty chuyên sản xuất các sản phẩm chè mang thương hiệu Tân

Cương nổi tiếng.







Nhà máy chè với đội ngũ kỹ sư có chun mơn cao và các cơng nhân lành nghề có

nhiều kinh nghiệm trong sảm suất. chè biến chè đã tạo ra những sản phẩm chè có chất

lượng cao, sạch, an toàn.



14



2.1.1. Đặc điểm kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty

- Ngành nghề kinh doanh:

+ sản xuất và chế biến chè.

+ Sản xuất bao bì giấy, nhựa làm túi đựng trà ,nguyên phụ liệu trà.

+ Đào tạo nghề gia công chè.

- Tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh:

Chủ Tịch HĐQT



Tổng Giám Đốc



Giám Đốc Chi Nhánh



Phòng kế tốn



Phòng kinh doanh



Phòng thiết kế



Phòng marketing



Phòng quản lý



Hình 2.1. Sơ đồ kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy quản lý

-



Tổng giám đốc của công ty: Là người đứng đầu công ty, điều hành mọi hoạt động của

công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật, công ty và tập thể lao động.



-



Giám đốc chi nhánh: là người đứng đầu chi nhánh, điều hành mọi hoat động của chi nhánh và chịu trách

nhiệm trước pháp luật, chi nhánh công ty và tập thể lao động



15



-



Cơng ty có phó giám đốc giúp đỡ việc quản trị, điều hành, giám sát mọi hoạt động

kinh doanh của cơng ty.



-



Phòng kế tốn: Có nhiệm vụ hạch toán kế toán, đánh giá các hoạt động kinh doanh đối

với các nhà cung cấp nhằm đạt được mục tiêu có nguồn hàng ổn định, chất lượng tốt,

đồng thời tối thiểu hóa chi phí.



-



Phòng kinh doanh: Trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động tiếp thị, tìm kiếm

khách hàng và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu về

doanh số, thị phần.



-



Phòng quản lý: Có nhiệm vụ quản lý tồn bộ nhân lực của cơng ty, tham mưu cho

giám đốc về sắp xếp, bố trí nhân lực hợp lý.



-



Phòng phân tích thiết kế: Có nhiệm vụ phân tích số liệu, xây dựng các kế hoạch và

thiết kế các dự án, ước lượng cầu từng mặt hàng cụ thể của công ty trong dài hạn và

ngắn hạn.



-



Phòng maketing: Quảng bá, giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng.

Đứng đầu công ty là hội đồng quản trị, sau đó đến tổng giám đốc trực tiếp phân

quyền cho phó tổng giám đốc và các phòng ban.

Cơng ty có cách bố trí các phòng ban riêng biệt có ưu điểm là tạo nên tính độc

lập giữa các phòng ban, hạn chế những tác động gây cản trở do mỗi phòng ban có

những chức năng nhiệt vụ riêng biệt, cơng việc của từng người riêng biệt khác nhau.

2.2. Phương pháp hồi quy tuyến tính

+ Mơ hình hồi quy tuyến tính.

Nhiệm vụ đầu tiên của phân tích hồi quy tương quan là xây dựng mơ hình hồi

quy và xác địnhtính chất cũng như hình thức của mối liên hệ.

Mơ hình dự đốn theo phương trình hồi quy:

Trong đó:

t : Trị số của tiêu thức gây ảnh hưởng (nguyên nhân) (biến độc lập).

: Trị số điều chỉnh của tiêu thức chịu ảnh hưởng (kết quả) (biến phụ thuộc)

theo quan hệ với t.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Khái quát về cây chè và sản lượng chè Thái Nguyên.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×