Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Nồng độ tính theo khối lượng và theo thể tích

6 Nồng độ tính theo khối lượng và theo thể tích

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nồng độ rắn theo phần thể tích (C )được chứng minh bằng

hình 3.1 và đơn giản thể tích của rắn hiện diện được chia

cho tổng thể tích đệm. Nó là số bằng thể tích trừ đi độ xốp.

Trong phần lớn các chương sau, thuận lợi cho làm việc

trong điều kiên nồng độ chất rắn hơn độ xốp. Tuy nhiên,

phòng thí nghiệm phân tích thường cung cấp nồng độ rắn

theo khối lượng. Ví dụ, lấy 1 mẫu qua bánh lọc nước: cân,

làm khơ và cân bánh khơ đó sẽ có nồng độ khối lượng theo

khối lượng, làm khô và khối lượng. Nếu khối lượng cuối

cùng được chia ra ở lần đầu thì phải chuyển đổi giữa 2 loại

nồng độ khác nhau là bắt buộc.



Xem xét nồng độ rắn theo phần thể tích:



Nếu 1 mẫu có nồng độ theo khối lượng (C w), và tổng khối

lượng mẫu là M, sau đó thể tích có thể được suy ra nếu tỷ

trọng của rắn và lỏng là:

(3.15)

Chia theo thể tích của rắn:

(3.16)

Một tranh luận tương tự có thể áp dụng để chuyển đổi từ

nồng độ phần thể tích sang phần khối lượng.



3.7 Tổng kết



Trong chương này, chúng ta thấy được tầm quan trọng của

bề mặt riêng: nó xác định diện tích bề mặt hiện diện trong

mơi trường xốp, và ma sát của dòng lỏng chảy qua gây ra

sự giảm áp suất. Hạt càng mịn có diện tích bề mặt trên

mỗi đơn vị thể tích càng lớn hơn những hạt thơ. Do đó, trở

kháng cũng lớn hơn. Dòng lỏng chảy rối trong đệm, tại tốc

độ dòng cao hơn, gây ra thêm trở kháng, hoặc áp suất

giảm. Vì vậy,độ giảm áp suất được tính bởi phương trình

chảy tầng, định luật Darcy hoặc Kozeny-Carman, will ln

đánh giá thấp hơn độ giảm áp suất thực nếu là chảy rối.

Thường sử dụng Kozeny- Carman,hơn là quy trình được

mơ tả trong phần 3.4 và 3.5, rất lớn thậm chí khi chuẩn số

Modified Reynolds cao. Điều này dẫn đến một thiết kế ,

hoặc đặc điểm kỹ thuật, các thiết bị cũng như bơm, quạt.

Một vài ví dụ cụ thể bị lỗi kỹ thuật sẽ được đưa ra thảo

luận sau.



Ngay cả dưới điều kiện chảy tầng, sủ dụng đường kisnwh

trung bình để đại diện cho phân bố kích thước hạt rắn hơn

là đường kính mean Sauter có thể gây ra nhiều lỗi sai,

được chỉ ra trong phần 3.3. Cuối cùng, xem xét vắn tắt về

sự sắp xếp hạt được đưa ra, nhưng đa số sự sắp xếp này

là ngẫu nhiên và không theo trật tự. Do đó, quy trình an

tồn nhất cho phân tích dòng lỏng chảy trong mơi trường

xốp là để thực hiện các thực nghiệm để suy ra các đặc tính

như là tính thấm và nếu nó thay đổi theo dòng chảy; có thể

nếu các hạt nhỏ mịn được vận chuyển trong đệm hay là

nếu rắn lơ lửng trong dòng lỏng lắng bên trong đệm. Lọc

sâu sẽ được nói ở chương kế tiếp.



Phương trình tổng quát

Chảy tầng:



Với K là hằng số Kozeny

Tại giá trị chuẩn số 'Modified Reynolds Number‘ cao (Re1>2):



Gắn liền với điều kiện chảy rối. Độ giảm áp suất đưa ra tốc độ dòng có

thể vẫn được suy ra, nhưng đầu tiên chuẩn số Modified Reynolds là

bắt buộc, sau đó hệ số ma sát được dùng để tính tương quan Carman



Một lực cân bằng trên bề mặt của rắn và trên dòng lỏng

đưa ra:

RSvLA(1-ε)=∆Paε

với L là chiều cao hoặc độ sâu của đệm. Với một giá trị

ứng suất cắt trên vật rắn (R ) được tính tốn từ tương

quan Carman, sau đó độ giảm áp suất có thể được tính từ

lực cân bằng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Nồng độ tính theo khối lượng và theo thể tích

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×