Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Tải bản đầy đủ - 0trang

- PTKD giúp DN nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những



hạn chế trong DN của mình. Chính trên cơ sở này các DN sẽ xác định đúng đắn mục

tiêu và chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

- PTKD là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để đề ra các



quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong các chức năng kiểm tra,

đánh giá và điều hành hoạt động SXKD trong DN.

- Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và



ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra.

- Tài liệu PTKD còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngồi, khi họ có các



mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với DN, vì thơng qua phân tích họ mới có thể có

quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay...đối với DN nữa hay không?

1.1.3. Ðối tượng

Với tư cách là một khoa học độc lập, PTKD có đối tượng riêng:

“Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của hoạt

động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến q trình và kết

quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế”

Kết quả kinh doanh mà ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai đoạn riêng

biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng... hay có thể là kết quả

tổng hợp của q trình kinh doanh, kết quả tài chính...v.v

Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta hướng vào kết quả thực hiện các

định hướng mục tiêu kế hoạch, phương án đặt ra.

Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế. Chỉ

tiêu là sự xác định về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh. Nội dung chủ

yếu của phân tích kết quả là phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà DN đã đạt

được trong kỳ, như doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất, giá thành, lợi nhuận...Tuy

nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh chúng ta phải luôn luôn đặt trong

mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh doanh như lao động, vật tư,

tiền vốn, diện tích đất đai...vv. Ngược lại, chỉ tiêu chất lượng phản ánh lên hiệu quả

kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như giá thành, tỷ suất chi

phí, doanh lợi, năng suất lao động...vv.



6



Dựa vào mục đích phân tích mà chúng ta cần sử dụng các loại chỉ tiêu khác

nhau, cụ thể: Chỉ tiêu số tuyệt đối, chỉ tiêu số tương đối, chỉ tiêu bình quân. Chỉ tiêu số

tuyệt đối dùng để đánh giá quy mô kết quả kinh doanh hay điều kiện kinh doanh. Chỉ

tiêu số tương đối dùng trong phân tích các mối quan hệ giữa các bộ phận, các quan hệ

kết cấu, quan hệ tỷ lệ và xu hướng phát triển. Chỉ tiêu bình quân phản ánh trình độ phổ

biến của các hiện tượng.

Tuỳ mục đích, nội dung và đối tượng phân tích để có thể sử dụng các chỉ tiêu

hiện vật, giá trị, hay chỉ tiêu thời gian. Ngày nay, trong kinh tế thị trường các DN

thường dùng chỉ tiêu giá trị. Tuy nhiên, các DN sản xuất, DN chuyên kinh doanh một

hoặc một số mặt hàng có quy mô lớn vẫn sử dụng kết hợp chỉ tiêu hiện vật bên cạnh

chỉ tiêu giá trị. Trong phân tích cũng cần phân biệt chỉ tiêu và trị số chỉ tiêu. Chỉ tiêu

có nội dung kinh tế tương đối ổn định, còn trị số chỉ tiêu ln ln thay đổi theo thời

gian và địa điểm cụ thể.

Phân tích kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh

thơng các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả

kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đó. Một cách chung nhất, nhân tố là những yếu tố

bên trong của mỗi hiện tượng, quá trình...và mỗi biến động của nó tác động trực tiếp

hoặc gián tiếp ở một mức độ và xu hướng xác định đến các kết quả biểu hiện các chỉ

tiêu.

Ví dụ: Doanh thu bán hàng phụ thuộc vào lượng bán hàng ra, giá cả bán ra và

cơ cấu tiêu thụ. Ðến lượt mình, khối lượng hàng hoá bán ra, giá cả hàng hoá bán ra,

kết cấu hàng hoá bán ra lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như khách quan,

chủ quan, bên trong, bên ngoài...vv.

Theo mức độ tác động của các nhân tố, chúng ta có thể phân loại các nguyên

nhân và nhân tố ảnh hưởng thành nhiều loại khác nhau, trên các góc độ khác nhau.

- Trước hết theo tính tất yếu của các nhân tố: có thể phân thành 2 loại: Nhân tố



khách quan và nhân tố chủ quan.

Nhân tố khách quan là loại nhân tố thường phát sinh và tác động như một u

cầu tất yếu nó khơng phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Kết quả

hoạt động của mỗi DN có thể chịu tác động bởi các nguyên nhân và nhân tố khách

quan như sự phất triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp, các chế độ chính sách



7



kinh tế xã hội của Nhà nước, mơi trường, vị trí kinh tế xã hội, về tiến bộ khoa học kỹ

thuật và ứng dụng. Các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá, giá cả chi phí, giá cả dịch

vụ thay đổi, thuế suất, lãi suất, tỷ suất tiền lương...cũng thay đổi theo.

Nhân tố chủ quan là nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu phụ thuộc vào nỗ

lực chủ quan của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tố như: trình độ sử dụng lao

động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố khách quan của DN làm ảnh hưởng

đến giá thành, mức chi phí thời gian lao động, lượng hàng hố, cơ cấu hàng hố...vv.

- Theo tính chất của các nhân tố có thể chia ra thành nhóm nhân tố số lượng và



nhóm các nhân tố chất lượng.

Nhân tố số lượng phản ánh quy mô kinh doanh như: Số lượng lao động, vật tư,

lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ... Ngược lại, nhân tố chất lượng thường phản ánh

hiệu suất kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chi phí, năng suất lao động...Phân tích kết

quả kinh doanh theo các nhân tố số lượng và chất lượng vừa giúp ích cho việc đánh

giá chất lượng, phương hướng kinh doanh, vừa giúp cho việc xác định trình tự

sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính tốn mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến

kết quả kinh doanh.

- Theo xu hướng tác động của nhân tố, thưòng người ta chia ra các nhóm nhân



tố tích cực và nhóm nhân tố tiêu cực.

Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động tốt hay làm tăng độ lớn của hiệu quả

kinh doanh và ngược lại nhân tố tiêu cực tác động xấu hay làm giảm quy mô của kết

quả kinh doanh. Trong phân tích cần xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng tổng

hợp của các nhân tố tích cực và tiêu cực.

Nhân tố có nhiều loại như đã nêu ở trên, nhưng nếu quy về nội dung kinh tế thì

có hai loại: Nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh và nhân tố thuộc về kết quả kinh

doanh. Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh như: Số lượng lao động, lượng

hàng hoá, vật tư, tiền vốn...ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô kinh doanh. Các nhân tố

thuộc về kết quả kinh doanh ảnh hưởng suốt quá trình kinh doanh từ khâu cung ứng

vật tư đến việc tổ chức quá trình sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm và từ đó ảnh

hưởng đến kết quả tổng hợp của kinh doanh như nhân tố giá cả hàng hố, chi phí, khối

lượng hàng hố sản xuất và tiêu thụ.

Như vậy, tính phức tạp và đa dạng của nội dung phân tích được biểu hiện qua



8



hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đánh giá kết quả kinh doanh. Việc xây dựng tương đối

hoàn chỉnh hệ thống các chỉ tiêu với cách phân biệt hệ thống chỉ tiêu khác nhau, việc

phân loại các nhân tố ảnh hưởng theo các góc độ khác nhau khơng những giúp cho DN

đánh giá một cách đầy đủ kết quả kinh doanh, sự nỗ lực của bản thân DN, mà còn tìm

ra được nguyên nhân, các mặt mạnh, mặt yếu để có biện pháp khắc phục nhằm nâng

cao hiệu quả kinh doanh.

Khi phân tích kết quả kinh doanh biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế dưới sự tác

động của các nhân tố mới chỉ là q trình “định tính”, cần phải lượng hoá các chỉ tiêu

và nhân tố ở những trị số xác định với độ biến động xác định. Ðể thực hiện được cơng

việc cụ thể đó, cần nghiên cứu khái quát các phương pháp trong phân tích kinh doanh.

1.1.4. Các phương pháp phân tích kinh doanh

 Phương pháp so sánh

So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong PTKD. Sử dụng

phương pháp so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế

đã được lượng hố có cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác định xu hướng

và mức độ biến động của các chỉ tiêu đó. Nó cho phép chúng ta tổng hợp được những

nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng kinh tế đưa ra so sánh,

trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay các mặt kém phát triển, hiệu quả

hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp nhằm quản lý tối ưu trong mỗi trường hợp cụ

thể. Vì vậy, để tiến hành so sánh cần phải thực hiện những vấn đề cơ bản sau đây:

 Phương pháp loại trừ

Trong phân tích kinh doanh, để có cơ sở đánh giá, nhận xét đúng thì vấn đề

quan trọng và rất được quan tâm nghiên cứu là các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng

và lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh.

Phương pháp thường được sử dụng để lượng hoá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố là

phương pháp loại trừ.

 Phương pháp số chênh lệch

Phương pháp số chênh lệch là trường hợp đặt biệt Phương pháp liên hệ cân đối

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN hình thành nhiều mối liên hệ cân đối.

Cân đối là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt, giữa các yếu tố của q trình KD. Ví dụ như

giữa TS và nguồn vốn KD, giữa các nguồn thu và chi, giữa nhu cầu sử dụng vốn và khả

9



năng thanh toán, giữa nguồn huy động và sử dụng vật tư trong SXKD.

Phương pháp liên hệ cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập và xây

dựng kế hoạch và ngay cả trong cơng tác hạch tốn để nghiên cứu các mối liên hệ về

lượng của các yếu tố và quá trình kinh doanh. của phương pháp thay thế liên hồn, nó

tơn trọng đầy đủ các bước tiến hành như phương pháp thay thế liên hồn. Nó khác ở

chỗ sử dụng chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của từng nhân tố để xác định ảnh

hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích:

+ Ảnh hưởng của nhân tố a:



= (a1-a0) .b0.c0



+ Ảnh hưởng của nhân tố b:



= a1.(b1 -b0) .c0



+ Ảnh hưởng của nhân tố c:



= a1.b1.(c1-c0)



 Phương pháp liên hệ trực tuyến

Là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích, chẳng hạn

doanh thu có quan hệ cùng chiều với lượng hàng bán ra và giá bán ra, lợi nhuận có

quan hệ cùng chiều với giá thành, với tiền thuế... Trong mối liên hệ trực tiếp này, theo

mức phụ thuộc giữa các chỉ tiêu có thể phân thành hai loại quan hệ chủ yếu:

+ Liên hệ trực tiếp: Giữa các chỉ tiêu như giữa lợi nhuận với giá thành...Trong

những trường hợp này, các mối liên hệ không qua một chỉ tiêu liên quan nào: Giá bán

tăng (hoặc giá thành giảm) sẽ làm lợi nhuận tăng...

+ Liên hệ gián tiếp: Là quan hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ phụ thuộc

giữa chúng được xác định bằng một hệ số riêng. Trong trường hợp cần thống kê số liệu

nhiều lần để đảm bảo tính chính xác của mối liên hệ thì hệ số này được xác định theo

cơng thức chung của hệ số tương quan.

 Phương pháp chi tiết

Phương pháp chi tiết được thực hiện theo những hướng sau:

a) Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu



Chi tiết chỉ tiêu theo các bộ phận cấu thành cùng với sự biểu hiện về lượng của

các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được.

Do đó phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thành được sử dụng rộng rãi trong phân

tích mọi mặt về kết qủa sản xuất kinh doanh.

a) Chi tiết theo thời gian



Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×