Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.2. Các bước tiến hành phân tích tài chính

• Thu thập thơng tin

Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thơng tin có khả năng lý giải và thuyết minh

thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho q trình dự đốn tài chính. Nó

bao gồm cả những thơng tin nội bộ đến những thơng tin bên ngồi, những thơng tin kế tốn

và những thơng tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị...trong đó các

thơng tin kế tốn phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, là những

nguồn thơng tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích

các báo cáo tài chính doanh nghiệp.

• Xử lý thơng tin

Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là q trình xử lý thông tin đã thu thập

được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thơng tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng

khác nhau, có phương pháp xử lý thơng tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt

ra : Xử lý thơng tin là q trình xắp xếp các thơng tin theo những mục tiêu nhất định nhằm

tính tốn, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định ngun nhân của các kết quả đã đạt được

phục vụ cho q trình dự đốn và quyết định.

• Dự đốn và quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để

người sử dụng thơng tin dự đốn nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính. Có thể nói

mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính. Đối với chủ doanh

nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra những quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt

động của

doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị

doanh nghiệp.

• Trình tự phân tích tài chính

Trình tự tiến hành phân tích tài chính tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứng

với từng giai đoạn dự đốn tài chính theo sơ đồ sau :



1.1.3. Các phương pháp phân tích tài chính

Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng

tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hình

biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính

với nhau.

Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp:

phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính.

Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả

về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn phân

tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các

chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau để rút ra kết

luận.

Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:

• Phương pháp so sánh.

Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếu

trong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉ

tiêu phân tích.

Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc vào mục

đích và yêu cầu của việc phân tích



+ So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc định mức. Đây

là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, định

mức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch được đề ra.

+ So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm cho thấy sự

biến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của doanh

nghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh.

+ So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất kinh doanh

khác nhau của doanh nghiệp.

Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh

được của các chỉ tiêu:

+ Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng.

+ Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng.

+ Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội dung, cơ cấu

của các chỉ tiêu.

+ Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu này bằng

những đơn vị tính đổi nhất định.

+ Khi khơng so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánh bằng các

chỉ tiêu tương đơí. Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trường hợp, việc so sánh

các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc không mang một ý nghĩa kinh tế

nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối thì hồn tồn cho phép và phản

ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu.

Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và số tương đối.

Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triển

không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác, số bình

qn đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu...Số bình quân có thể biểu thị

dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷ suất). Khi so sánh bằng số bình

quân sẽ thấy mức độ đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành, xây

dựng các định mức kinh tế kỹ thuật.



Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiện tượng kinh

tế. Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tính tốn

xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường.

Sử dụng số tương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu của

hiện tượng kinh tế, đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu khơng giống nhau để phân tích so

sánh. Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được thực chất bên trong cũng như quy

mơ của hiện kinh tế. Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi so sánh cần kết hợp đồng thời

cả số tuyệt đối và số tương đối.

• Phương pháp loại trừ.

Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnh

hưởng của từng nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích. Khi phân tích, để nghiên cứu ảnh

hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác.

Trong thực tế phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích kinh tế dưới 2

dạng là: phương pháp thay thế liên hồn và phương pháp số chênh lệch.

• Phương pháp thay thế liên hoàn.

Là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần lượt

và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu

khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của

chỉ tiêu khi chưa có biến đổi cuả nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng

của nhân tố đó.

Điều kiện áp dụng phương pháp là mối quan hệ giữa nhân tố cần đo ảnh hưởng

và chỉ tiêu phân tích phải thể hiện được dưới dạng cơng thức. Ngồi ra việc sắp xếp các

nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phân tích phải

theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến nhấn tố chất lượng. Trình tự thay thế các nhân tố

phải tuân theo nguyên tắc nhất định vừa phù hợp với ý nghĩa của hiện tượng nghiên cứu

vừa phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ về thực chất của các nhân tố.

Trình tự thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn:

+ Bước 1: Sơ bộ phân tích về mặt lý luận mối quan hệ giữa các nhân tố và chỉ

tiêu kết quả và phân loại các nhân tố thành nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng.

+ Bước 2: Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự: nhân tố đứng sau chất lượng hơn nhân

tố đứng trước.

X= a* b* c* d



Số liệu kế hoạch:

X0=a0*b0*c0*d0 Số liệu thực tế:

X1= a1*b1*c1*d1



+ Bước 3: Lập các tích số trung gian và ở mỗi tích số sau, chỉ tiêu báo cáo được

thay thế tương ứng cho chỉ tiêu kế hoạch.

X01=

a1*b0*c0*d0

X02=

a1*b1*c0*d0

X03=

a1*b1*c1*d0

+ Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách lấy tích số thứ

hai trừ đi tích số thứ nhất, tích số thứ ba trừ đi tích số thứ hai, tích số thứ tư trừ đi tích số

thứ thứ ba...

ΔXa=( a1*b0*c0*d0)(a0*b0*c0*d0)

ΔXb=( a1*b1*c0*d0)( a1*b0*c0*d0)

ΔXc=(a1*b1*c1*d0)-(a1*b1*c0*d0)

ΔXd=(a1*b1*c1*d1)-(a1*b1*c1*d0)

Như vậy, khi có n nhân tố thì có( n- 1) lần thay thế tức là lập được( n- 1) tích số

trung gian. Khi thay đổi trình tự thay thế thì mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sẽ thay

đổi, còn tổng mức độ ảnh hưởng của chúng thì khơng đổi.

Ưu điểm của phương pháp thay thế liên hoàn: Xác định được mức độ và chiều

hướng ảnh hưởng của các nhân tố, sắp xếp các nhân tố theo mức độ ảnh hưởng của

chúng, từ đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, thúc đẩy những nhân tố tích cực và hạn

chế những nhân tố tiêu cực.

Nhược điểm của phương pháp thay thế liên hồn:

-



Khơng có khả năng luận cứ rõ ràng trình tự cụ thể về sự thay thế của các



nhân tố cũng như tính quy ước của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng thành các nhân

tố số lượng và các nhân tố chất lượng. Điều này càng trở nên khó khăn khi có nhiều

nhân tố trong tính tốn phân tích.



-



Ảnh hưởng của mỗi nhân tố được xem xét tách rời, khơng tính đến mối



quan hệ qua lại của nó với các nhân tố khác, mặc dù sự thay đổi của một trong các nhân

tố dẫn tới sự thay đổi của các nhân tố khác.



• Phương pháp số chênh lệch

Phương pháp số chênh lệch thực chất là phương pháp rút gọn của phương pháp

thay thế liên hồn. Do vậy, nó cũng đòi hỏi những điều kiện và cũng có những ưu điểm,

hạn chế như thay thế liên hoàn.

Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó đối với chỉ tiêu

tổng hợp được xác định bằng số chênh lệch của nhân tố đó nhân với các nhân tố khác

được cố định trong khi lập tích số.

Trình tự tiến hành phương pháp số chênh lệch:

-



Xác định số chênh lệch tuyệt đối với dấu tương ứng của mỗi một nhân tố.



-



Nhân số chênh lệch của mỗi một nhân tố với số kế hoạch của các nhân tố



khác chưa đo ảnh hưởng và với số thực tế của các nhân tố khác đã đo ảnh hưởng.

• Phương pháp liên hệ

Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các

bộ phận...Để lượng hố các mối liên hệ đó, ngồi các phương pháp đã nêu, trong phân

tích kinh doanh còn phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như: liên hệ cân đối,

liên hệ thuận nghịch, liên hệ tương quan.

• Phương pháp liên hệ cân đối

Phương pháp liên hệ cân đối thường thể hiện dưới hình thức phương thức trình

kinh tế hoặc bảng cân đối kinh tế.

Nội dung chủ yếu của bảng cân đối kinh tế gồm hai hệ thống chỉ tiêu có quan hệ

trực tiếp với nhau về mặt chỉ tiêu. Khi thay đổi một thành phần hệ thống chỉ tiêu đó sẽ

dẫn tới sự thay đổi một hoặc một số thành phần khác nhưng sự thay đổi đó vẫn đảm bảo

sự cân bằng của bảng cân đối kinh tế. Khi phân tích thường dùng để kiểm tra việc ghi

chép hoặc để tính tốn các chỉ tiêu.

Để tính mức độ ảnh hưởng của nhiều nhân tố một cách đồng thời đến một chỉ

tiêu nào đó:

• Phương pháp liên hệ thuận nghịch.

N



C=



T



Trong đó: C- chỉ tiêu cá biệt mà ta đang nghiên cứu.



T- chỉ tiêu trực tiếp hoặc chỉ tiêu thuận

chiều. N- chỉ tiêu ngược chiều.

-



Mức độ ảnh hưởng của nhân tố trực tiếp(T)



-



Mức độ ảnh hưởng của nhân tố ngược chiều(N) đến chỉ tiêu nghiên cứu:



-



Tổng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu:



Trong đó:

T, N: số chênh lệch tương đối của chỉ tiêu T và N.

CT, CN, C: mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu T, N và của 2 chỉ tiêu T, N đến chỉ tiêu

cá biệt đang nghiên cứu.

• Phương pháp liên hệ tương quan

Là phương pháp phân tích tương quan nhằm xác định sự tồn tại và dạng của mối



liên hệ giữa các đại lượng ngẫu nhiên và cho phép đánh giá mức độ chặt chẽ giữa các

mối quan hệ đó.

Trình tự tiến hành:

-



Phân tích lý luận để giải thích sự tồn tại và bản chất mối liên hệ.



-



Thăm dò các mối quan hệ đó



-



Lập phương trình hồi quy căn cứ vào số tiêu thức, số lần quan sát.



-



Tính tốn các tham số của chương trình.



-



Giải thích ý nghĩa kinh tế của các tham số.



1.1.4. Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời

1. Hiệu quả sử dụng tài sản (DTts):

Hệ số này cho thấy kết quả mà DN đạt được trong năm thông qua việc tạo thu

nhập trên tổng tài sản đã đưa vào hoạt động SXKD.

D



Doanh thu (MS 10+21+31KQHĐKD)



Tts



Tổng tài sản (MS 270BCĐKT)



Hệ số này phản ánh tính năng động của DN , cho biết tổng vốn đầu tư vào tài sản

được chuyển đổi bao nhiêu lần thành doanh thu. Nếu hệ số này thấp, có nghĩa là vốn

đang khơng được sử dụng hiệu quả; có khả năng DN đang thừa hàng tồn kho, sản

phẩm hàng hố khơng tiêu thụ được hoặc tài sản nhàn rỗi hoặc vay tiền quá nhiều so với

nhu cầu vốn thực sự. (Lưu ý đối với DN có quy mơ lớn thì hệ số này có xu hướng nhỏ

hơn so với DN có quy mơ nhỏ).

2. Vòng quay hàng tồn kho (V):

Hệ số vòng quay hàng tồn kho đánh giá hiệu quả hoạt động của DN thông qua

hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Giá vốn hàng bán (MS 11KQHĐKD)

V



Hàng tồn kho bình quân (MS

140BCĐKT)



Giá trị vòng quay hàng tồn kho càng lớn cho biết DN sử dụng vốn lưu động càng

hiệu quả, góp phần nâng cao tính năng động trong sản xuất kinh doanh của DN . Vòng

quay thấp là do DN lưu giữ quá nhiều hàng tồn kho, dòng tiền sẽ giảm đi do vốn kém

hoạt động và gánh nặng trả lãi tăng lên, tốn kém chi phí lưu giữ và rủi ro khó tiêu thụ do

khơng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng hoặc thị trường kém đi. Vòng quay hàng tồn kho

của các DN có quy mơ lớn có xu hướng cao hơn các DN có quy mơ nhỏ. Riêng các DN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×