Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. SIÊU ÂM LÀ GÌ? NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA SIÊU ÂM

I. SIÊU ÂM LÀ GÌ? NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA SIÊU ÂM

Tải bản đầy đủ - 0trang

HIỆU ỨNG ÁP ĐIỆN XẢY RA THEO HAI CHIỀU DO ĐÓ NGƯỜI TA CÓ

THỂ DÙNG ĐẦU PHÁT SIÊU ÂM VÀ CŨNG LÀ ĐẦU THU SÓNG SIÊU ÂM

PHẢN HỒI (SÓNG PHẢN HỒI SIÊU ÂM VA ĐẬP TRỞ

lại làm cho tấm thạch anh sinh ra điện, tín hiệu điện được thu vào hai cực và được

khuếch đại lên và đưa vào màn giao động ký thành những xung điện).

Hiệu ứng áp điện trên tinh thể thạch anh được phát hiện vào cuối thế kỷ XIX cho đến

năm 30 của thế kỷ này siêu âm mới đưa vào áp dụng trong công nghiệp sau đó là y học.

Đến năm 1957 Satomura dùng hiệu ứng Doppler để đo dòng chảy của máu. 1960 xuất hiện

thiết bị siêu âm chẩn đốn hai bình diện kiểu B tĩnh. Do công nghệ điện tử phát triển kiểu

B động ra đời. Sự kết hợp kiểu B động với hiệu ứng Doppler đã tạo ra ảnh tơ màu dòng

chảy nay gọi là siêu âm mầu. Siêu âm mầu là bước tiến quan trọng trong lĩnh vực siêu âm

chẩn đoán, mở rộng phạm vi thăm khám đặc biệt trong lĩnh vực tim mạch.

2. Nhắc lại một số khái niệm về giao động cơ học

Giao động cơ học là giao động đàn hồi được truyền trong mơi trường vật chất, nó

khơng truyền được trong chân không.

Các đại lượng đặc trưng:

* Tần số f: Số giao động trong một đơn vị thời gian. Đơn vị đo Hertz (Hz )

1 KHz = 1000 Hz

1 MHz = 1000000 Hz

* Chu kỳ T: Thời gian giữa hai đỉnh liên tiếp của giao động f = 1/T.

* Biên độ: Độ lớn cực đại giữa hai đỉnh.

* Bước sóng: Quãng đường đi trong một chu kỳ.



Khoảng cách (m)



Thời gian (giây)



Sóng siêu âm là loại sóng giao động cơ học, về mặt năng lượng người ta chia thành

ba dải nhỏ.

20 KHz – 1MHz: dùng trong công nghiệp và điều trị

1 MHz – 10 MHz: dùng trong chẩn đoán

Trên 10 MHz: dùng để kiểm tra cấu trúc vật liệu

* Trong chẩn đốn sóng siêu âm thường có hai dạng



2



Dạng sóng liên tục: Giao động hỡnh sin liờn tục

Dạng sóng xung: Giao động hỡnh sin ngắt quóng

Dạng sóng liên tục thường dùng thăm khám tim mạch, dạng xung dùng trong kiểu

A,B và TM. Thời gian mỗi xung 2 Micro giây mỗi giây có từ 500 đến 1000 xung.



Chu kỳ lặp lại xung



Tốc độ truyền sóng siêu âm là quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian. Tốc

độ có liên quan tới tần số và bước sóng.

C = f

C: Tốc độ

: bước sóng

f: tần số

Ta nhận thấy tốc độ khơng đổi, khi tần số tăng thì bước sóng giảm, như vậy khi dùng

đầu dò có tần số cao thì độ phân giải sẽ tăng lên.

Tốc độ siêu âm phụ thuộc vào mơi trường mà sóng siêu âm truyền qua.

Ta có bảng sau:

Mơi trường

Khụng khớ

Mỡ

Nước

Tổ chức mềm

Gan

Thận

Mỏu



Xương



Tốc độ m/s

331

1450

1540

1540

1549

1561

1570

1585

4080



Cường độ siêu âm được biểu thị Watt (năng lượng) trên đơn vị diện tích cm 2. Cường

độ phụ thuộc tốc độ truyền và mật độ vật chất của môi trường. Siêu âm truyền trong môi

trường cường độ bị suy giảm song bước sóng khơng đổi

Đơn vị đo cường độ là dB = 1/10B (Bel)

dB dương: Năng lượng tăng



3



dB âm: Năng lượng giảm

3. Tốc độ truyền sóng siêu âm trong mơi trường

Siêu âm truyền trong mơi trường thì cường độ bị suy giảm, năng lượng bị tiêu tán

sinh ra nhiệt.

Trong môi trường khơng khí tốc độ siêu âm là 350 m/s sóng siêu âm truyền trong

khơng khí rất kém. Bởi vậy khi thăm khám siêu âm ta cần có một lớp mơi trường trung

gian bơi vào giữa phần đầu dò với vùng da nơi đầu dò tiếp xúc.

Trong mơi trường khác: Nước 1500 m/s, paraphin 1400 m/s, cơ thể người: mô mềm

và mỡ 1400 m/s, cơ 1600 m/s, xương 3600 – 4000 m/s.

4. Hiện tượng khúc xạ và phản xạ

Khi chùm siêu âm truyền trong mơi trường khơng đồng nhất, thì trên mặt phân cách

giữa hai mơi trường có một phần phản xạ lại, còn lại vào mơi trường tiếp theo. Góc chùm

tới với góc phản xạ với phương vng góc với mặt phẳng phân cách thì bằng nhau

Ví dụ: Gọi mơi trường 1 có trở kháng Z1, gọi mơi trường 2 có trở kháng Z2, chiếu

một chùm tia siêu âm từ môi trường Z1 qua mặt phân cách giữa Z1 và Z2 với góc anpha 1

ta sẽ có một chùm tia phản xạ trở lại Z1 số còn lại vào mơi trường Z2, góc của chùm tia tới

anpha 1 và góc chùm tia phản xạ anpha 2 bằng nhau



1 2



Môi trường 1 Z1



Môi trường 2 Z2



Khi chùm siêu âm tới vuông góc với mặt phân cách thì chùm tia tới, chùm tia phản

xạ và chùm tia truyền qua có cùng một phương. Đây chính là cơ sở vật lý của phương pháp

tạo hình ảnh siêu âm

Năng lượng của chùm sóng siêu âm tới mặt phân cách sẽ chia ra làm hai phần, phần

năng lượng phản xạ về nguồn (âm phản hồi), một phần tiếp tục truyền vào môi trường. Hệ

số phản xạ cho ta biết phần của năng lượng phản xạ khi chùm siêu âm tới mặt phân cách,

được xác định trở kháng âm Z1 của môi trường 1 và trở kháng âm Z2 của môi trường 2

qua biểu thức:

R = [(Z2 – Z1)/(Z2 + Z1)]2

R: Hệ số phản xạ

Ví dụ:

Khi truyền siêu âm từ khơng khí vào mỡ

R = [(1.38 – 0.0004)/(1.38 + 0.0004)]2 = 0.998

Có nghĩa là 99,8% năng lượng bị phản xạ trở lại

Khi truyền siêu âm từ môi trường mỡ vào thận



4



R = [(1.62 – 1.38)/(1.62 + 1.38)]2 = 0.0064

Có nghĩa năng lượng phản xạ là 0.64%.

Qua hai ví dụ trên cho thấy ở ví dụ 1 chỉ có 0,2% năng lượng được truyền vào mơi

trường Z2. Ví dụ 2 năng lượng được truyền vào mơi trường Z2 là 99,36%.

Từ đó ta suy ra nếu trở kháng giữa hai mơi trường càng khác nhau bao nhiêu thì năng

lượng phản xạ càng lớn bấy nhiêu điều này rất quan trọng trong việc khám siêu âm, bởi

vậy phổi là cơ quan chứa khí rất khó khăn cho việc khám siêu âm.

Trong thực tế lâm sàng, các cơ quan trong cơ thể có cấu trúc phức tạp, đường bờ gồ

ghề ngồi dấu hiệu phản xạ ta còn gặp hiện tượng khúc xạ của tia siêu âm theo nhiều

hướng khác nhau, như vậy năng lượng siêu âm cũng sẽ bị phân tán theo tuy nhiên năng

lượng này rất nhỏ.

Trong siêu âm chẩn đốn người ta đã thu sóng siêu âm phản hồi (âm vang) biến âm

phản hồi thành xung điện hiện nên màn hiện sóng, điều này có khác với điện quang: Điện

quang là phát hiện chùm tia X suy giảm khi xuyên qua cơ thể.

II. MÁY SIÊU ÂM

1. Siêu âm kiểu A (amplification)



Nếu sóng siêu âm phát từ đầu dò xuyên qua cốc nước, chùm siêu âm va đập vào

thành cốc bên kia và dội trở lại đầu dò, sóng siêu âm phản hồi lại đầu dò và đã sinh ra tín

hiệu điện, ta thu được tín hiệu phản hồi, ta ghi được một sung nhọn nhô lên cao. Nếu ta

cắm một que vào giữa cốc nước ta thu được một sung nhọn nằm giữa cốc nước (của que)

nó nằm giữa hai vạch của hai thành cốc.

Để ghi giao động của que người ta làm màn hiện sóng giao động trên giao động kế

thành những xung nhọn nhô lên khỏi trường đẳng điện, đường biểu diễn có 3 xung với

mức độ khác nhau do sự suy giảm năng lượng siêu âm ở những khoảng cách khác nhau,

xung càng xa đầu dò thì càng nhỏ, để bù lại sự suy giảm năng lượng như vậy máy có bộ

phận để chỉnh để bù lại sự thiếu hụt năng lượng.

Nếu biết được thời gian sóng siêu âm đi và về, biết tốc độ siêu âm thì tính được

khoảng cách từ vật cản đến đầu dò.

* Máy siêu âm được biểu thị những hình xung ta gọi là máy siêu âm kiểu A.



5



- Biên độ xung có tỷ lệ với cường độ của sóng phản hồi (âm vang hay còn gọi là

ECHO), trong cơ thể con người mỗi bộ phận cơ quan đều có trở kháng khác nhau do vậy ta

có được các xung khác nhau.

- Vị trí của xung đánh dấu vị trí của sóng phản hồi. Để tính khoảng cách trên màn

hiện người ta đã tính tốn một thước đo: khoảng cách giữa các vạch nhỏ là 2 mm, khoảng

cách giữa các vạch lớn là 10mm. Từ vị trí đầu dò đếm số vạch mà ta biết được khoảng

cách của sóng phản hồi, khoảng cách giữa các xung với nhau. Máy kiểu A thường gắn cùng

với kiểu B.

2. Máy siêu âm kiểu B

Kiểu A xung nhọn càng cao thì sóng phản hồi càng mạnh. Trong thực tế người ta

chuyển đổi từ xung nhọn sang hình sáng. Độ sáng phù hợp với độ lớn của xung. Có nghĩa

xung càng cao thì độ sáng càng tăng, như vậy từ biểu diễn xung sang biểu diễn độ sáng ta

có máy kiểu B.

* Kiểu B còn gọi siêu âm cắt lớp, âm vang đồ hai chiều

- Chùm siêu âm truyền vào cơ thể sẽ quét theo hai dạng phân kỳ hay hội tụ.

- Chùm siêu âm truyền vào theo hướng ly tâm rồi phản xạ lại và quét kiểu song song

- Tốc độ quét rất nhanh (16 chu kỳ/giây) do có sự lưu ảnh ở võng mạc ta có được

hình siêu âm là ảnh động (các lớp cắt nối tiếp nhanh do vậy thấy ảnh liên tục không bị tách

rời từng lớp cắt).

3. Kiểu M

Người ta biến đổi đường biểu diễn chấm sáng thay cho vạch, ta đặt chúng lên một

bình diện (màn ảnh giao động kế cho chúng chạy quét trên đó và đo được thời gian chuyển

động của chúng) đó là siêu âm kiểu M (Motion). Kiểu M thường dùng để thăm khám hệ

tim mạch. Siêu âm kiểu M cho phép ghi được biên độ, tần số chuyển động của vật di động

với độ chính xác cao.

4. Doppler

Nguyên lý hiệu ứng Doppler

Ta khảo sát thí nghiệm sau: Nếu hai người cùng đứng cách xa nguồn phát âm thanh

(còi) âm thanh phát ra thì cả hai đều nghe được, độ vang của âm thanh như nhau (bởi vì

khoảng cách như nhau). Nếu người thứ nhất đứng cố định, người thứ hai dịch ra xa hơn, thì

người thứ hai nghe tiếng âm thanh chậm hơn người thứ nhất, tại sao vậy: Do có sự thay đổi

tần số âm thanh, người ở khoảng cách gần tần số âm thanh cao hơn và bước sóng âm ngắn

hơn, còn người đứng xa, tần số âm giảm, bước sóng âm dài do vậy nghe chậm hơn.

Trong thực tế lâm sàng đầu phát siêu âm coi như là còi, hồng cầu là vật thể chuyển

động coi như người nghe. Như vậy hồng cầu ở vị trí 1 và hồng cầu ở vị trí 2 sẽ cho ta sóng

phản hồi khác nhau. Hiệu số giữa hai vị trí được gọi là hiệu ứng Doppler, đơn vị đo bằng Herz.

Như vậy sóng siêu âm phản hồi từ một vật đang chuyển động thì tần số của sóng siêu

âm phản hồi sẽ bị thay đổi, ta thu được hiệu số giữa tần số phát và sóng phản hồi nó phụ

thuộc vào tốc độ di chuyển của vật thể chuyển động, góc va chạm của tia với vật. Để đo

tốc độ thực cần phải biết góc giữa tia và vật, vận tốc sóng âm. Hiệu ứng Doppler là phương

pháp đo tốc độ dòng chảy của máu.



6



III. CHỈ ĐỊNH KHÁM SIÊU ÂM



Siêu âm khơng có hại do vậy ta có thể khám được nhiều lần, cho mọi lứa tuổi. Một

số nước còn dùng phương pháp khám siêu âm để kiểm tra hàng loạt cho toàn dân để phát

hiện bệnh trong giai đoạn đầu

Để làm tăng hiệu quả chẩn đốn, ta cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp

X- Quang và siêu âm, đây là hai thành phần bổ trợ cho nhau rất có hiệu quả. Nên có một lời

khun ta khơng nên tách biệt chúng khi chẩn đốn bệnh bằng hình ảnh.

IV. CHẤT LƯỢNG ẢNH SIÊU ÂM



Ảnh siêu âm cung cấp cho người ta hai loại thơng tin: Thơng tin về hình và thơng tin

về cấu trúc.

Nhờ sự thu sóng phản hồi, ta có thể phát hiện được những đường bao, mặt phân cách

của các cơ quan trong cơ thể, cho phép phát hiện được các biến dạng hình thể. Người ta

chia ra 2 loại hình cơ bản sau

1. Hình đường bờ

a. Hình liên bề mặt

Đó là hình giới hạn của hai cấu trúc khác nhau (mơi trường có tổng trở kháng âm

thanh mạnh, yếu khác nhau)

Ví dụ: Thành mạch và thành phần mạch máu

b. Hình thành:

Là hình giới hạn giữa hai thành phần đặc có âm vang và vùng khơng có âm vang

Ví dụ: Túi mật, nang nước, bàng quang.

c. Hình khoang trống:

Biểu hiện hình khối lỏng

2. Hình cấu trúc

a. Cấu trúc đều

Đó là hình của các tạng đặc bình thường

b. Cấu trúc khơng đều:

Thấy trong bệnh lý

c. Cấu trúc lỏng:

Đó là hình rỗng âm

Siêu âm còn giúp chúng ta phát hiện được các dị vật trong cơ thể: sỏi

Ảnh siêu âm được phân biệt qua mức độ xám (thang xám): đen, xám, trắng. Nhờ sự

suy giảm năng lượng qua tổ chức đó. Dựa vào độ phân giải độ xám ta đánh giá được tình

trạng bình thường hay bệnh lý của các tạng thăm khám.



Rỗng âm



Giảm âm



Đẳng âm

Cấu trúc bệnh lý



7



Tăng âm



CƠ SỞ VẬT LÝ CỦA PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN ĐIỆN QUANG

I. LỊCH SỬ TÌM RA TIA X



Tia X được tìm ra năm 1895 do nhà vật lý người Đức có tên là Runtgen, trong một

cuộc thí nghiệm nghiên cứu các tia tím phóng trong chân khơng.

Vào một đêm mùa đơng 8/11/1895 nhà vật lý Rơntgen cho bóng CROOK chạy, ơng

phát hiện thấy tấm tinh thể phát quang platino- cyanua- Bari đặt kế bên phát sáng màu

xanh lục, sau nhiều lần thử nghiệm ơng đã đưa ra nhận xét:

- Tia này có tính đâm xun mạnh, chỉ có kim loại nặng mới có thể ngăn cản tia này được.

- Tia lạ kỳ có khả năng đâm xuyên qua cơ thể con người, do ơng đã nhìn được xương

bàn tay của mình trên tấm bìa phát quang.

Sau vài ngày ơng đã tiến hành chụp thử bàn tay của người vợ ông và đã thành cơng.

Ơng đặt tên tia đó là tia X, và cũng từ đó hai kỹ thuật chiếu và chụp X-Quang ra đời. Thời

gian này cơng xuất của tia X còn rất thấp do vậy thời gian chụp phải kéo dài từ 30 phút đến

hàng giờ. Đến ngày nay thời gian phát tia của máy điện quang chỉ tính đến phần trăm giây,

chất lượng ảnh chụp cũng tốt lên rất nhiều. Đặc biệt sau khi gắn chương trình tốn học vi

xử lý, ngành chẩn đoán bằng tia X đã chuyển sang trang mới, nó là một trong những mũi

nhọn trong ngành y học.

Tính chất vật lý của tia X

- Tia X thuộc loại bức xạ điện từ, tương tự như sóng vơ tuyến, sóng ánh sáng (hồng

ngoại và tử ngoại) và bước sóng của tia X rất bé cho nên nó có tính chất riêng biệt mà sóng

ánh sáng khơng có được.

- Tia X là loại bức xạ điện từ nên nó có thể truyền được trong khơng khí mà khơng bị

suy giảm năng lượng. Tốc độ truyền của mọi bức xạ điện từ trong chân không là đều bằng

nhau và bằng tốc độ của ánh sáng 3x 10 m/s.

- Bước sóng tia X: Đơn vị đo là angstron (A 0), trong các máy X-Quang thường dùng

tia X có dải bước sóng 0.1 A0 – 100 A.

- Tia cứng, tia mềm: Tia cứng có bước sóng ngắn nên có khả năng đâm xuyên tốt. Tia

mềm có bước sóng dài nên khả năng đâm xuyên kém

Tính chất đặc trưng của tia X

+ Tia X có khả năng gây phát quang, một số chất do có khả năng này ta có thể dùng

nó để chiếu hoặc chụp điện quang

+ Tia X gây biến màu một số muối, do vậy ta mới chụp được phim điện quang.

+ Tia X truyền theo đường thẳng và theo mọi hướng, sự suy giảm năng lượng tia

theo bình phương khoảng cách.

+ Tia X có khả năng đâm xuyên qua vật chất, suy giảm năng lượng phụ thuộc vào

quãng đường đâm xuyên và thành phần cấu tạo của vật thể. Đây là cơ sở lý luận của sự tạo

ảnh X- Quang, khi xuyên qua vật thể sẽ nẩy sinh ra các tia đi lệch hướng, tia thứ phát do sự

va đập vào vật thể trên đường đi (tia khuyếch tán) tia khuyếch tán bắn theo mọi hướng và

gây nên nhiều tác dụng phụ

Ví dụ: Gây mờ ảnh chụp, phá huỷ tổ chức.



8



II. QUÁ TRÌNH PHÁT SINH TIA X VÀ MÁY X-QUANG

1. Quá trình phát sinh ra tia X



ELETRON

ANODE



CATHODE



X RAY

Tia X được sinh ra do sự chuyển đổi năng lượng khi chùm điện tử chuyển động

nhanh từ tóc đèn (Cathode) tới đập vào tấm kim loại (Anode) quá trình bắn phá trên đã tạo

ra một giải tia X với các bước sóng khác nhau. Q trình bắn phá đặc trưng đã tạo ra một

loại tia X có bước sóng đặc trưng.

Trong quá trình bắn phá phần lớn năng lượng của chùm điện tử chuyển thành nhiệt

năng (99%) chỉ còn khoảng 1% được chuyển thành năng lượng tia X.

2. Máy điện quang

2.1: Bóng phát tia X

Bóng điện quang là một dụng cụ được cấu tạo đặc biệt để tạo ra nguồn tia X.

Điều kiện để bóng có khả năng tạo tia X:

- Vỏ bóng được sản xuất bằng thuỷ tinh đặc biệt, đảm bảo độ an tồn có độ chân khơng

gần tuyệt đối (10-6 mmHg), hai đầu bóng có hai điện cực là Anode (+) và Cathode (-)

- Cathode: Là nguồn cung cấp điện tử, thực chất là tóc đèn được đốt nóng đỏ với

nguồn điện vài von và vài Ampe, tóc đèn được đốt nóng để sinh ra nguồn điện tử, lượng

điện tử quyết định lượng tia X sinh ra, đám mây điện tử bao quanh tóc đèn đã được một

lực đẩy của điện trường đẩy nhanh tới đập vào Anode và sinh ra tia X.

Số lượng điện tử tới đập vào Anode được gọi1là dòng bóng (đơn vị đo là mA).

- Anode: Là điện cực dương của bóng, cấu tạo Anode gồm hai phần.

+ Phần bia: Phần đón nhận luồng điện tử. Bia là vật liệu kim loại dẫn nhiệt, dẫn điện

tốt, có sức bền cấu kết cao, chất lượng bia quyết định hiệu xuất phát tia X. Độ rộng của bia

quyết định độ rộng chùm tia X phát ra (còn gọi là tiêu điểm bóng). Ngày nay bóng phát tia

X có cấu tạo hai bia (bia cỡ lớn và bia cỡ bé) ta có bóng tiêu điểm lớn và tiêu điểm nhỏ.

+ Phần đế của bia, cố định bia bằng đồng.

Có hai loại Anode:

+ Anode cố định: Loại này bia được gắn vào giá đỡ cố định do vậy bia nhanh hỏng.

+ Anode quay: Bia được gắn lên một đế hình đĩa, tấm đĩa nối với trục của một mô tơ

với nguồn điện thấp để làm quay đĩa, do vậy nguồn điện tử sẽ được giải đều trên bề mặt bia

đồng thời làm nguội bia khi bị bắn phá, nhờ đó tuổi thọ của bia được kéo dài, sức bền của

bia quyết định tuổi thọ của bóng.



9



Bia



Anode cố định

Bóng thuỷ tinh



Anode quay

5



4

Cathode



3



1 2

Anode



Vỏ kim loại



Mơ tơ



Dầu



Phổi dầu



Cửa sổ tia

Thực tế bóng thuỷ tinh được đặt trong một vỏ bọc bằng kim loại, có một khoảng trống

đó là cửa sổ phát tia, dầu cách nhiệt, cách điện được đổ đầy vào khoảng giữa vỏ và bóng.

Hai đầu bóng Anode, Cathode được nối với nguồn điện cao thế một chiều để tạo

lực đẩy. Như vậy năng lượng của đám mây điện tử phụ thuộc vào cường độ điện trường,



10



hiệu điện thế hai đầu bóng, đơn vị đo hiệu điện thế là kilovon (KV), hiệu điện thế quyết

định bước sóng tia X.

mA, KV là những thông số quan trọng và cơ bản của chụp điện quang.

2.2: Máy điện quang

2.2.1: Tạo cao áp cho bóng

a. Nhắc lại một số khái niệm cơ bản

* Dòng điện một chiều: Dòng điện có điện áp khơng đổi theo thời gian.

* Dòng điện xoay chiều: Là dòng điện mà điện áp thay đổi theo thời gian.

* Dòng xoay chiều hình sin: Dòng điện có điện áp thay đổi theo quy luật hình sin và

theo thời gian.

* Tần số và chu kỳ: Tần số là số lần giao động trong một đơn vị thời gian. Đơn vị đo tần

số là Hertz (Hz). Chu kỳ là thời gian thực hiện một giao động, Đơn vị đo là miligiây (ms).

Điện thành phố từ 50Hz đến 60 Hz có nghĩa: trong 1 giây có 50 giao động và chu kỳ

là 1/50 hay 0.020 = 20ms.

Máy điện quang 10KHz

10 KHz = 10.000 Hz

Tần số 10 KHz, chu kỳ 1/ 10.000 ms.

* Điện áp tĩnh: Là giá trị cao nhất của dòng điện xoay chiều, ký hiệu Vp, KVp.

* Cường độ dòng điện: Là số lượng điện tử đi qua một đơn vị diện tích trong một

đơn vị thời gian được đo bằng Ampe (Dòng của bóng được tính bằng miliampe 1mA =

1/1000A).

* Biến áp: Là một dụng cụ biến đổi độ lớn của dòng điện xoay chiều.

Biến áp tăng áp: Chuyển đổi dòng điện từ điện thế thấp lên điện thế cao.

Biến áp hạ áp: Chuyển đổi dòng điện từ điện thế cao xuống điện thế thấp.

* Chỉnh lưu: Hay bộ nắn dòng, là dụng cụ biến đổi dòng điện xoay chiều thành dòng

điện một chiều.

2.2.2: Máy điện quang

Bộ chỉnh lưu

Bộ cao áp



Bộ hạ áp

Máy chụp chiếu điện quang được coi như là một thiết bị cung cấp năng lượng cho

bóng phát tia X, máy bao gồm:

* Nguồn cấp điện một chiều cao áp vào hai cực của bóng:

Bộ phận này gồm bộ biến đổi tăng áp từ 220V nên 10.000V, sau đó điện cao áp xoay

chiều qua bộ phận chỉnh lưu thành dòng một chiều cao áp để đi vào hai cực của bóng.

* Nguồn điện cấp đốt nóng tóc đèn: Chỉ cần vài V để tạo đám mây điện tử.



11



* Nguồn điện vài V để làm cho Anode quay

Hai nguồn điện này lấy ra từ đầu ra của bộ phận hạ áp

* Bộ đo thời gian: Để đo thời gian phát tia X.

* Các nguồn điện phụ khác để điều khiển sự di chuyển của bàn chụp, bóng, xoay góc chụp.

Cơng suất của bóng quyết định cơng suất máy. Giá trị cao nhất của cao áp mà bóng phát

tia X chịu đựng được và giá trị dòng bóng cao nhất tương ứng với thời gian chụp dài nhất.

2.2.3. Các loại máy điện quang

a. Máy nửa sóng và phương pháp tạo cao áp:

Máy chỉ dùng nửa sóng của chu kỳ dương, máy nửa sóng cơng xuất thấp, chỉ chụp

được các bộ phận mỏng, tia X phát cường độ không đều, có nhiều tia mềm và tia khuyếch tán.



Nắn nửa sóng

b. Máy chỉnh lưu cả sóng

Máy sử dụng cả hai nửa sóng, sau khi dòng điện qua bộ phận tăng áp, bộ phận

chỉnh lưu chuyển dòng xoay chiều về dòng điện một chiều.



Nắn cả sóng

Ưu điểm: Tia X được sinh ra có cường độ cao hơn máy nửa sóng, tia mềm, tia

khuyếch tán ít do vậy độ an tồn phóng xạ cao hơn. Tia có cường độ cao nó đáp ứng được

đầy đủ mọi cuộc thăm khám điện quang.

c. Máy điện quang cao tần

Là phương pháp chuyển đổi dòng điện có tần số thấp lên dòng điện có tần số cao, sau

đó chỉnh lưu sang dòng điện một chiều.

Dòng điện thành phố có tần số 50 Hz được đưa vào dụng cụ chuyển đổi tần số lên vài

nghìn KHz.



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. SIÊU ÂM LÀ GÌ? NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA SIÊU ÂM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×