Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.19: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định theo quy mô và tỷ lệ SHNN

Hình 2.19: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định theo quy mô và tỷ lệ SHNN

Tải bản đầy đủ - 0trang

59

2.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

NGÀNH THÉP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

2.3.1. Những kết quả đạt được

- Về kết quả kinh doanh

+ Tổng tài sản của các doanh nghiệp đã tăng lên trong giai đoạn 2010 - 2015,

tổng tài sản năm 2010 là 2.619.876 triệu đồng tăng lên 3.796.842 triệu đồng năm 2015,

tốc độ tăng bình qn là 7,86%. Trong đó, cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn đều

tăng lên trong giai đoạn này. Tài sản ngắn hạn tăng trưởng bình quân là 3,83%. Tài sản

dài hạn tăng trưởng bình quân là 20,29%. Như vậy, có thể nhận thấy quy mơ của

doanh nghiệp ngành thép niêm yết đã tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2010 – 2015.

Trong đó, chủ yếu là do sự gia tăng của tài sản cố định, bất động sản đầu tư và tài sản

dài hạn dở dang. Điều này cho thấy quy mô của các doanh nghiệp này tăng lên trong

tương lai.

+ Kết cấu tài sản đã có sự điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn khi tỷ trọng tài sản

ngắn hạn có xu hướng giảm xuống, tỷ trọng tài sản dài hạn có xu hướng tăng lên.

Trong giai đoạn 2010 – 2015, tỷ trọng tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm xuống từ

mức 72,21% năm 2010 xuống đến mức 64,67% năm 2015. Ngược lại, tỷ trọng tài sản

dài hạn có xu hướng tăng lên từ mức 21,44% năm 2010 lên mức 35,33% năm 2015.

Như vậy, cơ cấu tài sản doanh nghiệp thép niêm yết trong giai đoạn 2010 – 2015

xoanh quanh mức 68% tài sản ngắn hạn và 32% tài sản dài hạn. Đặc biệt, tỷ trọng

hàng tồn kho có xu hướng giảm xuống cho thấy công tác tiêu thụ sản phẩm hiệu quả

hơn, trong khi đó tỷ trọng các khoản phải thu vẫn duy trì bình qn đạt 22,8% điều này

tác động tích cực đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quy mô nguồn vốn của các doanh nghiệp thép niêm yết dưới góc độ nào,

cũng nhận thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô các nguồn vốn trong giai đoạn

2010 – 2015.

+ Tổng doanh thu thuần của các doanh nghiệp thép niêm yết có xu hướng tăng

lên trong giai đoạn 2010 – 2015, từ mức 3,650,828 triệu đồng năm 2010 lên mức

5,261,187 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn này là 8,15%. Điều này sẽ

có tác động tích cực lên hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy

nhiên, phân tích kỹ hơn nhận thấy sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ những doanh



60

nghiệp thép có quy mơ vừa và lớn, doanh nghiệp thép thuộc sở hữu tư nhân có sự tăng

trưởng mạnh mẽ về doanh thu thuần.

+ Quy mô lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp ngành thép niêm yết có xu

hướng tăng dần trở lại trong giai đoạn 2012 – 2015. Mức lợi nhuận đạt được hàng năm

bình quân trong giai đoạn 2010 – 2015 đạt 145.410 triệu đồng. Điều này sẽ tác động

tích cực, làm gia tăng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong giai đoạn này.

- Về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Chỉ tiêu BEP của doanh nghiệp có quy mơ lớn đã được cải thiện, tăng lên trong

năm 2013 - 2015

Chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp vừa và lớn, SHNN đã được cải thiện và tăng

lên cho thấy hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của nhóm doanh

nghiệp này đã cao hơn.

- Về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

+ Vòng quay vốn lưu động của doanh nghiệp thép có sự biến động tăng lên

trong giai đoạn 2010 – 2013 cho thấy công tác quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp

thép có biệu hiện tốt. Đặc biệt là nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ, do đẩy nhanh tốc độ

luân chuyển vốn lưu động đã cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được vốn lưu động.

+ Vốn tồn kho dữ trữ: Vòng quay hàng tồn kho của doanh nghiệp thép niêm yết

có xu hướng biến động tăng lên trong giai đoạn 2010 – 2013, và đã giảm sút trong giai

đoạn 2013 - 2015. Điều này cho thấy việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp

là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh, giảm được lượng vốn

đầu tư vào hàng tồn kho trong giai đoạn 2010 - 2013. Bình quân trong giai đoạn 2010

– 2015, vòng quay hàng tồn kho đạt 6,24 vòng.

- Về hiệu quả sử dụng vốn cố định

+ DN có quy mơ nhỏ có hiệu suất sử dụng VCĐ cao và ổn định, bình qn đạt

19,61 vòng trong giai đoạn 2010 – 2015. Kết quả phân tích cho thấy DN có quy mô

nhỏ đang sử dụng hiệu quả tài sản cố định và vốn cố định mà mình đang có mặc dù

quy mơ còn nhỏ trong giai đoạn 2010 – 2015.

+ Xét theo tỷ lệ sở hữu, các DN thuộc SHTN và SHNN đang duy trì hiệu suất

sử dụng VCĐ cao và có xu hướng giảm xuống trong giai đoạn 2010 - 2015. Các DN

thuộc SHNN duy trì hiệu suất sử dụng VCĐ cao hơn mức trung bình của ngành và của



61

DN thuộc SHTN, cho thấy các DN này vẫn đang phát huy được hiệu quả tài sản cố

định của mình có.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

- Về kết quả kinh doanh

+ Mặc dù quy mơ nguồn vốn có xu hướng tăng lên nhưng cấu trúc vốn của các

doanh nghiệp ngành thép đang có sự điều chỉnh theo chiều hướng tăng các khoản vốn

lưu động, nợ phải trả và nguồn vốn tạm thời điều này sẽ làm gia tăng rủi ro tài chính

trong hoạt động kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn.

+ Doanh nghiệp có quy mơ nhỏ, doanh nghiệp thép thuộc sở hữu nhà nước, quy

mô DTT bị sụt giảm trong giai đoạn 2010 – 2015. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến

hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.

+ Mức lợi nhuận đạt được hàng năm thấp, bình quân trong giai đoạn 2010 –

2015 đạt 145.410 triệu đồng. Kết quả này chưa tương xứng với giá trị tài sản, vốn đầu

tư và tiềm năng của ngành thép. Khoảng cách giữa EBIT và LNST qua các năm khá

lớn, chứng tỏ lãi vay phải trả chiếm khá lớn trong kết quả kinh doanh của doanh

nghiệp, làm cho lợi nhuận sau thuế sụt giảm lớn.

- Về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

+ Vòng quay tổng vốn tài sản giảm xuống trong giai đoạn 2010 – 2015 từ mức

1,99 vòng năm 2010 xuống còn 1,83 vòng năm 2015. Nguyên nhân dẫn đến sự suy

giảm này do tốc độ gia tăng tài sản (VKD) bình quân tăng nhanh hơn tốc độ tăng của

doanh thu thuần. Sự thay đổi của vòng quay tổng tài sản có sự khác biệt giữa các nhóm

doanh nghiệp được phân loại theo quy mơ và tỷ lệ sở hữu nhà nước. Nhưng trong giai

đoạn 2012 – 2015, DN có QM lớn có vòng quay tổng tài sản đều nhỏ hơn 1, cho thấy

hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp này là thấp. Những DN có QM nhỏ

hiệu quả sử dụng vốn giảm xuống do sự suy giảm của doanh thu thuần, trong khi tài

sản bình qn khơng có sự biến động nhiều dẫn đến suy giảm của vòng quay tổng tài

sản. Căn cứ theo tỷ lệ sở hữu, các doanh nghiệp thuộc SHTN và SHNN đều có sự suy

giảm chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của

nhóm doanh nghiệp này đều giảm xuống.

+ Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được phản ánh thông qua các chỉ tiêu

tỷ suất lợi nhuận cho thấy xu hướng giảm xuống. Chỉ tiêu BEP của nhóm DN nhỏ và



62

vừa, DN thuộc SHTN, SHNN đều giảm xuống. Chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp nhỏ

liên tục giảm xuống cho thấy hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

của nhóm doanh nghiệp này giảm xuống và ở mức rất thấp.

- Về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Tốc độ thu hồi công nợ của doanh nghiệp thép niêm yết có sự biến động và giảm

xuống trong giai đoạn 2010 – 2015, vòng quay khoản phải thu giảm xuống, chứng tỏ

doanh nghiệp ngành thép đã bị chiếm dụng vốn nhiều hơn, tốc độ tăng trưởng doanh thu

thuần không tương xứng với sự gia tăng khoản nợ phải thu, đặt doanh nghiệp vào trạng

thái cần huy động thêm nguồn vốn nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động.

- Về hiệu quả sử dụng vốn cố định

+ DN có quy mơ vừa và lớn có hiệu suất sử dụng VCĐ giảm dần. DN có quy

mơ lớn duy trì hiệu suất sử dụng VCĐ rất thấp, nhỏ hơn 5 vòng.

+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định có xu hướng giảm xuống trong giai đoạn 2010

- 2015. Năm 2010, chỉ tiêu này là 14,76 lần đã giảm xuống còn 10,73 lần năm 2015.

Nguyên nhân, doanh thu thuần có tăng nhẹ, trong khi vốn cố định có xu hướng tăng

lên nhanh sẽ làm hiệu suất sử dụng vốn cố định có xu hướng giảm xuống. Tức 1 đồng

vốn cố định bỏ ra đầu tư sẽ tạo ra được ít đồng doanh thu thuần hơn. Chứng tỏ việc sử

dụng vốn cố định kém hiệu hơn trước.

+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên VCĐ của doanh nghiệp ngành thép có xu

hướng giảm xuống liên tục trong giai đoạn 2010 – 2015. Đặc biệt, năm 2015, tỷ suất

lợi nhuận sau thuế trên VCĐ xuống rất thấp (âm 17,75%). Cho thấy mức lợi nhuận sau

thuế tạo ra chưa tương xứng với số vốn cố định bỏ ra đầu tư cho doanh nghiệp ngành

thép trong giai đoạn 2010 – 2015.

Như vậy, qua phân tích nhận thấy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh

nghiệp ngành thép trong giai đoạn 2010 – 2015 đã giảm xuống và ở mức thấp. Điều đó

thể hiện qua chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản, và các tỷ suất lợi nhuận của doanh

nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng đã giảm xuống cho thấy đồng vốn cố định

được sử dụng kém hiệu quả. Công tác quản lý các khoản phải thu giảm sút làm cho

quy mơ nợ phải thu tăng, vòng quay các khoản phải thu giảm xuống. Đối với từng hoạt

động có sự khác biệt giữa nhóm doanh nghiệp theo quy mơ và theo tỷ lệ sở hữu.



63

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

NGÀNH THÉP NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM

3.1. ĐỊNH HƯỚNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH

THÉP VIỆT NAM

3.1.1. Tổng quan ngành thép Thế giới

Giai đoạn thăng trầm ngành thép thế giới. Từ giữa thế kỷ 20, ngành thép Thế

giới đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng từng giai

đoạn, cụ thể: 1950-1970: phát triển nhanh (5,1-7,4%/năm); 1970-2000: tiêu điều (-0,52,5%/năm); 2000-2005: phát triển rất mạnh, 6,2%/năm (thời kỳ ngành thép Trung

Quốc trỗi dậy kéo theo ngành thép Thế giới phát triển nhanh); 2005-2010: phát triển

khá, 4,5%/năm; 2010-2015: chững lại, 2,5%/năm; Năm 2015 : giảm 2,9%.

Sản lượng sản xuất thép thế giới giữ mức tăng trưởng đều giai đoạn 2011-2014

với tốc độ 3,8%/năm đạt 1.670 triệu tấn/năm năm 2014. Tuy nhiên, tới năm 2015, sản

lượng sản xuất chỉ đạt 1.621 triệu tấn (-2,9% y-o-y) nên kéo theo tốc độ tăng trưởng

của cả giai đoạn 2011-2015 xuống còn 2,5%/năm. Sản lượng tiêu thụ trong năm này

cũng giảm 1,7% từ 1.546 triệu tấn năm 2014 xuống còn 1.500 triệu tấn năm 2015; cho

thấy rõ sự suy giảm của ngành thép toàn cầu.

Trung Quốc – quốc gia dẫn đều về năng lực cạnh tranh ngành thép. Theo số

liệu cung cấp bởi hiệp hội Thép, sản lượng thép năm 2015 của Trung Quốc đang dẫn

đầu với 803,8 triệu tấn. Nhật Bản đứng thứ hai với 105,2 triệu tấn. Theo sau là các

quốc gia Ân Độ 89,4 triệu tấn, Mỹ 78,8 triệu tấn, Nga 70,9 triệu tấn và Hàn Quốc 69,7

triệu tấn. Trong lĩnh vực xuất khẩu thép, Trung Quốc cũng bỏ xa các cường quốc thép

khác với 112 triệu tấn thép xuất khẩu năm 2015. Một trong những lý do giúp thép

Trung Quốc cạnh tranh mạnh về giá với các sản phẩm thép của quốc gia khác là nhờ

vào chính sách thúc đẩy xuất khẩu thép của Trung Quốc. Cụ thể là hoàn thuế VAT cho

xuất khẩu thép, nhất là đối với thép “hợp kim” chứa B, Cr. Ngoài ra, từ 1/1/2016 sẽ

tiếp tục giảm thuế xuất khẩu gang xuống 10% và phôi thép xuống 20% so với trước

đây là 25% với cả 2 mặt hàng trên. Trong thời gian tới, Ấn Độ có tiềm năng lớn sẽ trở

thành cường quốc thép thứ hai trên thế giới. Thêm nữa, diễn biến giá nguyên liệu



64

trong giai đoạn từ giữa 2014 tới đầu năm 2016, từ giá quặng, giá than mỡ cho tới giá

phơi thép, giá thép cuộn nóng để nhà đầu tư có cái nhìn rõ hơn về những biến động của

ngành thép trong giai đoạn này. Giá thép và nguyên liệu thép đã xuống mức đáy cuối

năm 2015 đầu năm 2016 và bắt đầu hồi phục trở lại từ tháng 5/2016. Tuy nhiên, giá

nguyên liệu vẫn có những diễn biến tăng, giảm phức tạp và chưa cho thấy xu thế ổn

định trở lại.

Nguyên nhân của khủng hoảng ngành thép toàn cầu

Sau thông tin về những biến động lớn của ngành thép thế giới được đề cập trên

khắp các mặt báo trong giai đoạn cuối 2015 đầu năm 2016 cho thấy nguyên nhân

chính châm ngòi cho cuộc khủng hoảng dẫn tới cuộc khủng hoảng ngành thép toàn cầu

là do việc giá thép thành phẩm giảm nhanh hơn giá nguyên liệu sản xuất.

(1) Khi giá quặng sắt giảm, giá thép thành phẩm thường phản ứng nhanh theo

đà giảm này. Trong khi đó, nguyên liệu quặng sắt dùng cho sản xuất lại có giá cao do

chủ yếu được tích lũy từ 3-4 tháng trước. Vì vậy, biên lợi nhuận gộp của các DN đều

giảm mạnh so với cùng kỳ.

(2) Áp lực cạnh tranh từ thép thành phẩm nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc

cũng khiến giá thép thành phẩm giảm nhanh. Sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc

đã tạo ra tình trạng dư cung thép thành phẩm. Lượng thép dư thừa được xuất khẩu ra

thị trường thế giới, đã tạo ra áp lực lớn giảm giá thép.

Việc giá thép giảm sâu khiến cho biên lợi nhuận của hầu hết các công ty sản

xuất thép sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ bởi ngành thép là ngành mà giá cả của sản

phẩm đầu ra rất nhạy cảm với biến động giá nguyên liệu đầu vào. Tuy nhiên, nhìn vào

từng phân khúc của ngành công nghiệp thép điều này đúng với những doanh nghiệp

cung ứng sản phẩm dừng lại ở khâu cán thép (cán thép dài ra thép hình, thép cuộn,

thép thanh; cán thép dẹt ra cuộn cán nóng, cuộn cán nguội), khi tốc độ giảm giá của

HRC còn nhanh hơn tốc độ giảm giá quặng sắt trong giai đoạn 2015-2016. Còn ngược

lại, đối với phân ngành gia công sau cán, giá nguyên liệu đầu vào là thép cán giảm lại

phần nào có lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào khâu cuối của chuỗi giá trị này.

Biến động thị trường thép trong nước

Nhìn chung, thị trường trong nước cũng có cùng đà biến động với xu hướng

của thị trường thép Thế giới. Cụ thể, biên lợi nhuận gộp các doanh nghiệp trong ngành



65

giảm mạnh, dao động từ -10% đến 6%. Chỉ riêng HPG và HSG vẫn giữ ở mức cao

17% đến 18%. Giai đoạn này tốc độ giảm giá diễn ra mạnh nhất khiến lượng hàng tồn

kho sản xuất với giá nguyên liệu ở mức cao không tiêu thụ kịp so với tốc độ giảm giá

của thành phẩm. Tuy nhiên, tới quý 1/2016, mặc dù giá thép vẫn giảm trong tháng 1 và

chỉ hồi phục nhẹ từ tháng 3, nhưng các doanh nghiệp đã điều chỉnh chính sách tồn kho

phù hợp hơn với diễn biến thị trường, do đó biên lợi nhuận dần được cải thiện.

Trong quý 2/2016, khi giá thép phục hồi rõ nét, cùng với thuế tự vệ tạm thời

đối với sản phẩm phơi thép và thép dài bắt đầu có hiệu lực, tạo thành 2 yếu tố cộng

hưởng giúp biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp thép tăng lên rõ rệt. Đặc biệt,

một số doanh nghiệp nhanh nhạy với biến động thị trường, chủ động tích trữ nguyên

liệu giá thấp trong quý 1/2016 còn đạt tăng trưởng lợi nhuận rất tốt trong quý 2/2016,

đảo ngược hoàn toàn so với quý 4/2015. Cụ thể, HPG đạt BLNG 32%, HSG 24%,

TLH 23%, KKC 18%, NKG 16%, SMC 10%,… Sau giai đoạn phục hồi mạnh trong

quý 2/2016, giá quặng sắt tiếp tục biến động trong quý 3 và chưa thể hiện rõ xu thế

phục hồi hoàn toàn. Do vậy, biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp thép nhìn chung

có xu hướng giảm.

Ngành thép tăng trưởng mạnh mẽ về cả sản lượng sản xuất và tiêu thụ so với

năm 2015, đặc biệt trong tháng 3 khi quyết định áp thuế tự vệ bổ sung tạm thời đối với

mặt hàng thép thanh và phôi thép của Bộ Công thương được ban hành. Sản lượng tiêu

thụ thép xây dựng tăng trưởng 21,5% trong 10T2016, đạt 6,44 triệu tấn. Tuy nhiên,

hiệu ứng của thuế tự vệ bổ sung không kéo dài được bao lâu khi tỉ lệ tăng trưởng so

với cùng kỳ của ngành thép chậm dần qua các tháng, cho tới tháng 10, sản lượng sản

xuất chỉ tăng 12,2% và sản lượng tiêu thụ chỉ tăng 10% so với cùng kỳ, đồng thời biên

lợi nhuận các doanh nghiệp thép đồng loạt giảm trong quý 3 năm nay. Nguyên nhân

thực của hiện tượng này có thể là do mức tiêu thụ thép tăng đột biến đến từ yếu tố đầu

cơ của các đại lý thép trước khi quyết định áp thuế tự vệ tạm thời đi vào hiệu lực,

không phải đến từ nhu cầu thực sự của thị trường. Bằng chứng rõ ràng nhất là bước

sang tháng 4, sản lượng bán hàng các doanh nghiệp nội địa giảm dần, và chạm đáy

trong tháng 6. Nhập khẩu thép thành phẩm tuy rằng vẫn ở mức khá cao, song đã có

dấu hiệu chững lại. Thuế tự vệ đã phần nào phát huy hiệu quả khi sản lượng nhập khẩu

đã có xu hướng tăng chậmlại. Cụ thể, theo số liệu từ tổng cục hải quan, nhập khẩu thép



66

các loại tháng 10 ước đạt 1,5 triệu tấn giảm 3,3% mom (+18,8% yoy). Lũy kế 10T đạt

15,4 triệu tấn (+24,2% yoy), tốc độ tăng trưởng đã có phần giảm dần qua các tháng.

3.1.2. Triển vọng ngành thép Việt Nam trong thời gian tới

- Kỳ vọng giá nguyên liệu giảm trở lại.

Dựa trên đánh giá về cung và cầu trong năm tới, chúng tôi cho rằng giá nguyên

liệu sản xuất thép bao gồm quặng sắt, than cốc sẽ giảm trở lại bởi nguồn cung tăng thêm

đến từ Úc và Brazil. Tuy nhiên, mặt bằng giá nguyên liệu vẫn sẽ cao hơn đáng kể so với

năm 2016. Ngược lại, giá thép phế sẽ có biến động ngược chiều do nhu cầu tăng đột

biến từ Trung Quốc và ảnh hưởng từ độ trễ so với giá quặng sắt.

- Thị trường thép dân dụng được kỳ vọng tiếp tục sôi động, chu kỳ đầu tư công

trở lại đẩy mạnh nhu cầu sắt thép. Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng tỷ lệ đơ thị

hóa cao cao hàng đầu Đơng Nam Á, dẫn tới nhu cầu xây dựng dân dụng tăng cao. Đồng

thời chu kỳ đầu tư công trở lại khi nội các đã ổn định trong năm tới sẽ tạo ra nhu cầu lớn

đối với thép xây dựng.

- Giá thép được dự báo tăng.

Kỳ vọng giá thép sẽ tăng tới 10,8 triệu đồng/tấn trong năm 2017 bởi chi phí sản

xuất của tồn thị trường tăng lên do giá nguyên liệu ở mức cao và các doanh nghiệp nội

địa khơng còn ngun liệu giá rẻ dự trữ trong kho. Đặc biệt, do các doanh nghiệp thép lò

điện sẽ tăng cường nhập phơi từ Trung Quốc do chi phí sản xuất bằng thép phế quá cao.

- Doanh nghiệp tôn mạ chịu ảnh hưởng của thuế tự vệ trên các thị trường xuất

khẩu. Các thị trường xuất khẩu đang tăng cường siết chặt hàng rào thuế quan, gần đây

nhất là thị trường Mỹ và Thái Lan. Mặc dù sản lượng xuất khẩu của các doanh nghiệp

tôn mạ niêm yết sang 2 thị trường này là khơng nhiều, song điều này có thể làm tăng

khả năng cạnh tranh tại các thị trường sẵn có. Do đó, các doanh nghiệp tôn mạ sẽ phải

mở rộng hệ thống đại lý trong nước để chuyển hướng hoạt động trên thị trường nội địa.

- Formosa chưa phải mang tới rủi ro cạnh tranh trực tiếp bởi khu liên hợp chưa

sản xuất thép xây dựng trong năm 2017. Song, sản phẩm phôi thép từ giai đoạn 1 của

khu liên hợp sẽ trở thành nguồn nguyên liệu giá rẻ không phải chịu thuế của DN lò điện

và giảm bớt lợi thế chi phí sản xuất của các DN lò cao.

Dựa trên những phân tích về biến động của cả thị trường thép thế giới và thị

trường thép Việt Nam trong thời gian vừa qua, một số nhận định về triển vọng ngành



67

thép Việt Nam nói chung cũng như cơ hội cho các doanh nghiệp thép Việt tồn tại và phát

triển trong thời gian tới. Với tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp sản xuất thép Việt

Nam vẫn được dự báo ở mức 15% trong giai đoạn 5 năm tới, cơ hội tăng trưởng của các

doanh nghiệp thép Việt vẫn còn rất tốt nếu tìm được hướng đi phù hợp.

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VÓN CỦA

DOANH NGHIỆP NGÀNH THÉP NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải tối

đa hoá đầu ra, tăng sản lượng tiêu thụ, tăng doanh thu và tối thiểu hoá đầu vào – giảm

giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp... Nâng cao hiệu quả quản lý

và sử dụng tài sản lưu động, tài sản cố định. Căn cứ vào định hướng phát triển của các

doanh nghiệp ngành thép niêm yết trong thời gian tới, qua phân tích thực trạng hiệu

quả sử dụng vốn kinh doanh. Một số giải pháp cần thực hiện như sau:

3.2.1. Giải pháp nhằm tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm

Vòng quay tổng vốn tài sản giảm xuống trong giai đoạn 2010 – 2015 từ mức

1,99 vòng năm 2010 xuống còn 1,83 vòng năm 2015. Nguyên nhân dẫn đến sự suy

giảm này do tốc độ gia tăng tài sản (VKD) bình quân tăng nhanh hơn tốc độ tăng của

doanh thu thuần. Nói cách khác, tốc độ tăng doanh thu thuần chưa tương xứng với sự

đầu tư của doanh nghiệp trong thời gian qua. Như vậy, thực hiện các giải pháp nhằm

tăng doanh thu của doanh nghiệp là cần thiết. Một số giải pháp tăng cường doanh thu

tiêu thụ của doanh nghiệp ngành thép cần thực hiện như sau:

(1) Khai thác những khâu còn khuyết trong chuỗi giá trị ngành.

Năng lực cạnh tranh của ngành thép Việt Nam không cạnh tranh được với

Trung Quốc, ngành thép của Anh, châu Âu và nhiều nước khác đang phá sản vì thép

Trung Quốc. Có thể nói năng lực cạnh tranh của thép Việt Nam yếu và chưa có hướng

thốt rõ ràng, trong khi hướng cần tập trung thì khơng tập trung. Ví dụ như, việc chọn

loại thép phát triển không phù hợp. Chúng ta quá tập trung vào thép xây dựng, trong

khi thép xây dựng thì dư thừa và thua Trung Quốc, còn một số loại thép như thép đóng

tàu, một số loại thép đặc biệt… đang thiếu thì khơng sản xuất. Do đó, các doanh

nghiệp ngành thép nên tập trung vào thép đặc thù, đặc biệt để phát triển như đầu tư kỹ

lưỡng, bài bản vào các sản phẩm Việt Nam chưa sản xuất được như phơi dẹt, thép cuộn

cán nóng, hay các sản phẩm có hàm lượng cơng nghệ cao như thép cơ khí chế tạo sẽ



68

có tiềm năng phát triển rất lớn. Còn biện pháp tự vệ, giải pháp này chúng ta làm chưa

tới, mình chọn chưa đúng thời điểm cũng như cách làm, khiến cho thay vì để hạn chế

thép Trung Quốc thì lại tăng thêm, thành ra ngược với mục tiêu ban đầu.

(2) Đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có tiềm năng xuất

khẩu tốt và biên lợi nhuận cao.

Hiện nay năng lực sản xuất của công nghiệp thép Việt Nam đã đáp ứng được

nhu cầu trong nước về thép xây dựng, ống thép, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu. Do

đó, việc khai thác thị trường xuất khẩu là rất cần thiết để mở rộng dư địa tăng trưởng

của doanh nghiệp. Theo thống kê của Hiệp hội thép Thế giới, ngoài bán thành phẩm,

các sản phẩm gia công sau cán như tôn mạ, ống thép là các mặt hàng xuất khẩu chủ

yếu trong cơ cấu xuất khẩu thép tồn cầu. Và hiện nay, tơn mạ kim loại cũng là mặt

hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chiếm 37% (tương ứng với hơn 1 triệu tấn)

trong cơ cấu xuất khẩu thép năm 2015. Bên cạnh đó, nguyên liệu thép sản xuất que

hàn có biên lợi nhuận gộp cao, ở mức 20% vẫn đa số phải nhập khẩu. Do vậy, đây đều

là những phân khúc còn tiềm năng tăng trưởng tốt cho các doanh nghiệp thép Việt.

(3) Tối ưu hóa quy mơ sản xuất với quy trình sản xuất khép kín. Có thể nói

HPG là một ví dụ điển hình cho việc phát triển theo hướng đi này và trụ vững trong

giai đoạn khó khăn của ngành thép thời gian qua. Việc tổ chức quy trình sản xuất khép

kín sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết giảm tối đa chi phí sản xuất. Nhờ đó, sản

phẩm tạo ra có khả năng cạnh tranh cao về giá, kể cả so với sản phẩm nhập khẩu. Bên

cạnh đó, với chu trình sản xuất khép kín cũng tạo cơ hội cho doanh nghiệp quản lý,

đảm bảo chất lượng sản phẩm ở từng khâu sản xuất chặt chẽ hơn.

Ngoài ra, doanh nghiệp ngành thép cần thực hiện các giải pháp cụ thể sau

-Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường trong và ngồi nước nhằm tìm

kiếm thị trường xuất khẩu, giải quyết tình trạng dư thừa cơng suất trong những năm

sau này, tiếp cận khách hàng bằng mọi hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, đặc biệt các

khách hàng là đơn vị, cơng ty, xí nghiệp, nhà máy có giấy phép đầu tư sản xuất hoặc

có nhu cầu xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng.

-Hoàn thiện chính sách sản phẩm về mẫu mã, kiểu dáng, quy cách và chất

lượng sản phẩm bằng cách cải tiến quy trình cơng nghệ, thiết kế khn mẫu… đẩy

mạnh việc quảng bá thương hiệu, nâng thương hiệu thép của các doanh nghiệp lên tầm



69

quốc gia. Các sản phẩm thép Việt Nam phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9.000,

ISO 9001 : 2000, ISO 14.000… Điều này sẽ giúp cho ngành Thép Việt Nam nhiều

thuận lợi khi tham gia hoạt động xuất khẩu.

-Hồn thiện chính sách giá cho phù hợp với mức độ cạnh tranh giá trên thị

trường trong nước và ngoài nước. Việc xác định giá bán sản phẩm phải phù hợp với

từng khu vực trên thị trường, phù hợp với từng đối tượng khách hàng là tổ chức hay cá

nhân và giá bán thể hiện được khả năng cạnh tranh tốt. Để thực hiện điều này, các

doanh nghiệp ngành thép Việt Nam phải thực hiện tiết kiệm triệt để, bằng cách cải tiến

quy trình sản xuất, quy trình quản lý, làm việc, quy trình bán hàng sao cho thật phù

hợp, nhằm hạ giá thành sản phẩm thép Việt Nam trong những năm tới.

- Điều chỉnh lại kênh phân phối, hệ thống các đại lý bán hàng sao cho hiệu quả.

Có các chính sách, biện pháp ðộng viên các ðại lý, các nhà phân phối nâng cao doanh

thu. Mạnh dạn cắt hợp đồng các đại lý kinh doanh không hiệu quả, thường xuyên vi

phạm các quy định trong hợp đồng đại lý.

- Điều chỉnh lại các hoạt động tiếp thị, xác định lại các hoạt động quảng cáo,

khuyến mãi, tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, marketing trực tiếp, hoạt

động quan hệ công chúng, xem hoạt động chiêu thị nào hiệu quả trong giai đoạn hiện

nay thì tập trung tiến hành.

- Xác định lợi thế so sánh cạnh tranh của ngành Thép Việt Nam với một số

quocó gia khác như Hàn Quốc,Trung Quốc, Malaysia… Căn cứ vào lợi thế cạnh tranh

đó để phát huy, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thép Việt Nam.

3.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh

nghiệp ngành thép niêm yết.

Trong giai đoạn 2013 – 2015, vòng quay vốn lưu động giảm xuống, điều đó phần

nào phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động giảm và đang ở mức thấp. DN có quy mơ

nhỏ do có tốc độ ln chuyển VLĐ thấp, nên đã phải bổ sung thêm VLĐ trong giai đoạn

2012 – 2015. Các DN thuộc SHNN phải bổ sung thêm. Điều đó phần nào cho thấy

hiệu quả sử dụng vốn lưu động của DN thuộc SHTN tốt hơn các DN thuộc SHNN. Do

đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là cần thiết.

- Đối với vốn tồn kho dự trữ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.19: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định theo quy mô và tỷ lệ SHNN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×