Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1: Sản lượng sản xuất thép của Việt Nam năm 2015

Hình 2.1: Sản lượng sản xuất thép của Việt Nam năm 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

32

tấn/năm, công ty Gang thép Thái Nguyên với công suất 550.000 tấn/năm. Có khoảng

20 doanh nghiệp tầm cỡ trung bình có cơng suất từ 120.000 – 300.000 tấn/năm. Ngồi

ra còn rất nhiều các nhà máy với quy mô công suất nhỏ dưới 120.000 tấn/năm, trong

đó vẫn tồn tại nhiều nhà máy nhỏ với công suất 10.000 – 50.000 tấn/năm. Trên thị

trường niêm yết hiện nay mới chỉ có 2 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng là Hoà

Phát (HPG) và Việt Ý (VIS), 1 doanh nghiệp sản xuất ống thép là ống thép Hữu Liên

Á Châu (HLA) và 4 doanh nghiệp kinh doanh thương mại thép. Ngoại trừ công ty cổ

phần thép Hồ Phát có quy mơ vốn lớn, còn lại các cơng ty khác vốn đều nhỏ.

Về phía cung: Theo Hiệp hội thép Việt Nam (VSA), trong năm 2015, sản xuất

các sản phẩm thép của Việt Nam đã đạt 14.988.000 tấn, tăng 21,54% so với năm 2014.

Theo Tổng Cục Hải Quan, năm 2015, lượng thép thành phẩm và bán thành phẩm xuất

khẩu ước đạt 2,934 triệu tấn, giảm 8,62% so với cùng kỳ 2014; trong đó lượng thép

thành phẩm xuất khẩu trong năm đạt 835.000 tấn, tăng 2,9%. Xuất khẩu giảm là do các

vụ kiện chống bán phá giá đưa ra ngày một nhiều, với mục đích nhằm bảo vệ hàng sản

xuất kinh doanh trong nước. Thị trường xuất khẩu truyền thống của ngành thép chủ

yếu vẫn là các nước trong khối ASEAN. Trong năm qua, Việt Nam đã xuất khẩu sang

thị trường này gần 1,8 triệu tấn thép các loại với tổng trị giá gần 1,13 tỷ USD.

Campuchia là quốc gia ASEAN nhập khẩu thép lớn nhất của Việt Nam với khoảng 667

ngàn tấn, trị giá 362 ngàn USD. Tiếp sau đó lần lượt là các quốc gia Indonesia, Thái

Lan, Malaysia… Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thép trong năm 2015 ước đạt

khoảng 1,6 tỷ USD, giảm lần lượt 4,1% về lượng và giảm 16,7% về giá trị. Với con số

này, nhập siêu của ngành thép đạt khoảng 7,4 tỉ USD, mức tăng này theo đánh giá của

Hiệp hội Thép là cao nhất trong ba năm gần đây.

Về phía cầu: Tiêu thụ nội địa: Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Thép Việt

Nam, trong năm 2015, tổng lượng thép tiêu thụ đạt 122.000 tấn, tăng 28,02% so với

năm 2014. Nhập khẩu của Việt Nam: Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến

hết tháng 12/2015, lượng sắt thép cả nước nhập về là 15,7 triệu tấn, tăng 33,1% về

lượng, đưa mặt hàng này thuộc nhóm hàng nhập khẩu chính trong năm; trong đó nhập

khẩu thép thành phẩm đạt 792.000 tấn, tăng 22,56% so với cùng kỳ 2014; Trong đó,

với mặt hàng sắt thép các loại: Lượng nhập khẩu trong tháng 12 đạt 1,78 triệu USD

với trị giá đạt 667,86 triệu USD, tăng 44,3% về lượng và 29,5% về trị giá so với tháng



33

11.2015. Đơn giá nhập khẩu sắt thép các loại bình quân giảm 27,1% nên trị giá nhập

khẩu là 7,49 tỷ USD, giảm nhẹ 2,9% so với năm 2014… Sắt thép các loại nhập khẩu

vào Việt Nam trong năm qua từ Trung Quốc là 9,6 triệu tấn, tăng mạnh 54% và chiếm

tới 61,3% tổng lượng nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. Với các sản phẩm từ sắt

thép: Tính đến hết tháng 12/2015, tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước

là 3,81 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2014.

Hiện nay, ngành sản xuất thép Việt Nam vẫn đang tăng trưởng với tốc độ 2 con

số, đạt trung bình 15%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Tổng sản lượng thép sản xuất

bởi các doanh nghiệp trong nước năm 2015 là gần 15 triệu tấn. Thế mạnh của ngành

thép Việt Nam vẫn là các sản phẩm thép xây dựng, với thép thanh chiếm 40% tổng sản

lượng thép tồn ngành. Thép hình chiếm tỷ trọng nhỏ (1%), do đó còn dư địa tăng

trưởng rất lớn, đạt mức tăng trưởng cao nhất, hơn 200% trong năm 2015. Đối với hoạt

động xuất khẩu, mặt hàng chủ lực của Việt Nam hiện nay là tôn mạ kim loại và sơn

phủ màu với lượng xuất khẩu đạt hơn 1 triệu tấn năm 2015, tương ứng với tỷ trọng

37%. Điểm yếu của ngành thép Việt Nam là đa số các doanh nghiệp sản xuất ở quy mô

nhỏ, công nghệ sản xuất chỉ ở mức trung bình so với thế giới, và đa số chỉ tham gia ở

khâu gần cuối của chuỗi giá trị; do đó, giá trị gia tăng thấp, dẫn tới doanh thu và lợi

nhuận không cao. Mặt khác, các doanh nghiệp này phụ thuộc chủ yếu vào nguồn

nguyên liệu bán thành phẩm là phôi thép nhập khẩu để sản xuất nên biên lợi nhuận

chịu sự chi phối lớn từ biến động giá thế giới. Chỉ có một số các doanh nghiệp có quy

mơ lớn, xây dựng thành các khu liên hợp gang, thép với dây chuyền sản xuất khép kín,

khai thác từ thượng nguồn nguyên liệu như Hòa Phát, Formosa Hà Tĩnh có lợi thế

cạnh tranh lớn do quản lý và tiết giảm chi phí hiệu quả, nhờ đó sẽ ngày càng mở rộng

thị phần. Giai đoạn 2014-2015, cùng xu thế khó khăn chung của các thị trường thép

toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam, một mặt chịu áp lực cạnh tranh nội địa, nhưng

mặt khác nghiêm trọng hơn phải đối phó với thép Trung Quốc nhập khẩu giá rẻ. Theo

số liệu thống kê 2015, nhu cầu tiêu thụ trong nước chỉ chiếm khoảng 67% tổng lượng

sản xuất ra, tương ứng với gần 10 triệu tấn, trong khi nhập khẩu tăng mạnh 32%,

tương ứng với 15,7 triệu tấn, trong đó Trung Quốc chiếm tới 61%. Trong thời gian tới,

ngay cả khi thị trường thép thế giới phục hồi trở lại, ngành thép Việt Nam vẫn phải đối

mặt với nhiều thách thức hơn khi các hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký kết bắt



34

đầu có hiệu lực, đặc biệt là các FTAs với các cường quốc thép như ACFTA với Trung

Quốc, FTA Việt Nam – liên minh kinh tế Á – Âu trong đó có Nga. Mặc dù trong các

FTAs này, thép vẫn được xếp vào ngành nhạy cảm và được bảo hộ với mức thuế suất

nhập khẩu cao. Tuy nhiên, theo cam kết với WTO, việc thời gian bảo hộ không được

quá 10 năm sẽ sớm đưa các doanh nghiệp thép ra thị trường cạnh tranh minh bạch. Do

đó, các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam muốn trụ vững và phát triển trong tương lai

cần tạo dựng năng lực sản xuất vững vàng dựa trên công nghệ sản xuất hiện đại, quy

mô sản xuất đủ lớn và kiểm sốt chi phí hiệu quả. Đồng thời, các doanh nghiệp cần

nghiên cứu mở rộng cơ cấu sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lượng giá trị

gia tăng cao, sản phẩm cho các ngành công nghiệp phụ trợ nằm trong định hướng ưu

tiên phát triển của chính phủ như thép hình, thép tấm cho cơ khí chế tạo.

2.1.2. Triển vọng ngành 2016

Năm 2016 sẽ tiếp tục khó khăn đối với các DN trong nước do dự báo sản lượng

vẫn vượt quá nhu cầu và do cạnh tranh mạnh mẽ từ thép nhập khẩu giá rẻ từ Trung

Quốc. Dự báo trong năm 2016, ngành thép sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn do:

(1) Tình trạng dư cung có thể tiếp tục kéo dài do các doanh nghiệp không chịu

cắt giảm sản lượng để giữ vững thị phần, thậm chí một số doanh nghiệp lớn như HPG,

HSG sẽ chuẩn bị hồn thành kế hoạch tăng cơng suất trong năm 2016.

(2) Giá bán thành phẩm thép tiếp tục giảm theo xu hướng của giá nguyên liệu

đầu vào, nguồn cung dồi dào từ trong và ngoài nước sẽ đẩy giá thép xuống sâu trong

những năm tới. Lượng tồn kho thép xây dựng lớn, trong khi giá nguyên liệu lẫn thành

phẩm vẫn đang tiếp tục giảm khiến chi phí trích lập giảm giá hàng tồn kho tăng cao.

(3) Cạnh tranh trong ngành ngày một khốc liệt, khi những doanh nghiệp sử

dụng cơng nghệ lò điện lạc hậu đang dần bị thị trường loại bỏ, thị phần tiếp tục cô đặc

hơn và tập trung về tay những doanh nghiệp lớn, có lợi thế về chi phí sản xuất.

(4) Cạnh tranh từ thép Trung Quốc nhập khẩu tiếp tục là mối quan tâm lớn của tất

cả các doanh nghiệp nội địa. Do kinh tế tăng trưởng chậm lại, quy hoạch ngành thép với

công suất thiết kế quá lớn khiến cho lượng cung hàng vượt xa so với cầu tiêu dùng nội

địa đang yếu đi rõ rệt, các doanh nghiệp thép Trung Quốc bắt buộc phải tìm cách để xuất

khẩu, dù cho phải bán với giá thấp hơn chi phí sản xuất, và Việt Nam trở thành thị

trường lí tưởng do thị trường BĐS đang có xu hướng hồi phục, vị trí địa lý kề bên giúp



35

tiết kiệm chi phí vận chuyển. Trong 10T.2015, lượng thép nhập khẩu từ Trung Quốc đã

tăng 61,6% về lượng nhưng chỉ tăng 0,2% về trị giá (chiếm 75% tổng lượng phôi nhập

khẩu, và 55,6% kim ngạch nhập khẩu thép) cho thấy sự quyết liệt trong việc phá giá sản

phẩm thép xuất khẩu sang Việt Nam nhằm tiêu thụ hàng tồn kho. Bên cạnh đó, để có thể

tránh thuế, phôi thép Trung Quốc nhập về được bổ sung các nguyên tố Bo, Crom để

hưởng mức thuế ưu đãi đối với thép hợp kim là 0% thay vì 9%.

(5) Một số chính sách bảo hộ mới trong năm 2016 có thể hạ sức nóng cạnh

tranh từ thép Trung Quốc, song chúng tôi cho rằng mức độ sẽ không đáng kể. Theo dự

thảo sửa đổi Thông tư 164, Bộ Tài chính dự kiến tăng mức thuế nhập khẩu ưu đãi với

mặt hàng phôi thép lên 10%, đối với mặt hàng thép hợp kim lên 15%. Đồng thời, Bộ

Xây dựng cũng yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với thép xây dựng dùng trong cơng trình.

Các biện pháp phòng vệ bằng thuế quan mặc dù có tác động tích cực. Tuy

nhiên, mức độ hiệu quả có thể sẽ khơng cao như kỳ vọng do cam kết tại các hiệp định

tự do thương mại đã hạn chế mức trần đối với thuế ưu đãi mặt hàng thép ở mức 1015%. Đặc biệt, ACFTA với Trung Quốc quy định năm 2018 sẽ đưa mức thuế nhập

khẩu thép hợp kim về 0% theo lộ trình. Trong khi đó, chi phí sản xuất của các doanh

nghiệp thép Trung Quốc thấp hơn rất nhiều so với Việt Nam nhờ vào ưu đãi thuế (ở

mức 5%, bằng khoảng 1/3 mức thuế trung bình doanh nghiệp Việt Nam đang phải

chịu), và lợi thế về quy mô sản xuất giúp cho giá thành của sản phẩm thép Trung Quốc

rẻ đáng kể, thêm vào đó, các nhà sản xuất Trung Quốc tiếp tục chịu lỗ bán ra để nhanh

chóng thu hồi vốn khiến cho giá bán thép tiếp tục giảm sâu (-30% yoy).

Formosa chưa phải mối đe dọa đối với các doanh nghiệp thép nội địa trong

ngắn và trung hạn. Bên cạnh thép nhập khẩu, nhân tố cạnh tranh thị phần với các

doanh nghiệp trong nước sẽ đến từ khu liên hiệp gang thép Formosa tại Hà Tĩnh với

mức đầu tư sản xuất trên quy mơ lớn và cơng nghệ lò cao hiện đại. Tuy nhiên, chúng

tôi cho rằng trong ngắn hạn Formosa vẫn chưa là mối đe dọa lớn với các doanh nghiệp

nội địa bởi hoạt động chủ yếu của Formosa trong giai đoạn 1 tập trung vào sản xuất

nguyên liệu cho ngành thép (phơi thép và thép cuộn nóng) và xuất khẩu sang

Malaysia, Thái Lan.

Trong trung hạn, rủi ro khơng tiêu thụ được hàng hóa tại nước ngồi và trở lại

cạnh tranh tại Việt Nam của Formosa là không lớn do: (1) Mặt hàng chủ yếu trong giai



36

đoạn 1 của Formosa là thép dẹt (87% công suất), không cạnh tranh trực tiếp với mảng

thép xây dựng của các doanh nghiệp thuộc các nước sở tại. (Lưu ý rằng, mặt hàng thép

dẹt tại khu vực Đông Nam Á vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp sản xuất, tỷ lệ nhập

khẩu vẫn là 92%). (2) Vị trí địa lý thuận lợi tại cảng Vũng Áng giúp tiết kiệm chi phí

vận chuyển sang Malaysia và Thái Lan so với các đối thủ tại Nhật và Trung Quốc, kèm

theo đó là ưu đãi thuế xuất khẩu 0% giúp nâng cao vị thế cạnh tranh của Formosa trên

thị trường tiêu thụ.

2.2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

NGÀNH THÉP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

2.2.1. Dữ liệu phân tích

Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 19 công ty trong ngành thép được niêm

yết trên TTCK Việt Nam. Dữ liệu được lấy từ bảng CĐKT, báo cáo KQHĐKD, báo

cáo LCTT và vốn hóa thị trường của các cơng ty trong ngành thép 2010 – 2015.

Bảng 2.1: Danh sách các công ty trong mẫu nghiên cứu

TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19



Cơng ty

BVG

DNY

DTL

HLA

HMC

HPG

HSG

ITQ

KKC

KMT

NKG

POM

SMC

SSM

TDS

TIS

TLH

VGS

VIS



Năm

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015

2015



Tài sản bình qn

429,851

2,298,106

2,386,671

1,209,596

975,818

23,797,937

9,024,722

405,020

194,533

430,058

3,254,605

8,246,580

3,565,034

158,747

403,001

10,253,124

1,987,234

1,256,384

2,008,804



Tỷ lệ SHNN

55.67%

82.95%

5.05%

65%

77.32%

-



Nguồn: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp và tính tốn của tác giả

Theo tiêu thức quy mơ tài sản, có thể chia các DN trong mẫu nghiên cứu thành

3 nhóm:

+ Nhóm doanh nghiệp có quy mơ nhỏ với tổng TSBQ dưới 1000 tỷ đồng.



37

+ Nhóm doanh nghiệp có quy mơ vừa có tổng TSBQ từ 1000 - 10.000 tỷ đồng.

+ Nhóm doanh nghiệp có quy mơ nhỏ với tổng TSBQ trên 10.000 tỷ đồng

Bảng 2.2: Phân loại doanh nghiệp nghiên cứu theo quy mô tài sản

Quy mô nhỏ

Dưới 1000

(Tỷ đồng)

7

36,84%



Tài sản

Số lượng DN

Tỷ lệ



Quy mô vừa

Từ 1000 - 10000

(Tỷ đồng)

10

52,63%



Quy mô lớn

trên 10000

(Tỷ đồng)

2

10,53%



Nguồn: Tính tốn của tác giả từ BCTC của doanh nghiệp

Theo tiêu thức sở hữu Nhà nước, có thể chia các doanh nghiệp trong mẫu

nghiên cứu thành 2 nhóm:

+ Nhóm doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân (với tỷ lệ SHNN nhỏ hơn 50%).

+ Nhóm doanh nghiệp sở hữu Nhà nước (với tỷ lệ SHNN lớn hơn 50%).

Bảng 2.3: Phân loại doanh nghiệp nghiên cứu theo tỷ lệ SHNN

Tỷ lệ sở hữu

Số lượng DN

Tỷ lệ



SHTN

15

78,95%



SHNN

4

21,05%



Nguồn: Tính tốn của tác giả từ BCTC của doanh nghiệp

2.2.2. Đánh giá khái qt tình hình tài chính của doanh nghiệp ngành thép

niêm yết tại Việt Nam

2.2.2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài sản

Phần tài sản phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có tại thời điểm lập báo

cáo, thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Các số liệu trên phần tài sản

phản ánh quy mô và kết cấu các loại vốn và tài sản của doanh nghiệp hiện có tại thời

điểm lập báo cáo tồn tại dưới hình thái vật chất hoặc phi vật chất. Phân tích tài sản sẽ

đánh giá một cách tổng quát quy mô, kết cấu và mức độ phân bổ sử dụng vốn của

doanh nghiệp.

Về quy mô tài sản



Bảng 2.4: Sự biến động tài sản của doanh nghiệp ngành thép niêm yết

Chỉ tiêu



2010



TSNH



1.641.126



Tiền và TĐT



157.819



2011

1.773.12

5

146.520



2012

1.755.795

169.930



2013

1.923.16

4

204.132



2014



2015



BQ



2.182.248



1.944.127



1.869.931



189.440



183.995



175.306



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1: Sản lượng sản xuất thép của Việt Nam năm 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×