Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

13

vẹn vào sản phẩm. Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao

động, trong quá trình sản xuất thay đổi về số lượng, tăng lên do sức lao động của hàng

hoá tăng.

Theo David begg, Stenley Ficher trong cuốn Kinh tế học thì: Vốn hiện vật là

giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác,

ngồi ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếp tục sử

dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình

thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục

đích của việc sử dụng vốn. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là

phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để

đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh động

cơ về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn. Do vậy quan điểm

này cũng không đáp ứng được nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như phân

tích vốn. Có thể thấy các quan điểm khác nhau ở trên một mặt thể hiện được vai trò tác

dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể. Mặt

khác trong cơ chế thị trường hiện nay đứng trên phương diện hạch tốn và quản lý các

quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích các quan điểm vốn ở trên khái niệm cần thể hiện được các

vấn đề sau:

- Nguồn vốn sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân

được tái đầu tư để phân biệt với đất đai, vốn nhân lực.

- Trong trạng thái của vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh

doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định và tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (tiền mặt

gửi ngân hàng, các tín phiếu, các chứng khốn...) là cơ sở đề ra các biện pháp quản lý

vốn kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả.

- Phải thể hiện được mục đích sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích kinh tế,

lợi ích xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hướng cho q trình quản lý kinh tế

nói chung quản lý vốn nói riêng.



14

Từ những vấn đề nói trên, có thể nói quan niệm về vốn là: phần thu nhập quốc

dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để

tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hố lợi ích.

Trên góc độ doanh nghiệp, để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp

phải có các yếu tố: Sức lao động, Tư liệu lao động và Đối tượng lao động. Đó là những

yếu tố cần thiết của bất kỳ nền sản xuất nào. Các doanh nghiệp cần tiền để mua tư liệu

sản xuất, mua máy móc, nguyên nhiên vật liệu, để trả lương cho công nhân và các loại

chi phí khác. Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của doanh nghiệp. Số tiền này do chủ

doanh nghiệp bỏ ra ngay từ đầu khi doanh nghiệp thành lập và có thể có một phần

được hình thành từ nợ vay. Trong q trình sản xuất, DN còn phải bổ xung thêm vốn

kinh doanh, nhằm phục vụ cho sản xuất và sự phát triển của DN. Như vậy, toàn bộ giá

trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo của hoạt động sản xuất kinh doanh được

gọi là vốn. Vốn tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và khơng có hình thái vật chất

cụ thể.

Như vậy, Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ

tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích sinh lời, hay nói

cách khác, vốn là năng lực hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp

a. Căn cứ theo kết quả của hoạt động đầu tư

Theo tiêu thức này vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn kinh

doanh đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản tài chính của doanh

nghiệp.

Vốn kinh doanh đầu tư vào TSLĐ là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản lưu

động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các loại

vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của doanh

nghiệp.

Vốn kinh doanh đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản cố

định hữu hình và vơ hình, như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết

bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý …

Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào

các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác.



15

Mỗi loại tài sản đầu tư của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng và đặc điểm thanh

khoản khác nhau. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian luân chuyển của vốn

kinh doanh cũng như mức độ rủi ro trong sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Vì thế, cách phân loại trên giúp cho doanh nghiệp có thể lựa chọn được cơ cấu tài sản

đầu tư hợp lý, hiệu quả.

b. Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển vốn

Theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh, vốn kinh doanh của DN được

chia thành vốn cố định và vốn lưu động.

Vốn cố định của doanh nghiệp là số vốn đầu tư để xây dựng hoặc mua sắm các

tài sản cố định sử dụng trong kinh donah. Là số vốn tiền tệ ứng trước để xây dựng,

mua sắm TSCĐ nên quy mơ của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mơ, năng

lực và trình độ kỹ thuật của TSCĐ.

Vốn lưu động của doah nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước dùng để mua sắm,

hình thành các TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như nguyên

nhiên vật liệu dự trữ sản xuất, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…

Cách phân loại này cho thấy đặc điểm luân chuyển của từng loại vốn kin

hdoanh, từ đó giúp cho doanh nghiệp có biện pháp tổ chức quản lý, phân bổ sử dụng

vốn kinh doanh của doanh nghiệp sao cho phù hợp. Nói chúng trong hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp, vốn kinh doanh luân chuyển càng nhanh càng có hiệu quả.

Điều đó khơng chỉ giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi được vốn, hạn chế các

rủi ro có thể gặp trong kinh doanh, mà còn khắc phục được các khó khăn về vốn, bảo

tồn và phát triển được vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

c. Căn cứ vào nguồn hình thành.

- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn mà chủ sở hữu doanh nghiệp phải ứng ra để mua

sắm, xây dựng các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn chủ sở

hữu doanh nghiệp khi mới thành lập chỉ có vốn điều lệ. Trong q trình hoạt động vốn

chủ sở hữu còn tăng thêm từ các quỹ của doanh nghiệp, lợi nhuận để lại, phát hành cổ

phiếu, tăng vốn điều lệ.

- Các khoản nợ phải trả: Bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn của Ngân

hàng và các tổ chức tín dụng; Các khoản phải trả khách hàng; các khoản phải nộp

Ngân sách; Các khoản phải trả công nhân viên và các khoản phải trả khác.



16

d. Căn cứ vào tình hình sử dụng.

- Vốn sản xuất kinh doanh: Là số vốn doanh nghiệp đang trực tiếp sử dụng vào

hoạt động kinh doanh. Vốn kinh doanh lại chia thành vốn cố định và vốn lưu động.

Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ

hữu hình và vơ hình của doanh nghiệp. Vốn lưu động là số vốn đầu tư ứng trước tồn

tại dưới hình thái tài sản lưu động.

- Vốn đầu tư: Là số vốn mà doanh nghiệp đã và đang ứng ra, nhưng chưa đem

lại hiệu quả. Số vốn này chúng sẽ phát huy hiệu quả trong tương lai.

e. Căn cứ vào đối tượng đầu tư.

Vốn đầu tư vào bên trong doanh nghiệp: Tạo nên các loại TSCĐ và TSLĐ

Vốn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Bao gồm đầu tư ngắn hạn lẫn dài hạn

như góp vốn liên doanh liên kết, mua cổ phiếu ...

Thông thường, trong các doanh nghiệp sản xuất thì vốn cố định thường chiếm

tỷ trọng cao hơn so với vốn lưu động. Nhưng trong các ngành thương mại, dịch vụ thì

ngược lại, vốn lưu động lại chiếm tỷ trọng cao hơn vốn cố định.

f. Căn cứ theo thời gian huy động

* Nguồn vốn thường xuyên Là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng

thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm

vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay (trừ nợ dài hạn), trung hạn (trừ vay và nợ quá hạn)

* Vốn tạm thời Là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động

kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn. Nguồn vốn tạm thời bao gồm các khoản

vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người

mua, người lao động.

Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn cho thấy mỗi phương pháp có

ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Từ đó các doanh nghiệp cần có các giải pháp huy

động và sử dụng vốn phù hợp có hiệu quả.

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một doanh nghiệp khi tiến

hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận hay nói cách khác là tối đa

hố giá trị doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm các



17

biện pháp nhằm khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn lực bên trong và

ngồi doanh nghiệp. Chính vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải được

doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, đó là mục tiêu trung gian tất yếu để đạt được mục tiêu

cuối cùng bởi vốn có vai trò mang tính quyết định đối với q trình hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng trước khi thực hiện các biện pháp nhằm nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp cần phải hiểu hiệu quả sử dụng vốn là gì, nó

bao gồm những yếu tố nào:

Nói đến hiệu quả có nghĩa là đề cập đến mối quan hệ giữa kết quả đạt được và

chi phí bỏ ra, nó bao gồm hai mặt: Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã

hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu xét về

tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn chi phí,

chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.

- Hiệu qủa xã hội: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng

nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống cơng việc và sự gắn bó

của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu

chính trị xã hội.

Như vậy, hiệu quả đạt được phải có đầy đủ cả hai mặt trên có nghĩa là vừa phải

đảm bảo sự có sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra đồng thời phải đạt

được mục tiêu chính trị xã hội nhất định.

Thông qua quan điểm tổng quát đã đưa ra ở trên có thể kết luận :

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh

trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh

doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận với chi phí thấp nhất.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu khách quan để tăng thêm lợi nhuận

cũng chính là để bảo toàn và phát triển vốn. Hiệu quả sử dụng vốn được quyết định bởi

quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy doanh nghiệp phải chủ động khai thác sử dụng

triệt để tài sản hiện có thu hồi nhanh vốn đầu tư tài sản, tăng vòng quay vốn nhằm sử

dụng tiết kiệm vốn tăng doanh thu để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Vốn là điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ nâng

cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường rủi



18

ro của đồng vốn trong quá trình vận động rất cao bởi sự cạnh tranh khốc liệt giữa các

doanh nghiệp với nhau về giá thành, chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ. Vì vậy

doanh nghiệp phải chủ động về vốn có nghĩa là quản lý vốn đảm bảo hợp lý tiết kiệm,

hạn chế rủi ro thì đồng vốn mới sinh lời, vốn mới được bảo toàn.

Hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả

năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn. Nó phản ánh mối liên hệ

tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh.

Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do

đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển

vững mạnh. Việc nâng cao đó phải đảm bảo các điều kiện sau:

+ Phải khai thác các nguồn lực một cách triệt để không để vốn nhàn rỗi.

+ Sử dụng vốn một cách hợp lý, tiết kiệm.

+ Khơng sử dụng vốn sai mục đích, thất thốt do buông lỏng quản lý

+ Doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng

vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục hạn chế những khuyết điểm và phát huy

ưu điểm.

1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Theo cách tiếp cận truyền thống,hiệu quả kinh doanh được dùng để chỉ mối

quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ

thể phải bỏ ra để thực hiện mục tiêu đó trong những điều kiện nhất định.

Theo cách tiếp cận này, hiệu quả kinh doanh tuyệt đối được xác định theo

phương pháp: H = K - C

Trong đó: H Là hiệu quả kinh doanh theo số tuyệt đối K: Là kết quả đạt được

theo mục tiêu đề ra C: Là chi phí bỏ ra Thông thường, hiệu quả kinh doanh H chủ yếu

được xét đến là lợi nhuận trong kỳ. Như vậy, nếu kết quả kinh doanh K càng lớn theo

mục tiêu đề ra bao nhiêu so với chi phí bỏ ra C thì hiệu quả kinh doanh đạt được đối

với doanh nghiệp càng cao.

Hiệu quả kinh doanh H còn có thể xác định tương đối:

H = K/C



19

Do bản thân thuật ngữ hiệu quả kinh doanh có nhiều cách hiểu và tiếp cận bởi

mục tiêu, phạm vi, quy mô, thời điểm đánh giá khác nhau nên quan điểm về hệ thống

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt.

Hiệu quả sử dụng vốn là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong hoạt động tài

chính của doanh nghiệp. Vì vậy, việc xem xét và đánh giá nó sao cho chính xác phải

dựa trên nhiều tiêu thức nhằm tránh cách đánh giá phiến diện, sai lệch. Để đánh giá

hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử

dụng vốn kinh doanh, vốn cố định và vốn lưu động được sử dụng.

a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng vốn

- Vòng quay tài sản (hay vòng quay tồn bộ vốn).

Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ số vốn

hiện có của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức sau:

Doanh thu thuần trong kỳ

Tài sản hay vốn kinh doanh bình

quân sử dụng trong kỳ

Hệ số này chịu sự ảnh hưởng đặc điểm ngành kinh doanh, chiến lược kinh

Vòng quay tài sản hay

tồn bộ vốn trong kỳ



=



doanh và trình độ quản lý sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu hệ số này cao, cho

thấy doanh nghiệp đang phát huy cơng suất hiệu quả và có khả năng cần phải đầu tư

mới nếu muốn mở rộng công suất. Nếu chỉ tiêu này thấp, cho thấy vốn được sử dụng

chưa hiệu quả và là dấu hiệu cho thấy danh nghiệp có những tài sản bị ứ đọng hoặc

hiệu suất hoạt động thấp, hiệu quả sử dụng vốn thấp.

- Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP)

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh khơng

tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh.

Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

Tổng tài sản hay vốn kinh doanh

bình quân sử dụng trong kỳ

Chỉ tiêu này có tác dụng rất lớn trong việc xem xét mối quan hệ với lãi suất vay

Tỷ suất sinh lời kinh tế

của tài sản (BEP)



=



vốn để đánh giá việc sử dụng vốn vay có tác động tích cực hay tiêu cực đối với khả

năng sinh lời của vốn chủ sở hữu.

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)



20

Hệ số này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi

nhuận sau thuế.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế

trên vốn kinh doanh (ROA)



Lợi nhuận sau thuế

Vốn kinh doanh bình quân



=



- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)

Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm. Hệ số này đo lường mức lợi

nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ.

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở

=

hữu (ROE)



Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình qn



Như đã phân tích ở trên, việc đưa vào đánh giá nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả

trung gian và nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cuối cùng hàm ý nhận diện

tốt hơn nhân tố tác động tới hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Việc

nhận diện này được thực hiện thơng qua phân tích Dupont:

Phân tích Dupont là kỹ thuật tách một tỷ suất lợi nhuận thành các tỷ số tài chính

thành phần, từ đó lý giải được các nhân tố đã ảnh hưởng quyết định đến tỷ suất lợi

nhuận, giúp cho nhà quản trị đề ra các biện pháp quản lý phù hợp. Phương trình

Dupont thường được triển khai để phân tích cho tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn

kinh doanh (ROA) hoặc tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE).

Tỷ suất lợi nhuận

vốn chủ sở hữu

(ROE)



Tỷ suất lợi nhuận sau

= thuế trên doanh thu x

(ROS)



Vòng quay

tồn bộ vốn



Mức độ sử

x dụng đòn bầy

tài chính



b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Các hệ số hiệu suất hoạt động kinh doanh có tác dụng đo lường năng lực quản

lý và khai thác hiệu suất của các tài sản hiện có của doanh nghiệp. Thông thường các

hệ số hoạt động sau đây được sử dụng trong việc đánh giá mức độ hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp.

- Số vòng quay hàng tồn kho

Giá vốn hàng bán

Giá trị hàng tồn kho bình quân trong kỳ

Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu suất hoạt động của doanh

Vòng quay hàng tồn kho



=



nghiệp. Số hàng tồn kho bình qn có thể tính bằng cách lấy số dư đầu kỳ cộng với số



21

dư cuối kỳ và chia đơi. Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào

đặc điểm của ngành kinh doanh và chính sách tồn kho của doanh nghiệp. Thơng

thường, số vòng quay hàng tồn kho cao so với doanh nghiệp trong ngành chỉ ra rằng:

Việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn

được chu kỳ kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho. Nếu số vòng

quay hàng tồn kho thấp, thường gợi lên doanh nghiệp có thể dự trữ vật tư quá mức dẫn

đến tình trạng bị ứ đọng hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó, có thể dẫn đến dòng

tiền vào của doanh nghiệp bị giảm đi và có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn

về tài chính trong tương lai. Tuy nhiên, để đánh giá thoả đáng cần xem xét cụ thể và

sâu hơn tình thế của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng rất lớn của đặc điểm

ngành kinh doanh và chính sách của doanh nghiệp.

- Vòng quay nợ phải thu

Đây là chỉ tiêu phản ánh trong một kỳ, nợ phải thu luân chuyển được bao nhiêu

vòng. Nó phản ánh tốc độ thu hồi cơng nợ của doanh nghiệp như thế nào.

Vòng quay nợ phải thu



=



Doanh thu bán hàng

Số nợ phải thu bình quân trong kỳ



- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động phản ánh mức độ luân chuyển vốn lưu động

nhanh hay chậm và thường được phản ánh qua các chỉ số vòng quay vốn lưu động và

kỳ luân chuyển vốn lưu động

+ Số lần luân chuyển vốn lưu động ( Số vòng quay vốn lưu động)

Số lần luân chuyển vốn

Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ

=

Số vốn lưu động bình quân trong kỳ

lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay vốn lưu động trong một thời kỳ nhất định,

thường là 1 năm. Vòng quay vốn lưu động càng lớn thể hiện hiệu suất sử dụng vốn lưu

động càng cao. Để đơn giản, tổng mức luân chuyển VLĐ thường được xác định bằng

doanh thu thuần trong kỳ.

+ Kỳ luân chuyển VLĐ

Kỳ luân chuyển vốn lưu

động



=



Số ngày trong kỳ

Số lần luân chuyển vốn lưu động



22

Chỉ tiêu này phản ánh để thực hiện một vòng quay vốn lưu động cần bao nhiêu

ngày. Kỳ luân chuyển càng ngắn thì vốn lưu động luân chuyển càng nhanh và ngược

lại.

- Mức tiết kiệm vốn lưu động

Mức tiết kiệm vốn là chỉ tiêu phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được

do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ này so với kỳ trước. Mức tiết kiệm vốn

lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng 2 chỉ tiêu:

+ Mức tiết kiệm tuyệt đối

Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm

được một số vốn lưu động để sử dụng vào cơng việc khác. Nói cách khác: Với mức

luân chuyển vốn không thay đổi song do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên

doanh nghiệp cần số vốn ít hơn cũng như có thể tiết kiệm được một lượng vốn lưu

động để có thể sử dụng vào việc khác. Lượng vốn ít hơn đó chính là mức tiết kiệm

tuyệt đối vốn lưu động.

Mức tiết kiệm tuyệt đối vốn lưu động được tính theo cơng thức:

VTK = (1/360)*M1*K1 – V0 = V1 – V0

Trong đó:

VTK: Số vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.

V0, V1: Lần lượt là vốn lưu động bình quân năm báo cáo và năm kế hoạch.

M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động của năm kế hoạch.

K1: Thời gian luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.

+ Mức tiết kiệm tương đối

Thực chất của mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu

động nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn lưu động (tạo ra

một doanh thu thuần lớn hơn) song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy

mô vốn lưu động.

Mức tiết kiệm tương đối được xác định theo:

VTK = (M1/360)* (K1 – K0)

Trong đó: K0, K1: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo, năm kế hoạch.

- Hàm lượng vốn lưu động

Hàm lượng vốn lưu động



=



Vốn lưu động bình quân

Doanh thu thuần



23



Hàm lượng vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được một

đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động

của doanh nghiệp càng cao.

- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động

Lợi nhuận sau thuế

Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo bao nhiêu đồng lợi

Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động



=



nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động càng cao thì

chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.

Với việc nghiên cứu về vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và các chỉ

tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của

vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động có

mặt trong mọi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh từ khâu dự trữ (vốn lưu động dự trữ),

khâu sản xuất (vốn lưu động sản xuất) đến khâu lưu thông (vốn lưu động lưu thông) và

vận động theo những vòng tuần hồn. Tốc độ ln chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu

tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn

lưu động sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hơn: có thể

tiết kiệm vốn lưu động, nâng cao mức sinh lợi của vốn lưu động. Rõ ràng, qua đó

chúng ta phần nào nhận thức được sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu

động.

c. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định

- Hiệu suất sử dụng vốn cố định.

Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị vốn cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu

đơn vị doanh thu hoặc doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử

dụng vốn cố định càng cao.

Hiệu suất sử dụng vốn cố định



=



Doanh thu thuần trong kỳ

Vốn cố định bình quân trong kỳ



- Hàm lượng vốn cố định:

Chỉ tiêu này là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định.

Nó cho biết để tạo ra một đơn vị doanh thu hoặc doanh thu hoặc doanh thu thuần cần



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×