Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

phần thu lợi hoặc những khoản chi phí lúc đầu khơng hoặc khó lượng hố được nhưng

nó là những con số khơng phải là nhỏ thì lại khơng được phản ánh ở cách tính này.

1.1.1.2 Quan điểm mới về hiệu quả sản xuất kinh doanh

Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm mới về HQSXKD, nhằm khắc phục

những nhược điểm của quan điểm truyền thống. Theo quan điểm mới khi nghiên cứu

HQSXKD phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:

- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra: Về mối quan hệ này, cần

phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật; hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu

quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn

vị đầu vào (I) đầu tư thêm. Tỷ số O/I được gọi là sản phẩm biên. Hiệu quả phân bổ

nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm. Thực chất

nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào. HQSXKD

là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm. Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật

và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa.

- Yếu tố thời gian. Các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính tốn

hiệu quả. Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau

nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau.

- Hiệu quả tài chính, xã hội và mơi trường

Theo quan điểm toàn diện, HQSXKD nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu

quả tài chính, xã hội và hiệu quả mơi trường. Hiệu quả tài chính mà trước đây ta quen

gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi

nhuận, giá thành, tỷ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn.... [9]. Hiệu quả xã hội

(HQXH) bao gồm lợi ích xã hội mà quá trình sản xuất kinh doanh đem lại như: Việc

làm, mức tăng về GDP do tác động của việc sản xuất kinh doanh, sự công bằng xã hội

và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái.... [9]. Một số tác

giả khác khi đánh giá HQSXKD cho rằng cần phân biệt hai khái niệm HQSXKD và

hiệu quả xã hội. HQSXKD được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả

đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa



5



các lợi ích xã hội thu được và tổng chi phí bỏ ra. HQSXKD và hiệu quả xã hội có mối

quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất.

Việc phân biệt hiệu quả tài chính hay hiệu quả xã hội là tuỳ theo phạm vi và mức độ

của sự phân tích là của cá nhân hay cả xã hội khi xem xét. Hiệu quả tài chính được

phân tích trên quan điểm lợi ích của từng cá nhân, từng DN thực hiện sản xuất kinh

doanh; chỉ tính tốn những lời lãi thơng thường trong phạm vi tài chính để cho người

đầu tư ra quyết định đầu tư. Hiệu quả xã hội thì được phân tích trên lợi ích của tồn xã

hội để xem xét sự phát triển chung của xã hội như mức tăng trưởng, sự công bằng xã

hội và sự phát triển cộng đồng và cả về vấn đề mơi trường.... Vì vậy, tuỳ theo phạm vi

xem xét là của cá nhân, DN hay tồn xã hội mà có hiệu quả tài chính hay hiệu quả xã

hội.

Thông thường, đối với các DN SXKD họ chú ý nhiều tới hiệu quả tài chính. Tuy

nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng mặc dù với mục tiêu là lợi nhuận nhưng các DN

không thể không chú ý tới hiệu quả kinh tế xã hội bởi không chỉ do sự kiểm sốt của

Chính phủ mà còn là ý thức cộng đồng, dân tộc.

- Đánh giá SXKD thông qua việc so sánh giữa lợi ích và chi phí.

Quan điểm đánh giá hiệu quả gắn với việc xem xét quá trình phát triển và tăng trưởng

cho phép đưa ra một cách nhìn tổng quát hơn về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Một

mặt, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống về đánh giá HQSXKD ở chỗ

nó cũng nhằm so sánh chi phí bỏ ra và lợi ích thu được. Mặt khác, quan điểm này có

cách nhìn nhận rộng hơn về khái niệm chi phí và lợi ích [1].

Về chi phí, các quan niệm truyền thống chỉ chú ý chủ yếu vào các yếu tố tiền bạc, vật

chất, cơng sức bỏ ra cho q trình SXKD [1]. Quan điểm mới cho rằng ngồi yếu tố

chi phí trên còn phải tính đến các chi phí phi vật chất và gián tiếp như các tác động bất

lợi của hoạt động sản xuất kinh doanh đến môi trường (ô nhiễm môi trường, thay đổi

bất lợi cho hệ sinh thái,vv...) và đến xã hội như khoảng cách giàu và nghèo, công bằng

trong phân phối ....



6



Về lợi ích, quan điểm mới tính đến ba phạm trù: Lợi ích tài chính, xã hội và lợi ích về

mơi trường. Lợi ích tài chính bao gồm việc đạt được kết quả, năng suất cao cho các

hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ [9]. Lợi ích xã hội thể hiện ở khả năng đảm

bảo công bằng trong phân phối các nguồn lực và phúc lợi xã hội giữa các vùng, giữa

các cộng đồng dân cư trong cùng một vùng..... [9]. Đồng thời đảm bảo sự bền vững

của hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các cơ chế tham gia của người hưởng lợi

vào các quá trình đầu tư và sử dụng thành quả đầu tư, thực hiện được mục tiêu ổn định

xã hội. Lợi ích môi trường là khả năng bảo tồn và phát triển tài nguyên môi trường

(đất, nước, đa dạng sinh học ...).

Quan niệm mới về HQSXKD cho phép đánh giá toàn diện hơn các tác động do hoạt

động sản xuất kinh doanh mang lại, phù hợp với xu thế thời đại và chiến lược tăng

trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia ngày nay.

Từ các quan điểm về HQSXKD ở trên, chúng ta thấy bản chất của HQSXKD là nâng

cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết

với vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh trong cơ chế thị trường cùng với sự

khan hiếm các nguồn lực buộc các DN phải thực hiện tận dụng triệt để các nguồn lực, sử

dụng tiết kiệm nhất với mong muốn đạt kết quả đầu ra tốt nhất.

Như vậy, từ những phân tích trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về HQSXKD như

sau: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các

nguồn lực đầu vào của DN để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh

doanh với chi phí thấp nhất.

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Khái niệm HQSXKD đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản

xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh

trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và

tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của

DN – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận [9].

Như vậy, có thể thấy HQSXKD không chỉ thể hiện ở riêng một chỉ tiêu nào mà nó bao

gồm hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh trình độ khai thác, quản lý và sử dụng



7



của DN về nhân lực, vật lực, trí lực…[1], [9], [14] hay nói một cách chung nhất

HQSXKD phản ánh trình độ quản lý của mỗi DN.

HQSXKD cần phải được hiểu một cách đầy đủ trên cả hai phương diện định tính và

định lượng.

Về mặt định tính, HQSXKD phản ánh sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản lý của mỗi

khâu, mỗi cấp trong DN và sự gắn bó của chúng trong việc kết hợp giải quyết những

yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu xã hội.

Về mặt định lượng, HQSXKD biểu hiện mối tương quan so sánh giữa kết quả thu được

và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó [1], [9], [14]. Xét tổng quát, người ta chỉ thu được

hiệu quả sản xuất kinh doanh khi nào kết quả đầu ra lớn hơn chi phí (bao gồm cả chi

phí cơ hội). Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao

và ngược lại.

Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa chi

phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra của một quá trình. Nếu gọi H là hiệu quả

kinh doanh:

Hiệu quả



Kết quả đầu ra



(1.1)



=

kinh doanh (H)



Chi phí đầu vào



Cơng thức (1.1) thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu được kết quả cao hơn

tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H>1, H càng lớn càng

chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả càng cao. Để tăng hiệu quả (H), chúng ta có thể sử dụng

những biện pháp như: giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng

đầu ra; hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra,…Đầu vào ở đây có thể bao gồm các chi phí đã bỏ

vào quá trình SXKD, vốn đầu tư, nguồn nhân lực…Đầu ra bao gồm các kết quả mà DN

nhận được như doanh thu, lợi nhuận, sự tăng trưởng kinh tế…

Chúng ta có thể cải tiến quản lý điều hành nhằm sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực,

giảm tổn thất, để tăng cường giá trị đầu ra. Nhưng nếu quá trình sản xuất kinh doanh

đã hợp lý thì việc áp dụng các biện pháp trên sẽ bất hợp lý. Lí do là ở chỗ các DN

không thể giảm đầu vào mà không làm giảm giá trị đầu ra và ngược lại. Thậm chí



8



trong thực tế, ngay cả khi q trình sản xuất kinh doanh của các DN còn bất hợp lý

nhưng khi DN áp dụng những biện pháp trên có thể làm cho hiệu quả giảm xuống.

Chính vì vậy, để có được một hiệu quả khơng ngừng tăng lên đòi hỏi các DN khơng

những khơng giảm mà còn phải tăng chất lượng đầu vào. Với nguyên vật liệu tốt hơn,

lao động có tay nghề cao hơn, máy móc cơng nghệ hiện đại hơn, ta sẽ giảm đi lượng

hao phí nguyên vật liệu, hao phí lao động, hao phí năng lượng, thiết bị trên từng đơn vị

sản phẩm, phế phẩm giảm đó là điều kiện để có những sản phẩm với số lượng, chất

lượng cao, giá thành hạ. Như vậy để tăng hiệu quả kinh doanh chỉ có con đường duy

nhất là khơng ngừng đầu tư vào công nghệ, nguồn nhân lực, quản lý,... Qua đó giá trị

đầu ra ngày càng tăng, đồng thời càng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, của DN

trên thương trường.

Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất

kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của

hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN là

những gì mà DN đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả

cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của DN. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

một DN có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ

mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, ... và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản

ánh mặt chất lượng hồn tồn có tính chất định tính như uy tín của DN, là chất lượng

sản phẩm, ... [10], [12]. Như vậy, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của DN. Trong khi

đó, cơng thức (1.1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người

ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để

đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh

cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn

vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải

khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” khơng có cùng một đơn vị đo lường còn việc

sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo

lường – tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế

của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong

thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong



9



nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả

năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết qủa [12].

Cần chú ý rằng hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất

trong một thời kỳ kinh doanh nào đó hồn tồn khác với việc so sánh sự tăng lên của

kết quả với sự tăng lên của sự tham gia các yếu tố đầu vào [9].

1.1.3 Các quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD phải được xem xét một cách tồn diện, khơng

chỉ đánh giá ở kết quả đạt được mà điều quan trọng là phải đánh giá chất lượng của kết

quả đạt được đó. Do vậy, khi đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD cần phải quán triệt

một số yêu cầu mang tính nguyên tắc sau:

- Đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD phải đánh giá cả về mặt định tính và định

lượng:

Hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu

của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp rất đa dạng, có mục tiêu lượng hố

được, có mục tiêu khơng thể lượng hố được.

Về mặt định lượng, hiệu quả SXKD phải được xem xét trong mối tương quan giữa cái

được và cái mất. Đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD về mặt định lượng thông qua các

chỉ tiêu định lượng, nó được thể hiện bằng các con số cụ thể. Đánh giá hiệu quả hoạt

động SXKD về mặt định tính cho chúng ta biết được tổng quát tình hình hoạt động của

doanh nghiệp, và được sử dụng trong các trường hợp không thể đo lường bằng các con

số cụ thể hoặc khó định lượng được. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD

của doanh nghiệp phải xem xét đến cả hai mặt: mặt định tính và mặt định lượng.

- Đánh giá hiệu quả SXKD phải xem xét cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài:

Khi xem xét đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp cần chú ý đến tất

cả các mặt, các khâu, các yếu tố của quá trình SXKD; phải xem xét ở góc độ về phạm

vi khơng gian và thời gian. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hiện tại phải phù hợp với

chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Để tồn tại, các doanh nghiệp khơng chỉ

tập trung vào lợi ích trước mắt mà cần phải chú ý đến lợi ích lâu dài, có như vậy doanh



10



nghiệp mới phát triển bền vững. Hiệu quả hoạt động SXKD trong một giai đoạn dù lớn

đến đâu cũng khơng được đánh giá cao nếu nó làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của

doanh nghiệp xét trong dài hạn. Do đó, việc xem xét hiệu quả lâu dài là hết sức quan

trọng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới thâm nhập thị trường, họ cần phải bỏ

qua lợi ích trước mắt để tập trung vào việc chiếm lĩnh thị trường, tạo lập uy tín với

khách hàng, các chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi trong giai đoạn này là rất lớn.

Vì thế, lợi nhuận thu được là rất thấp thậm chí doanh nghiệp có thể bị thua lỗ. Tuy

nhiên, về lâu dài khi đã chiếm lĩnh được thị trường doanh nghiệp sẽ tăng doanh thu

giảm bớt các chi phí quảng cáo, tiếp thị và lợi nhuận thu được cũng sẽ tăng lên. Vì vậy,

khi xem xét hiệu quả SXKD chúng ta không chỉ chú ý đến lợi ích trước mắt mà cần

chú ý đến lợi ích lâu dài, có như vậy doanh nghiệp mới phát triển bền vững và thật sự

mang lại hiệu quả.

- Đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD phải xem xét cả lợi ích của doanh nghiệp, lợi

ích của xã hội và của người lao động:

Hoạt động SXKD của mỗi doanh nghiệp đều có tác động đến sự phát triển chung của

ngành, của khu vực và cả nền KTQD bởi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế.

Tác động này có thể diễn ra theo hướng tích cực góp phần thúc đẩy sự phát triển cho

ngành, vùng kinh tế và cả nền kinh tế. Nhưng cũng có thể tác động theo hướng tiêu

cực, tức là có thể doanh nghiệp đạt hiệu quả hoạt động SXKD song để đạt được hiệu

quả đó nó đã tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp khác, đến ngành, vùng kinh tế

thậm chí đến cả toàn bộ nền kinh tế.

Sự ổn định kinh tế vĩ mô của một quốc gia là nhân tố quan trọng tạo điều kiện thuận

lợi thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp. Giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của

doanh nghiệp có sự ràng buộc lẫn nhau, đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả hoạt động

SXKD phải được xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc

gia đó. Khi đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp chúng ta không chỉ

xem xét trong phạm vi của doanh nghiệp mà phải xem xét hiệu quả trong phạm vi của

ngành, khu vực và của cả nền kinh tế. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD cũng

được xem xét trong mối liên hệ với lợi ích người lao động, việc nâng cao hiệu quả hoạt

động SXKD phải gắn liền với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và trình độ tay



11



nghề của người lao động. Điều đó tạo nên động lực mạnh mẽ để người lao động phát

huy khả năng sáng tạo của mình. Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao

hiệu quả hoạt động SXKD cần chú ý đến việc phân phối kết quả lao động, đảm bảo hài

hồ lợi ích giữa người lao động - doanh nghiệp - xã hội.

- Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải căn cứ vào

kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị:

Kết quả biểu hiện thông qua các chỉ tiêu hiện vật mới chỉ phản ánh được một mặt

những gì mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động SXKD đó. Do đó, khi xem xét đánh

giá hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp phải căn cứ vào kết quả cuối cùng đạt

được trên cả hai mặt hiện vật và giá trị. Chỉ có như vậy thì mới có đủ cơ sở và việc

đánh giá mới đảm bảo tính đúng đắn và tính tồn diện.

1.1.4 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ

chế thị trường

Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải ln gắn mình với thị trường, nhất

là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự cạnh tranh lẫn nhau.

Do đó, để tồn tại được trong cơ chế thị trường cạnh tranh hiện nay các doanh nghiệp

phải hoạt động một cách có hiệu quả hơn [13].

Các nguồn lực sản xuất ngày càng được con người sử dụng nhiều hơn vào các hoạt

động sản xuất ra sản phẩm, hàng hoá phục vụ cho nhu cầu khác nhau của mình. Nhu

cầu của con người ngày càng đa dạng, phong phú và khơng có giới hạn, ngược lại

nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng giảm đi và tạo ra sự khan hiếm. Đứng trước

tình hình này, doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: Sản xuất cái

gì?, Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? vì thị trường chỉ chấp nhận những

doanh nghiệp nào sản xuất đúng sản phẩm (dịch vụ) với số lượng, giá cả và chất lượng

phù hợp với yêu cầu của khách hàng [9]. Nếu DN không trả lời đúng ba vấn đề trên thì

việc sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để sản xuất ra sản phẩm sẽ không tiêu thụ

được trên thị trường, tức là kinh doanh khơng có hiệu quả, lãng phí nguồn lực xã hội

và sẽ khơng có khả năng tồn tại [9].



12



Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng

quản trị của mình. Việc xem xét và tính tốn hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho

biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích,

tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết

quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả. Bản chất của phạm trù hiệu

quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất: trình độ sử dụng các nguồn lực

sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một

nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng

các nguồn lực đầu vào [10]. Đây là điều kiện tiên quyết để DN đạt mục tiêu lợi nhuận

tối đa. Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất

kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm

tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi

nhuận tối đa. Với tư cách một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả

khơng chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp

các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn được

sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động

SXKD của DN cũng như ở từng bộ phận cấu thành của DN [13]. Và như đã lưu ý, do

phạm trù hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp người ta coi

nó khơng phải chỉ như phương tiện để đạt kết quả cao mà còn như chính mục tiêu cần

đạt [10].

Với những lý do nêu trên, việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD trong mỗi DN như

là một tất yếu khách quan, vì lợi ích của doanh nghiệp cũng như vì lợi ích của toàn xã

hội.

1.1.5 Nội dung và phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

1.1.5.1 Nội dung đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Mỗi đơn vị, mỗi doanh nghiệp khi tiến hành đánh giá hiệu quả kinh doanh đều mong

muốn thông qua kết quả phân tích để đạt được kết quả kinh doanh cao hơn, mà kết quả

đó được cụ thể qua chỉ tiêu lợi nhuận [1]. Tuy nhiên, lợi nhuận chỉ là kết quả cuối cùng

doanh nghiệp có thể nhận được, nhưng để có kết quả đó cần có một q trình với sức



13



mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố. Chính vì vậy, nội dung đánh giá hiệu quả kinh doanh

không phải là phân tích từng chỉ tiêu riêng lẻ mà là sự kết hợp của một hệ thống chỉ

tiêu phân tích [14].

Như vậy, để có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện, liên kết được các

chỉ tiêu cũng như các nhân tố ảnh hưởng, cần phân tích hiệu quả kinh doanh trên nhiều

góc độ khác nhau, có thể tổng hợp các nội dung đánh giá sau:

- Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

và Bảng cân đối kế tốn. Phân tích khái qt sẽ cho phép đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp và “thu hút” sự chú ý của nhà phân tích vào một số biến động

đột biến của các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối

kế tốn có ảnh hưởng đến việc xác định và đánh giá các chỉ tiêu phân tích hiệu quả

kinh doanh khác [14].

- Đánh giá hiệu quả kinh doanh qua nhóm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng và sức sinh lời

của chi phí hay các yếu tố đầu vào. Nhóm chỉ tiêu này được xây dựng bằng cách đánh

giá tương quan giữa một đơn vị kết quả thu được với một đơn vị chi phí hoặc yếu tố

đầu vào [14].

- Đánh giá hiệu quả kinh doanh qua nhóm chỉ tiêu tốc độ luân chuyển của chi phí hay

các yếu tố đầu vào. Nhóm chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh tương quan

giữa doanh thu với chi phí hay các yếu tố đầu vào [14].

1.1.5.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đánh giá hiệu quả kinh doanh là một nội dung rất quan trọng của phân tích kinh doanh

nói chung, do đó về nguyên tắc, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng

chính là phương pháp phân tích kinh doanh của doanh nghiệp. Trong q trình đổi mới

các ngành khoa học nói chung, các phương pháp nghiên cứu cũng ngày càng hoàn

thiện, bởi lẽ đối tượng của nền kinh tế là các hoạt động của nền kinh tế đã chuyển hẳn

từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Đặc biệt, người phân tích phải

có quan điểm mới khi đánh giá các hiện tượng kinh tế và có cách nhìn nhận bao qt

hơn, tồn diện hơn. Có khá nhiều phương pháp phân tích khác nhau mà trong đó kể cả

những phương pháp truyền thống cũng đã được thay đổi về quan điểm đánh giá, đồng



14



thời đã xuất hiện thêm một số phương pháp mới rất phù hợp với sự phát triển của xã

hội hiện đại.

a. Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm đánh giá kết

quả, xác định vị trí và xu hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoảng

thời gian ngắn nhất về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh

khác nhau. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo được những nội dung sau

đây [1], [14]:

- Xác định gốc so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm

căn cứ để so sánh và được gọi là gốc so sánh. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà lựa

chọn gốc so sánh thích hợp, gốc so sánh có thể xét theo mặt khơng gian và thời gian.

Về mặt không gian: Gốc so sánh là chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh,

hay nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp

ứng nhu cầu,...;

Về mặt thời gian: Gốc so sánh có thể là tài liệu năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu

hướng phát triển của các chỉ tiêu; các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự tốn, định

mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự tốn, định mức.

- Điều kiện so sánh: Số liệu của các chỉ tiêu trong q trình phân tích phải đảm bảo

tính thống nhất, nghĩa là phải cùng một nội dung kinh tế, cùng một phương pháp tính

tốn, đơn vị đo lường, phạm vi, thời gian và quy mô không gian xác định.

- Dạng so sánh: Phương pháp so sánh được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, khi

các chỉ tiêu phân tích thể hiện so sánh bằng số tuyệt đối - đây là kết quả của phép trừ

giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế kết quả so sánh biểu

hiện cho sự biến động về khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế; còn nếu các

chỉ tiêu phân tích có thể thực hiện so sánh bằng số tương đối - là kết quả của phép

chia, giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế để thấy kết cấu,

mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các hiện tượng kinh tế; hoặc các

chỉ tiêu phân tích còn được thực hiện so sánh bằng số bình quân sẽ là dạng đặc biệt



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×