Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính cấp thiết của đề tài

Tính cấp thiết của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

2

vực FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ qua các doanh nghiệp

có vốn FDI ln đi kèm với đào tạo nhân lực quản lý, vận hành, nhờ đó đã góp phần

hình thành một đội ngũ các cán bộ, cơng nhân có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao.

Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ đặc thù, lao động Việt Nam

sau khi được tuyển dụng đều được đưa đi bồi dưỡng kỹ thuật và tay nghề tại các

công ty mẹ ở nước ngồi. Đến nay, hầu hết các cơng nghệ tiên tiến và đội ngũ công

nhân kỹ thuật cao đều tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn FDI. Ngồi ra, FDI

cũng góp phần mở rộng hợp tác đầu tư với các nước và thúc đẩy quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương

mại thế giới (WTO).

Bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ra những tác

động tiêu cực, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Phần lớn

các doanh nghiệp có vốn FDI tập trung vào khai thác lợi thế giá nhân cơng rẻ,

nguồn tài ngun có sẵn, thị trường tiêu thụ dễ tính để lắp ráp, gia công sản phẩm

tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Các doanh nghiệp có vốn FDI hiện có đóng góp quan

trọng vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên cơ cấu xuất khẩu của Việt

Nam không thay đổi, trong đó các mặt hàng nơng, thuỷ sản, thực phẩm và các mặt

hàng có giá trị gia tăng thấp như dệt may, tạp phẩm chiếm đến 49,4%. Hơn nữa, sự

liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và các doanh nghiệp nội địa còn hạn chế.

Do vậy, chưa hình thành được chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng hàng hố và các

ngành cơng nghiệp phụ trợ. Tỷ trọng giá trị nhập khẩu các mặt hàng phục vụ hoạt

động gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng khá cao trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa:

Kim ngạch nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện (trừ điện thoại di động) chiếm

33,3% kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện; kim ngạch nhập khẩu

vải chiếm 48,3% giá trị xuất khẩu hàng dệt may…Các doanh nghiệp có vốn FDI

cũng đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận thời

gian qua. Chất thải của công ty VEDAN là một ví dụ tiêu biểu. Bên cạnh đó, các

doanh nghiệp có vốn FDI chủ yếu tập trung vào đầu tư tại các khu vực đô thị lớn

mà chưa được phân bổ đều giữa các địa phương trong cả nước, điều này cũng là

một trong những nguyên nhân làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và



3

vùng nông thôn, giữa miền ngược và miền xuôi. Hơn nữa, FDI tập trung quá nhiều tại các

thành phố lớn sẽ càng gia tăng sức ép cho các đô thị này về dân số, hạ tầng đô thị.

Một trong những tác động tiêu cực của FDI là gây bất bình đẳng và phân

tầng xã hội. Tăng trưởng kinh tế đã chia sẻ lợi ích cho đơng đảo các tầng lớp xã hội,

trong đó có cả người nghèo, các nhóm xã hội yếu thế. Tuy nhiên vẫn còn những

khác biệt, khơng cơng bằng, do có những nhóm xã hội được hưởng lợi nhiều hơn so

với nhóm khác. Số liệu thống kê cho thấy, tình trạng bất bình đẳng thu nhập ngày

càng gia tăng trong hơn hai thập kỷ Đổi mới và hội nhập quốc tế do nguồn vốn FDI

tập trung nhiều vào các vùng kinh tế trọng điểm. Việc chuyển đổi sử dụng đất cho

các dự án đầu tư nước ngoài cũng khiến cho hàng vạn lao động bị ảnh hưởng trực

tiếp do sản xuất bị mất đất…Số liệu thống kê cho thấy, tình trạng bất bình đẳng thu

nhập ngày càng gia tăng trong hơn hai thập kỷ Đổi mới và hội nhập quốc tế do nguồn

vốn FDI tập trung nhiều vào các vùng kinh tế trọng điểm, hệ số GINI tăng từ 0,329

(năm 1993), 0,35 (năm 1998) và năm 2016 là 0,436 (Theo công bố của Tổng cục

Thống kê). Sự gia tăng bất bình đẳng này chủ yếu gây ra bởi sự gia tăng chênh lệch

thu nhập, nghèo đói. Theo kết quả điều ra mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống

kê, hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn đang được rút ngắn (năm

2002 là 2,26 lần; năm 2016 là 1,79 lần) nhưng mức chênh lệch tuyệt đối lại đang tăng

lên (năm 2002 là 347 nghìn đồng; đến năm 2016 là 1.931 nghìn đồng). Như vậy,

chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự

gia tăng bất bình đẳng ở Việt Nam trong những năm qua.

Trên thế giới đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này như: Nghiên

cứu về tác động của FDI tới bất bình đẳng thu nhập ở Trung Quốc của tác giả

Furong Jin (năm 2009); Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngồi đến

bất bình đẳng thu nhập của 119 nước từ năm 1993 – 2002 của tác giả Changkyu

Choi (2006); Nghiên cứu tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập của tác giả

Feenstra and Hanson (1997)… Tại Việt Nam, có rất nhiều bài viết chuyên ngành, đề

tài nghiên cứu, đánh giá về tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế: Đầu tư trực

tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên trong xu thế hội

nhập kinh tế quốc tế của tác giả Nguyễn Tiến Long (Đề tài cấp Bộ, 2009); Đầu tư



4

trực tiếp nước ngoài đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí

Minh của tác giả Nguyễn Tấn Vinh (Luận án tiến sĩ kinh tế, 2011). Tuy nhiên, có rất

ít thảo luận, nghiên cứu về tác động của FDI tới bất bình đẳng thu nhập. Vì những

lý do trên, tơi đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước

ngồi đến bất bình đẳng thu nhập nơng thôn – thành thị tại Việt Nam”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng tác động của nguồn vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập

tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, đưa ra những gợi mở chính sách nhằm nâng cao chất

lượng nguồn vốn FDI và giảm bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa được cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn về FDI, bất

bình đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị và tác động của vốn FDI đến bất bình

đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị.

- Phân tích, đánh giá được thực trạng thực hiện vốn FDI và bất bình đẳng thu

nhập nơng thơn – thành thị tại Việt Nam.

- Tìm ra được các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn –

thành thị tại Việt Nam, trong đó chỉ ra được tác động của nguồn vốn FDI đến bất

bình đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị tại Việt Nam.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI và

giảm bất bình đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị tại Việt Nam.



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tác động của nguồn vốn FDI đến bất

bình đẳng thu nhập.

- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập và mối quan hệ

giữa vốn FDI với bất bình đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị tại Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam, một quốc gia đã

thu hút được lượng vốn FDI lớn trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.



5

- Về thời gian: Nghiên cứu và thu thập số liệu từ năm 2002 đến 2016.

- Về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa vốn FDI và tình

trạng bất bình đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị ở Việt Nam.



4. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dụng của đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu về vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi và bất

bình đẳng thu nhập nơng thơn – thành thị.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Chương 3: Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi tới bất bình đẳng thu

nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam

Chương 4: Một số gợi ý chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi

và giảm bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính cấp thiết của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×