Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhìn vào biểu đồ, ta thấy tính tích cực học tập của SV thông qua nhận

thức về mục tiêu học tập có tương quan với nhau giữa giới, các khóa lớp và

tổng số SV. Tuy nhiên, nổi trội hơn, K65 thể hiện mức độ nhận thức cao hơn

hẳn các khóa còn lại. Điều đó cũng được thể hiện ở các items “Tôi thực sự tập

trung trong lớp học”; “Tôi suy nghĩ cẩn thận về các kỹ năng, nhiệm vụ và

hoạt động học tập.” và “Tôi chú ý trong lớp học” với các số điểm là 3.41;

3.59 và 3.73. K66 là khóa có mức nhận thức về tính tích cực học tập thấp nhất

cho thấy, so với các khóa còn lại mục tiêu học tập của các em đã có sự thay

đổi. Chia sẻ trong phỏng vấn, một SV K66 chia sẻ: “Lớp em có một vài thành

viên khơng còn u thích ngành học nữa mà chỉ còn muốn học nốt để rồi

chuyển sang ngành khác. Thái độ học tập của các bạn cũng đối phó.”

Một điểm đáng lưu ý khác, khi so sánh theo giới, có thể thấy SV nam

có mức tập trung và xác định mục tiêu học tập rõ ràng hơn so với SV nữ. Mức

độ phân tâm và mất tập trung của SV nữ cao hơn SV nam.

Thái độ



Điểm TB

Tổng



Giới tính

Khóa

Nam Nữ

K65 K66 K67 K68

Vui vẻ

3.78 3.58 3.79 4.06 3.60 3.70 3.89

Tức giận

2.13 2.08 2.13 1.91 2.25 2.23 2.00

Khơng vui

2.35 2.42 2.34 2.24 2.40 2.57 2.08

Hài lòng

3.64 3.50 3.65 4.03 3.47 3.55 3.66

Thích thú

3.73 3.83 3.72 4.00 3.47 3.68 3.95

Lo lắng

2.75 3.25 2.71 2.85 2.52 3.00 2.71

Thoải mái

3.73 3.58 3.74 4.06 3.53 3.60 3.89

Tự hào

3.14 3.33 3.13 3.32 3.00 3.11 3.24

Có lỗi

2.07 2.42 2.05 1.97 2.12 2.19 1.95

Xét trên tổng thể số SV trong khoa, hai items nghịch đảo là “Tôi dễ bị

phân tâm khi tham gia lớp hoạt động trên lớp” và “Tơi gặp khó khăn trong

việc tập trung lớp học” có điểm trung bình trong khoảng từ 2.42 – 3.23. Điều

này chứng tỏ nhận thức của các SV về tính tích cực trong lớp học là có, tuy

nhiên chưa ở mức cao. Item có mức điểm trung bình cao nhất là “Tơi suy nghĩ

cẩn thận về các kỹ năng, nhiệm vụ và hoạt động học tập.” cho thấy đa phần



53



SV chú ý nhiều vào bài học khi các kỹ năng, nhiệm vụ và hoạt động được xác

định rõ ràng.

3.1.2. Thực trạng tính tích cực học tập biểu hiện qua thái độ của

sinh viên

Để xác định thực trạng thái độ tích cực học tập tơi đo các biểu hiện

thông qua các xúc cảm ở bảng dưới đây.

Bảng 3: Tính tích cực học tập biểu hiện qua thái độ của sinh viên



Biểu đồ 2: Biểu đồ tính tích cực học tập biểu hiện qua thái độ của SV



Tổng số sinh viên có thái độ tính tích cực ở mức cao chiếm 22.1%, lớn

hơn số sinh viên có thái độ tính tích cực ở mức thấp (15.3%). Điều này chỉ ra

rằng, đa số sinh viên trong khoa có thái độ tích cực trong học tập. Biểu đồ 2

cũng chỉ ra rằng, trong tương quan về giới, nam SV có thái độ tích cực học

tập thấp hơn hẳn nữ SV. Điều này cho thấy, mặc dù SV nam có nhận thức về

mục tiêu học tập cao hơn SV nữ nhưng do tính chất là một nghề lao động sư

phạm, cần đến tính kiên nhẫn và nhẹ nhàng cùng với việc trong một môi

trường đa phần là sinh viên nữ, nhiều SV nam cảm thấy “khơng vui” và “có

lỗi” khi ở khoa. Một SV nam có kể lại rằng: “Ngày mới đầu vào khoa tớ cũng

thấy bất ngờ vì lớp nhiều nữ giới quá. Nhưng lâu dần cũng quen.”

Xét điểm trung bình từng items, có thể thấy các cảm xúc dương tính

đều ở trên mức trung bình cộng, trong khi đó các cảm xúc âm tính lại ở

ngưỡng dưới. Các SV năm cuối là những SV có chỉ số cảm xúc tích cực cao

nhất. Cụ thể là cảm xúc “Vui vẻ” và “Thoải mái” có đồng mức điểm trung

bình cao nhất là 4.06, tiếp sau đó là cảm xúc “Thích thú” và với mức điểm

trung bình bằng nhau là 4.00. Có thể nói, SV năm cuối đã có một thời gian dài

học tập và hoạt động tại khoa và cùng nhau, cùng với đó là nhận thức rõ ràng

54



hơn về mục tiêu đường đời của mình. Chính vì vậy, K65 là khóa có mức tích

cực về thái độ cao nhất trong các khóa.

Điểm trung bình trên tổng số sinh viên ở item “Vui vẻ” là 3.78; “Hài

lòng”có điểm trung bình là 3.64; “Tự hào” là 3.14. “Lo lắng” tiệm cận mức

trung bình là 2.75 và dưới mức điểm trung bình “Khơng vui”, “Tức giận” và

“Có lỗi” có mức điểm lần lượt là 2.35, 2.13 và 2.07. Các con số này cho thấy

nhiều SV trong khoa có thái độ tích cực khi học tập và hoạt động tại khoa.

Thông qua phỏng vấn lần 2, có 7/8 SV chia sẻ mình duy trì cảm xúc tốt trong

thời gian học ở đây. Tuy nhiên, vẫn còn 15.3% học sinh có thái độ tích cực ở

mức thấp. Phỏng vấn sâu hơn SV có thái độ: “Em cảm thấy bình thường”, SV

này chia sẻ “Em cảm thấy không hợp với khoa này lắm.”

3.1.3. Thực trạng tính tích cực học tập được thể hiện qua hành vi

*Tính tích cực học tập của sinh viên thơng qua chuẩn bị bài:

Bảng 4: Tính tích cực học tập của sinh viên thông qua chuẩn bị bài

Điểm TB

Chuẩn bị bài

Giới tính

Khóa

Tổng

Nam Nữ K65 K66 K67

Lập kế hoạch học tập và thực

3.1 2.7 2.7

2.85 2.83 2.85

hiện nghiêm túc kế hoạch

2

2

7

Hệ thống hóa tri thức bằng các

3.1 2.9 2.6

2.87 3.00 2.86

sơ đồ, tóm tắt, lập bảng…

8

5

8

Gắn việc học tập lý thuyết với

3.5 3.3 3.3

3.30 3.42 3.29

việc vận dụng và liên hệ thực tế

3

0

0

Xác định chỗ quan trọng để đi

3.6 3.4 3.2

3.42 3.50 3.41

sâu tìm hiểu, mở rộng

5

3

6

Cố gắng lấy thêm những ví dụ

3.5 3.3 3.4

3.50 3.92 3.47

cho các nội dung cụ thể

9

8

9

Thiết lập mối quan hệ giữa kiến

thức TLH đại cương với kiến

3.1 3.0 3.2

3.22 3.50 3.20

thức của các mơn học có liên

8

8

6

quan trong chương trình học

Hồn thành đầy đủ các bài tập,

3.7 3.5 3.9

3.84 3.92 3.83

nhiệm vụ GV giao

9

8

8

Làm thêm các bài tập giảng

2.8 2.5 2.4

2.47 3.50 2.46

viên không yêu cầu

2

0

5

Đọc hết các tài liệu GV giới

2.66 4.00 2.66 2.8 2.7 2.6

55



K68

2.92

2.68

3.11

3.39

3.61

3.45

4.13

2.13

2.34



thiệu

Nghiên cứu bài học trước khi

lên lớp

Tìm đọc sách, báo về Tâm lý

học trong thư viện

Sưu tầm bài tham khảo về Tâm

lý học trên mạng Internet

Ôn tập, củng cố kiến thức.

Lập nhóm để thảo luận về các

vấn đề của bài học

Thường nêu câu hỏi và tự trả

lời



2.59



2.58 2.59



2.85



2.67 2.87



3.37



3.67 3.34



3.28



3.75 3.25



3.05



3.25 3.04



3.02



3.92 2.96



5

2.6

8

3.0

3

3.8

2

3.5

6

3.4

7

3.3

5



8

2.6

2

2.9

0

3.2

3

3.1

3

2.8

3

3.0

0



4

2.5

1

2.9

1

3.1

7

3.4

3

3.1

9

2.9

6



2.55

2.55

3.41

3.11

2.84

2.82



Xét trên mức điểm trung bình tổng số sinh viên, đa số các hành vi biểu

hiện tính tích cực của sinh viên trong quá trình chuẩn bị bài trước khi đến lớp

của SV đều có điểm trung bình trên ngưỡng trung bình cộng. Duy chỉ có item

“Làm thêm các bài tập giảng viên không yêu cầu” đạt mức điểm trung bình là

2.47. Điều này cho thấy, SV rất ít/ hiếm khi tự giác làm thêm bài tập giảng

viên yêu cầu. Các khả năng có thể đặt ra là do SV khơng tìm được các bài tập

mơn học do q ít tài liệu học bổ trợ; hay SV khơng có thời gian để làm thêm

các bài tập (vì đi làm thêm, học thêm, tình nguyện…). Tuy nhiên, item có

mức điểm trung bình cao nhất, 3.84 là item “Hồn thành đầy đủ các bài tập,

nhiệm vụ GV giao”. Vậy nên, giả thiết khác có thể đặt ra là SV khơng thực sự

hứng thú khi phải làm thêm các bài tập ngoài bài tập được giao. Một biểu hiện

hành vi khác ở mức tiệm cận ngưỡng trung bình là item “Nghiên cứu bài học

trước khi lên lớp” với mức điểm là 2.59. Một SV, khi được phỏng vấn đã nói

lên ý kiến của mình rằng bạn mong chờ ở những thầy cơ sẽ đến lớp và làm

bạn có hứng thú với kiến thức mới hơn. Một bạn khác chia sẻ: “Vì lớp bọn em

cơ dạy khơng có giáo trình mà mỗi buổi, một nhóm lên thuyết trình nên nhóm

nào quan tâm đến bài nhóm ấy thơi chứ khơng nghiên cứu bài trước.” Khi

phỏng vấn 8 SV, cả 6 SV chia sẻ bản thân không lập kế hoạch học và 2 SV

lưỡng lự vì có những khoảng thời gian họ khơng thực hiện nghiêm túc kế

56



hoạch. Một số lý do đưa ra là có những cơng việc của CLB tổ chức bên ngồi,

những cơng việc đột xuất ở trên khoa và ngay cả việc nhà cũng khiến các SV

không thể nhất quán thời gian trong từng công việc. Với item “Cố gắng lấy

thêm những ví dụ cho các nội dung cụ thể” chiếm mức điểm trung bình là 3.5

cho thấy SV có xu hướng liên tưởng và áp dụng những kiến thức mình biết

vào trong bài học. Điều này phù hợp với những gì được chứng minh trong

khoa học: việc liên tưởng, kết nối các thơng tin, hình ảnh với nhau sẽ giúp bản

thân mình ghi nhớ nhanh và lâu hơn. Ritchie & Karge (1996); Steinitz (2001);

Richards (2008).

Nhìn vào bảng 4, điều đáng lưu ý là mức điểm trung bình của các items

của SV nam đều cao hơn SV nữ, cho thấy mức tích cực học tập của nữ SV

trong biểu hiện chuẩn bị bài trước khi tới lớp thấp hơn so với mức tích cực

chuẩn bị bài của nam. Xem xét giữa các khóa, ta thấy mức độ tương quan

trong các items hành vi biểu hiện tính tích cực của sinh viên trong q trình

chuẩn bị bài

* Tính tích cực học tập của sinh viên thông qua các công việc thực

hiện trên lớp

Bảng 5: Tính tích cực học tập của sinh viên thông qua công việc trên lớp

Trên lớp

Chú ý nghe giảng và ghi chép

bài đầy đủ

Tích cực suy nghĩ, hăng hát phát

biểu xây dựng bài

Tích cực tham gia các hoạt động

khi thảo luận nhóm

Trao đổi, nêu thắc mắc với bạn

bè và thầy cô trong giờ học

Sáng tạo trong học tập, diễn đạt

theo cách hiểu của mình

Hồn thành các bài tập, các

nhiệm vụ ngay tại lớp

Ghi nhớ tốt những nội dung cơ



3.6

8

3.1

9

3.6

8

3.3

4

3.3

9

3.2

6

3.1

57



Điểm TB

Giới tính

Khóa

Na

Nữ K65 K66 K67

m

3.7 3.5 3.4

4.17 3.65

9

5

5

3.2 3.2 3.0

4.00 3.13

6

5

0

3.9 3.5 3.5

4.00 3.65

1

7

3

3.7 3.3 3.2

4.17 3.28

4

3

6

3.6 3.2 3.3

4.00 3.35

8

3

6

3.3 3.1 3.3

3.50 3.25

2

2

2

3.58 3.15 3.3 3.1 3.1



K68

4.08

3.26

3.82

3.11

3.42

3.37

3.05



bản, quan trọng ngay tại lớp

Có quyết tâm, ý chí vượt qua

khó khăn trong học tập.

Rút kinh nghiệm để học tập tốt

hơn



8

3.2

9

3.5

8



3.58



3.27



4.00



3.54



2

3.5

9

4.0

0



8

3.2

2

3.3

8



7

3.1

7

3.4

7



3.29

3.63



Với biểu hiện hành vi ở trên lớp học, tất cả các items của tổng số SV

đều ở trên ngưỡng trung bình cộng. 2 items có mức điểm cao nhất và cùng

mức 3.68 là “Chú ý nghe giảng và ghi chép bài đầy đủ” và “Tích cực tham

gia các hoạt động khi thảo luận” cho thấy mức tham gia của đa số SV là tích

cực trong hoạt động nghe – ghi chép bài và tham gia thảo luận nhóm. Ngồi

ra, mức điểm trung bình của item “Rút kinh nghiệm để học tập tốt hơn” là 3.58

cho thấy nhiều SV có ý thức trong việc cần củng cố kiến thức và cải thiện việc

học tập của bản thân. SV cũng hay sáng tạo trong học tập, diễn đạt theo ý hiểu

của mình. Đồng thời, hỏi bạn bè, thầy cô những khúc mắc trong giờ học. Tuy

nhiên, những kiến thức và bài tập chưa thể hoàn thành và ghi nhớ được hết ở

trên lớp. Chính vì thế, những mục này, điểm trung bình là 3.18 và 3.26. Với

từng mơn học khác nhau, kiểu khí chất và nhân cách khác nhau mà SV tích cực

nêu ý kiến, quan điểm, trả lời trong giờ học. Với items “Tích cực suy nghĩ,

hăng hát phát biểu xây dựng bài” điểm trung bình đạt 3.19.

Kết quả thu được từ phiếu khảo sát cho biểu hiện hành vi chuẩn bị bài

của SV nam có tương quan với biểu hiện hành vi tính tích cực được thể hiện

trong lớp và đều có sự chênh lệch với những biểu hiện ấy của SV nữ.

Đặc biệt, với item “Chú ý nghe giảng và ghi chép bài đầy đủ”, SV năm

nhất có mức điểm trung bình cao nhất là 4.08. Ngồi ra, item “Rút kinh

nghiệm để học tập tốt hơn” ở K65 với mức trung bình là 4.00 cho thấy SV

năm cuối tích cực trong việc rút kinh nghiệm bản thân để cải thiện việc học

tập của mình.





Tính tích cực học tập của sinh viên thơng qua các hoạt động ngồi giờ

học:

Bảng 6: Tính tích cực học tập của sinh viên thơng qua hoạt động ngồi giờ

Ngồi giờ học



Điểm TB

Giới tính

58



Khóa



Điểm

Nam

TB



Nữ



Xem các phim tâm lý xã hội



3.58



3.50



3.59



Đọc các truyện về tâm lý xã hội



3.44



3.08



3.46



3.15



2.5



3.19



2.62



2.17



2.65



Mua sách báo về TLH



3.19



3.00



3.20



Theo dõi chương trình tư vấn

tâm lý trên đài hoặc tivi



3.25



2.41



3.31



Sưu tầm các ví dụ minh họa về

TLH qua sách, báo

Tham dự các câu lạc bộ có liên

quan đến tâm lý



K65 K66 K67

3.9

4

3.6

5

3.4

4

2.7

3

3.2

1

3.5

9



3.3

7

3.3

3

3.0

8

2.5

8

3.1

8

3.1

0



3.5

3

3.2

8

3.0

9

2.7

0

3.1

7

3.1

9



K68

3.66

3.61

3.05

2.47

3.21

3.24



Biểu hiện “Tham dự các câu lạc bộ có liên quan đến tâm lý” có điểm

trung bình thấp nhất so với những items thể hiện hành vi tích cực học tập

ngồi giờ học: 2.62. Là một ngành mới được chú ý đến tại Việt Nam, những

câu lạc bộ về tâm lý hầu hết được biết đến một cách khơng chính thống và

khơng được truyền thơng rộng rãi. Chính vì vậy, SV ít có khả năng tiếp cận

hay nghe đến một câu lạc bộ tâm lý nào. 7/8 SV phỏng vấn khơng biết có hình

thức sinh hoạt câu lạc bộ tâm lý. 1 SV làm tình nguyện viên của phòng tâm lý

tại một trường đại học nhưng bạn chia sẻ đó khơng phải là một câu lạc bộ để

mọi người cùng sinh hoạt, tổ chức hoạt động chung. Item “Mua sách báo về

TLH” đạt mức trung bình là 3.19. Một số khả năng đặt ra như sau: Có thể

thấy, hiện nay sách báo về TLH đang ngày càng nhiều, thậm chí, một số sách

kĩ năng, chia sẻ kinh nghiệm như dạy làm giàu, dạy tư duy, dạy ghi nhớ …

của những doanh nhân, người nổi tiếng khơng phải là ít, một số truyện trinh

thám cũng thường được liệt vào đầu sách “Sách Tâm lý” . Điều này cũng lý

giải item “Đọc các truyện về tâm lý xã hội” có mức điểm trung bình 3.44. Tuy

nhiên, những sách báo được thực chứng khoa học và sách chuyên ngành lại

khơng dễ tiếp cận. Cùng với đó, Internet là cơng cụ hữu ích, cập nhật thường

xun và có nhiều nguồn hồn tồn miễn phí. Chính vì vậy, SV có thể tiếp

cận các bài báo, bài viết về TLH nhưng khơng phải “mua”. Với item “Theo

59



dõi chương trình tư vấn tâm lý trên đài hoặc tivi”, mức điểm trung bình đạt

3.25. Có thể thấy, ngày càng nhiều các chương trình về tâm lý hoặc các

chương trình có chun gia tâm lý tham gia được phát sóng. Đặc biệt, những

chương trình về Tâm lý – giáo dục cũng được chú trọng dạo gần đây cũng

góp phần ảnh hưởng đến nhận thức của SV trong khoa.

Thể hiện sự chênh lệch và tương quan nghịch giữa 2 biểu hiện hành vi

trước khi đến lớp và trong giờ học, SV nữ có biểu hiện tích cực học ngồi giờ

nhiều hơn hẳn SV nam. Tất cả các items của SV nữ đều có mức trung bình

cao hơn hẳn SV nam. Điều này có thể thấy, SV nữ có tính tích cực tìm hiểu

các tài liệu (sách báo, truyện, phim…) về Tâm lý học nhiều hơn hẳn SV nam.

Ngồi ra, có thể thấy, do chương trình học của SV năm cuối có nhiệm

vụ làm nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp, mức điểm trung bình các items

của K65 ở biểu hiện này cao hơn hẳn của các khóa khác.

Thực trạng tính tích cực học tập của sinh viên biểu hiện thông qua

hành vi khi chuẩn bị bài học, trên lớp học và ngoài giờ học

Biểu đồ 3: Biểu đồ tính tích cực học tập thơng qua hành vi của SV



Để tổng hợp lại, khi xem xét tổng thể mức độ tính tích cực được thể

hiện qua hành vi: Trước buổi học, trong giờ và ngoài giờ học, kết quả phân

tích đưa ra mức độ tương quan số lượng sinh viên có biểu hiện hành vi tích

cực học tập ở mức thấp cao hơn số lượng sinh viên có biểu hiện hành vi tích

cực học tập cao. Điều này cho thấy khơng có nhiều SV có hành vi tích cực

đồng thời ở cả trước – trong và sau buổi học.

3.1.4. Đánh giá chung về tính tích cực học tập của sinh viên biểu

hiện thông qua 3 mặt: Nhận thức – Thái độ - Hành vi



Biểu đồ 4: Biểu đồ tính tích cực học tập của SV



60



Xem xét biểu đồ 4, có thể thấy đa phần SV khoa TLGDH có tính tích

cực học tập ở cả 3 mặt: Nhận thức – Thái độ - Hành vi nằm ở mức trung bình.

Đối với tính tích cực học tập theo giới tính, có sự chênh lệch khá nhiều

ở mức độ cao tích cực trong học tập. Trong đó nam SV có mức tích cực học

tập cao hơn SV nữ do mức nhận thức về tính tích cực trong mục tiêu học tập

cũng như biểu hiện hành vi trước và trong giờ học cao hơn. Đối với tính tích

cực của sinh viên các khóa, nhìn chung có sự chênh lệch giữa các khóa. So

sánh với SV 4 khóa, SV K65 là sinh viên năm cuối có tính tích cực học tập

cao hơn hẳn các SV khóa dưới. Điều này có thể giải thích rằng sinh viên năm

cuối do có mục đích học tập đồng thực tập nghề nghiệp để chuẩn bị cho hành

trang bước vào nghề nên các bạn có tính tích cực cao hơn.

Xét trên tổng SV, trong 3 mặt biểu hiện của tính tích cực, mức nhận

thức và thái độ tính tích cực của SV cao hơn mức biểu hiện hành vi. Đa số SV

trong khoa đã có tích cực trong nhận thức và thái độ. Tuy nhiên có sự chênh

lệch giữa nhận thức, thái độ với hành vi biểu hiện tính tích cực. Điều này cho

thấy đa phần SV đã có nhận thực và thái độ tích cực khi học tập và hoạt

động tại khoa, tuy nhiên những điều ấy chưa được chuyển hóa thành

hành vi tích cực.

3.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của

sinh viên Khoa Tâm lý – Giáo dục học

Như ở chương 1 đã trình bày, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính

tích cực học tập của SV. Tuy nhiên theo lý thuyết bởi SDT (Deci & Ryan,

1985, 1991; Ryan & Deci, 2000a, 2002) bao gồm: Động lực thúc đẩy học tập;

Nhu cầu thỏa mãn của cá nhân: Tự chủ/ Tự thân (Autonomy); Năng lực

(Competence) và Cảm giác được thuộc về (Relatedness); Nhu cầu hỗ trợ

trong học tập. Đề tài sẽ khảo sát những yếu tố này trong nội dung dưới đây.

3.2.1. Thực trạng động lực thúc đẩy tính tích cực học tập

Để đo yếu tố Động lực, các câu trả lời được thiết kế theo thang đo

Likert, từ bậc 1 – Rất khơng đồng tình đến bậc 7 – Rất đồng tình, trả lời cho

mệnh đề “Tôi theo học tại khoa”: Động lực nội tại (Ví dụ: “bởi vì việc học

vui”); Mục tiêu học tập (Ví dụ: “bởi vì tơi muốn học các kĩ năng, kiến thức về

61



Tâm lý học”); Hình ảnh xã hội (Ví dụ: “bởi vì tơi muốn giáo viên nghĩ tơi là

một sinh viên giỏi”); Nguyên nhân khách quan (Ví dụ: “bởi vì nếu khơng,

giáo viên sẽ trách phạt tơi”). Ngồi ra, bảng hỏi còn xem xét yếu tố khơng có

động lực (Ví dụ: “nhưng tơi khơng biết vì sao tơi theo học”)

Bảng 7: Động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của SV



bởi vì việc học vui.

bởi vì tơi thích được học

những kiến thức mới.

bởi vì các mơn học thú vị.

bởi vì sự thích thú mà tơi cảm

thấy trong khi học các kiến

thức, kỹ năng mới.

bởi vì tơi muốn học các kĩ

năng, kiến thức về Tâm lý

học.

bởi vì việc học tốt Tâm lý học

quan trọng với tơi.

bởi vì tơi muốn cải thiện kiến

thức của mình trong ngành

Tâm lý.

bởi vì tơi có thể học được các

kiến thức mà tơi có thể sử

dụng trong các lĩnh vực khác

của cuộc sống.

bởi vì tơi muốn giáo viên nghĩ

tơi là một sinh viên giỏi.

bởi vì tôi sẽ cảm thấy tệ về

bản thân nếu tôi không học.

bởi vì tơi muốn các bạn nghĩ

tơi là một người học giỏi.

bởi vì tơi sẽ thấy khơng thoải

mái với việc khơng học.

bởi vì tơi sẽ gặp rắc rối nếu tơi

khơng học.

bởi vì đó là điều tơi phải làm.



Điểm TB

Giới tính

Khóa

Tổng

Nam Nữ K65 K66 K67 K68

4.7 4.1 4.0

4.28 4.75 4.25

4.39

1

5

4

5.1 4.8 4.8

4.96 5.75 4.90

5.21

5

0

1

5.0 4.6 4.6

4.82 5.67 4.75

5.08

3

3

8

5.11



5.75



5.06



5.1

5



4.8

0



5.0

9



5.58



5.67



5.92



5.65



5.8

5



5.4

7



5.4

0



6.18



5.57



5.75



5.55



5.3

2



5.4

3



5.4

0



6.21



5.59



5.58



5.60



5.7

9



5.2

8



5.4

4



6.11



5.98



6.58



5.93



5.9

7



5.6

8



5.9

8



6.45



3.65



4.17



3.62



4.67



5.08



4.64



3.49



3.83



3.46



4.32



4.92



4.28



4.63



4.75



4.62



4.61



4.75



4.60



3.6

2

4.8

5

3.2

4

4.7

6

4.7

1

4.5



3.5

7

4.7

0

3.5

2

4.4

3

4.6

8

4.6



3.6

6

4.4

0

3.5

5

4.0

0

4.2

3

4.3



62



3.82

4.79

3.58

4.16

4.97

5.08



bởi vì nếu khơng, giáo viên sẽ

trách phạt tơi.



3.40



3.42



3.40



bởi vì đó là quy định.



3.70



3.50



3.71



6

3.5

0

3.5

3



0

3.4

7

3.7

7



1

3.2

3

3.7

7



3.39

3.65



Bảng 8: Tính khơng động lực

Điể

m

TB

nhưng tơi khơng biết tại sao (tơi

theo học).

nhưng tơi khơng hiểu vì sao phải

học những mơn học này.

nhưng tơi cảm thấy thật lãng phí

thời gian khi phải học những

môn học này.

nhưng tôi không hiểu tôi thu

được gì từ những mơn học này.



3.07

3.08



Điểm TB

Giới tính

Khóa

Na

Nữ K65 K66 K67 K68

m

3.2 3.0 3.5

1.92 3.15

2.34

7

0

8

3.1 3.1 3.4

2.58 3.12

2.47

8

0

8



2.67



2.50



2.68



2.5

5



2.9

5



2.7

7



2.21



2.78



2.42



2.81



2.7

0



3.0

8



2.7

5



2.42



Nhìn vào bảng trên có thể thấy, động lực học tập của SV hầu hết ở trên

mức trung bình và những item đạt điểm trung bình cao là những items thuộc

về mục tiêu học tập. Điều này phù hợp với tính chất học của sinh viên, tức là

tính mục đích của việc học rất rõ ràng, đối tượng học tập là hệ thống tri thức,

kĩ năng có tính khoa học và tính hệ thống. Trong đó, item “bởi vì tơi có thể

học được các kiến thức mà tơi có thể sử dụng trong các lĩnh vực khác của

cuộc sống.” có điểm trung bình cao nhất là 5.98, chứng tỏ các SV theo học ở

khoa khơng chỉ vì u thích và muốn theo ngành Tâm lý học mà còn bởi tính

ứng dụng của ngành khoa học này trong nhiều mặt của cuộc sống. Qua phỏng

vấn, một sinh viên chia sẻ: “Em đầu tiên cũng thích Tâm lý vì đọc được nhiều

bài hay, nhưng sau khi em đi theo một thầy giáo và thầy cho phép em được

quan sát một ca thì em nghĩ em không thể làm được. Em không thể ngồi im

lắng nghe trong cả một thời gian dài được nên sau khi học xong em sẽ đi theo

63



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×