Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC

CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

tiêu đã xác định, bởi vậy ở trạng thái chuyên biệt có thể phân tích tính tích

cực của người học thành 3 loại:









Tính tích cực nhận thức

Tính tích cực trí tuệ

Tính tích cực học tập

V. Ơkơn (1987) trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề”

cho rằng tính tích cực là lòng ham muốn hành động được nảy sinh một

cáchkhông chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của

sự hoạt động, chủ thể đã ý thức được mục đích của hành động.

Geoffrey Petty (1988), Dạy và học ngày nay, NXB Stanley Thornes

Anh Quốc. Cuốn sách có 4 phần, trong đó, tác giả dành riêng phần đầu tiên để

nói về nhu cầu thực tế và tình cảm của người học. Ở phần này, tác giả đi sâu

vào phân tích các cách học, các trường phái về học: 1. Học là một q trình

tích cực và xây dựng ý nghĩa; 2. Trường phái hành vi: Khen thưởng và tạo

động cơ; 3. Học tập có tính xã hội: có cái học mà khơng phải dạy. Dù theo

trường phái nào, muốn nâng cao chất lượng dạy và học, cần phải nghiên cứu,

tìm hiểu về động cơ học tập, từ đó có những biện pháp khen ngợi hay phê

bình đúng mức và đúng lúc, tạo ra mối quan hệ thầy trò tích cực, có các cơ

hội bình đẳng giữa giáo viên và SV.

Carrol.E.Jzarl (1992) trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đã

cơng bố cơng trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thành

phần khơng thể thiếu của tính tích cực của con người, tác giả đã trình bày ảnh

hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tích

cực. Tác giả còn nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng tính tích

cực của con người mà biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và mức độ

cao là “khát vọng nghiên cứu”, khao khát khám phá cũng như tính lựa chọn

trong tri giác và chú ý …Trong tác phẩm này, tác giả đã tiếp thu thành tựu của

các tác giả nghiên cứu về các hiện tượng trên một cách có chọn lọc, có phê

phán như Freud, Tomkins, Murphy, Mc Dougall, Berlyne, Shand…



15



Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học phương Tây tiếp thu thành tựu

nghiên cứu sinh lý học, triết học, tâm lý học Macxit đã coi học là một hoạt

động. Khi nghiên cứu về tính tích cực học tập – nhận thức, A.N.Lêônchiev

(1998) cho rằng: Sự khác biệt cơ bản giữa các q trình thích nghi theo đúng

nghĩa của nó và các quá trình tiếp thu, lĩnh hội là ở chỗ q trình thích nghi

sinh vật là q trình thay đổi các thuộc tính của lồi và năng lực cơ thể cũng

như hành vi lồi của cơ thể. Q trình tiếp thu hay lĩnh hội thì khác, đó là q

trình mang lại kết quả là, cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năng

người đã hình thành trong quá trình lịch sử. Như vậy, chỉ bằng cách người

thầy tổ chức cho học sinh tích cực học tập, khi đó học sinh mới “chuyển” tri

thức của nhân loại thành tri thức bản thân.

Các nhà tâm lý học ở Đức như H.Hipsơ, M.Forvec, S.Fanz…cũng đã

nghiên cứu về thái độ, thái độ học tập và các biểu hiện của nó một cách công

phu, cụ thể. Đặc biệt nghiên cứu của S.Fanz về những biểu hiện thái độ học

tập tích cực đã được cơng nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ Trên lớp chú ý

nghe giảng; 2/ Học bài và làm bài đầy đủ; 3/ Cố gắng vươn lên học được

nhiều; 4/ Không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc

khơng nhất trí với bài giảng; 5/ Đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/ Cố gắng đạt

thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung

thực; 7/ Thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ Hăng hái nhiệt tình

trong giờ thảo luận và chữa bài tập ; 9/ Hoàn thành nhiệm vụ học tập một

cách nghiêm túc; 10/ Giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận. Cơ sở lý luận này đã

được Đào Lan Hương (1999) vận dụng “Nghiên cứu sự tự đánh giá phù hợp

về thái độ học toán của sinh viên cao đẳng sư phạm Hà Nội” khá thành công

Robert Fisher (2003), trong tác phẩm “Dạy trẻ học”, Dự án Việt Bỉ. Tác

giả giới thiệu cơng trình nghiên cứu 10 chiến lược dạy học cho học sinh, SV

là: “1. Tư duy để học; 2. Đặt câu hỏi; 3. Lập kế hoạch; 4. Thảo luận; 5. Vẽ sơ

đồ nhận thức; 6. Tư duy đa hướng; 7. Học tập hợp tác; 8. Kèm cặp; 9. Kiểm

điểm; 10. Tạo nên một cộng đồng học tập.” Tác giả đã nêu lên các cách thức

16



học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để học sinh, SV bộc lộ, hình thành

và phát triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập,

đó là hành động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại

chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân. Mỗi người học phải tự tìm ra một

cách thức học phù hợp với năng lực và mục đích học tập của chính bản thân

mình. Theo tác giả, phương pháp học là quan trọng. Nếu người học biết tìm

cho mình phương pháp học đúng sẽ làm tăng niềm đam mê và TTC học tập.

Như vậy, thành công sẽ nối tiếp thành công.

Hetty Hofman, Pamela Wright, Lê Thu Hồ và Nguyễn Hữu Cát biên

dịch, (2005) trong các cơng trình “Học tích cực – Bước tiếp theo để tăng

cường giáo dục y khoa tại Việt Nam”, Dự án Việt Nam – Hà Lan: “Tăng

cường giảng dạy hướng cộng đồng trong tám trường đại học Y Việt Nam”.

Theo các tác giả, để trả lời cho các câu hỏi: Tại sao SV của tôi học? Học như

thế nào? Cần học những gì để trở thành một bác sỹ giỏi? Họ muốn học những

gì, người thầy phải có những hiểu biết sâu sắc về những khái niệm cốt lõi về

nhu cầu, động lực và sự hỗ trợ xã hội và phải tạo ra được một mơi trường học

tập có hiệu quả. Mặc dù tác giả không chỉ rõ những nhân tố nào ảnh hưởng tới

TTC học tập của SV nhưng qua việc phân tích những lý thuyết về học tập,

đưa ra những cơ sở của học tích cực, tác giả dường như chú trọng đến động

cơ học tập và môi trường học tập của người học.

Với những nghiên cứu gần đây về tính tích cực học tập, các nhà nghiên

cứu nước ngồi chú trọng tìm hiểu các kỹ thuật áp dụng phương pháp học tập

tích cực trong lớp học đồng thời các ứng dụng của nó trong nhiều mơi trường

khác nhau. Có thể kể đến mơ hình lớp học đảo ngược của Lucke và Dunn

(2017), Bishop và Verleger (2013) với phương pháp sử dụng các bài giảng

video trong bài tập về nhà, bài tập nhóm… Một số nghiên cứu của Bodnar và

Clark (2014), Dicheva et al. (2015), Barna và Fodor (2017) khám phá tác

động của việc chơi game ở học sinh ở giáo dục đại học nhận được kết quả tích

cực và đầy hứa hẹn. Hướng dẫn đồng đẳng (PI) cũng là một kỹ thuật học tập

17



tích cực đã được sử dụng trong 25 năm qua trong Giáo dục Vật lý, Bundle et

al. (2017), và nó đã được kết hợp gần đây trong các lĩnh vực giáo dục khác.

1.1.2.



Nghiên cứu trong nước

Tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên ln được các nhà tâm lý

học, giáo dục học, các nhà giáo có tâm huyết với nghề dạy học quan tâm

nghiên cứu. Có thể kể đến một số cơng trình nổi bật của các tác giả:

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, tác giả Phan Thị Diệu Vân

(1964) đã nghiên cứu tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học với

cơng trình: “Làm cho học sinh tích cực, chủ động và độc lập sáng tạo trong

giờ lên lớp”. Trong cơng trình nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích tính

tích cực học tập khơng chỉ thể hiện trong các mặt quan sát, chú ý, tư duy, trí

nhớ mà phải căn cứ vào cường độ, độ sâu, nhịp điệu của những hoạt động đó

trong 1 thời gian nhất định .

Phạm Minh Hạc (1996), Tuyển tập J.Piaget, NXB Giáo dục Hà Nội.

Tác giả cho rằng TTC là một thuộc tính của nhân cách, bao gồm các thành tố

tâm lý như: nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng. Các thành tố tâm

lý này của TTC có tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt

động muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo thế giới xung

quanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình.

Các nhà tâm lý học Sư phạm như Nguyễn Văn Thàng, Lê Ngọc Lan,

Phạm Thành Nghị (1997) trong các cơng trình nghiên cứu của mình cũng đã

coi hoạt động học tập của sinh viên là một quá trình nhận thức tích cực. Đó là

hoạt động đặc thù chỉ có ở con người nhằm lĩnh hội tri thức nhân loại chuyển

thành tâm lý, ý thức của bản thân cho nên muốn đạt được mục đích dạy học

thì phải tạo ra tính tích cực trong hoạt động của học sinh, sinh viên, làm cho

“các em vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh

được đối tượng đó” Các tác giả cũng chỉ ra việc hình thành tính tích cực học

tập ở học sinh, sinh viên chính là quá trình quá trình hoạt động học ở họ.

Muốn vậy phải thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữ dạy học và sự phát

triển trí tuệ từ đó mới đào tạo ra những con người khơng chỉ có tri thức phòng

18



phú về mọi lĩnh vực mà còn có các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng phù hợp với

yêu cầu của xã hội. Theo các tác giả, dạy học phải dựa trên các thành tựu

nghiên cứu tâm lý học của S.L.Rubinstêin, L.V.Zancôp, V.V.Đavưdôp,

N.A.Mentsinscaia, tức là ứng dụng kết quả nghiên cứu tâm lý sư phạm vào

trong quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh, sinh viên.

Trần Bá Hồnh, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa (2003), Áp dụng dạy và

học tích cực trong mơn Tâm lý-Giáo dục học, NXB ĐHSP Hà Nội. Tại cơng

trình nghiên cứu này, các tác giả đã giới thiệu cơ sở lý luận, thực nghiệm, quy

trình áp dụng dạy học tích cực ở nhà trường Phổ thông cũng như Đại học.

Khái niệm TTC nhận thức được đưa ra dựa trên cơ sở tiếp thu quan niệm của

Kharlamop. Các tác giả coi “hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên

TTC”. TTC là phẩm chất vốn có của con người và được biểu hiện trong hoạt

động. TTC học tập là sự gắng sức cao trong hoạt động học tập mà chủ yếu

trong hoạt động nhận thức.

Đặng Vũ Hoạt (2008) cho rằng tính tích cực học tập học tập biểu hiện ở

chỗ huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư

duy. Trong đó, sự kết hợp thống nhất giữa các yếu tố tâm lý nhận thức với các

yếu tố tình cảm, ý chí càng linh hoạt bao nhiêu nhất thì ở người học tính tích

cực càng cao bấy nhiêu.

Hồ Ngọc Đại với cơng trình “Tâm lý học dạy học’’, ơng cùng các cộng

sự áp dụng lý thuyết của Ganpêrin, Encônhin, Đavưdôp, Piagiê để xây dựng

cơng nghệ dạy học gồm 3 giai đoạn:









Thầy nghiên cứu khái niệm, chuyển ra ngồi, đối tượng hóa khái niệm.

Tổ chức cho học sinh thao tác trên đối tượng ở hình thái vật chất.

Học sinh nêu khái quát chuyển khái niệm từ bên ngồi vào trong , hình thành

tri thức của mình. Thực chất của lý thuyết này là Algơrit hóa học tâp, phát huy

tính tích cực.

Chúng tơi cũng không thể không kể đến Phan Trọng Luận (1975) , Lê

Khánh Bằng, Phạm Viết Vượng(1997), Trần Văn Nguyệt, Nguyễn Cảnh Tồn

(1998), Nguyễn Hữu Long (1995), Nguyễn Thị Tình (2009) trong các bài báo

19



và bài viết của mình đều nói đến tính tích cực của học sinh là sự say mê, tìm

tòi, khám phá tri thức và vì vậy người thầy phải có phương pháp thích hợp để

kích thích, phát triển tính chủ động, sáng tạo đó chứ khơng phải là “nhồi

nhét” kiến thức “sẵn có” vào đầu họ. Có như vậy mới đào tạo được một thế hệ

tương lai “biết làm, muốn làm” và tự kiếm được “việc làm” trong xã hội đầy

biến động của thiên niên kỷ này.

Nghiên cứu về khoảng cách giữa nhận thức và thực hành của sinh viên,

Nguyễn Quý Thanh (2012) phát hiện ra các biến số như phương pháp giảng

tích cực, tâm trạng hào hứng, vui vẻ, vị trí ngồi đầu lớp, chủ động chọn ngành

học … là những biến số có thể góp phần làm giảm khoảng cách giữa nhận

thức và thực hành.

Ngoài ra, một số luận văn, luận án của các tác giả cũng đề cập đến vấn

đề này.

Luận án tiến sỹ Tâm lý học của tác giả Đào Hương Lan (2000) với đề

tài “Nghiên cứu sự đánh giá phù hợp về thái độ học Toán của sinh viên

Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội”. Tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn về thái độ học tập tích cực của sinh viên, là một thành phần rất

quan trọng trong tính tích cực của sinh viên.

Đỗ Thị Coỏng (2004), Nghiên cứu TTC học tập môn tâm lý học của SV

đại học Sư phạm Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ. Tác giả cho rằng TTC học tập

môn Tâm lý học của SV chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, chủ quan và khách

quan, trong đó yếu tố chủ quan là quyết định trực tiếp đến TTC học tập của

các em. Học là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực, sáng tạo của người học.

Do đó, sức học, sức tự học, tự phát triển của trò là nội lực quyết định sự phát

triển của bản thân người học. Tác động của thầy, của môi trường xã hội chỉ là

ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác và tạo điều kiện thuận lợi cho người học.

Vì thế, để phát huy TTC của SV, người giảng viên phải tổ chức quá trình dạy

học có nội dung mơn học hấp dẫn, phương pháp dạy học tích cực, hình thức

tổ chức dạy học phong phú làm cho SV hiểu rằng muốn chiếm lĩnh được tri



20



thức tâm lý học thì phải tự giác đề ra mục đích, tự tổ chức, điều khiển hoạt

động học tập của mình một cách khoa học.

Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Thức (2005) với đề tài “Nghiên cứu

tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi”, đã

chỉ ra cơ sở lý luận về tính tích cực nói chung và tính tích cực học tập của học

sinh nói riêng.

Nguyễn Thu Hường, Đại học Sư phạm Hà Nội (2005), Tìm hiểu TTC

trong học tập của SV đối với môn học, Đề tài NCKH đạt giải SV Nghiên cứu

khoa học cấp Bộ. TTC của người học nảy sinh trong q trình học tập nhưng

nó lại chịu nhiều tác động khác nhau nhưng nhìn chung phụ thuộc vào những

nhân tố sau: 1.Hứng thú; 2. Nhu cầu; 3. Động cơ; 4. Năng lực; 5. Ý chí; 6.

Sức khỏe; 7. Môi trường. Trong những nhân tố trên, có những nhân tố có thể

hình thành ngay nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá

trình dài lâu dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động. Do đó, việc tích cực hóa

người học đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động

gia đình, nhà trường và xã hội. Tuy nhiên, ở đề tài này, tác giả khơng phân

tích ảnh hưởng của những nhân tố này đến TTC của SV đại học mà chỉ nêu

vấn đề ở góc độ lý luận là chủ yếu.

Nguyễn Quý Thanh (2007), Nhận thức, thái độ và thực hành của SV

với phương pháp học tích cực”, Đề tài NCKH cấp ĐHQGHN. Tác giả cho

rằng giữa nhận thức, xúc cảm và thực hành của SV trong vấn đề học tích cực

tồn tại một độchênh nhất định: Chỉ số nhận thức đúng của SV về học tập tích

cực đạt gần mức tuyệt đối: 94,7/100, trong khi đó, chỉ số thực hành chỉ đạt

62/100, còn chỉ số xúc cảm đúng là thấp nhất: 55,5/100). Trong khi phân tích

độ chênh này, tác giả cũng đã phát hiện ra một số nhân tố ảnh hưởng đến TTC

học tập của SV như yếu tố giới tính, năm học, cách chọn ngành học, nguồn

gốc xuất thân, nơi cư trú hiện tại, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều

kiện cơ sở vật chất.



21



1.2.



Khái niệm cơng cụ của đề tài



1.2.1. Tính



tích cực

Thuật ngữ tính tích cực tiếng La tinh là Activus, tiếng Anh là Activity



dùng để chỉ 2 ý:







Trạng thái hoạt động.

Tính chủ động (đối lập với bị động).

Theo từ điển Tiếng Việt (Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Anh), tích cực là

một trạng thái tinh thần có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển.

Theo từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1996), tính tích cực bao gồm 3

nghĩa:







Một là: Có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển,







trái với tiêu cực.

Hai là: Tính chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo







hướng phát triển.

Ba là: Hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc .

- Quan điểm của các nhà Triết học: Các nhà triết học cho rằng mỗi sự

vật bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động và

phát triển không ngừng.

Các nhà triết học duy vật như K.Marx, F.Ăngghen… khi bàn đến tính

tích cực đều coi nó như là thuộc tính của vật chất, tạo điều kiện tiên quyết bên

trong cho sự tự vận động và tự biểu hiện của hoạt động. Tính tích cực là một

phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, thể hiện ở sức mạnh

con người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới tự nhien xã hội và cải tạo

chính bản thân mình. Hình thành và phát triển tích cực xã hội là một trong

những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo ra những con người năng

động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.

Theo V.I.Lênin, tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể đối với

khách thể, đối với đối tượng, sự vật xung quanh; là khả năng của mỗi người

đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh những nhu cầu, năng lực của họ

thông qua các mối quan hệ xã hội.



22



- Quan điểm của các nhà Sinh học: Xuất phát từ sự nghiên cứu trong

các lĩnh vực khác nhau, các nhà sinh học cũng giải thích khác nhau về tính

tích cực.

Theo M.Kagan thì tính tích cực của các thực vật đó là tính hướng, là sự

hướng tới những yếu tố, hoàn cảnh để tạo nên sự thay đổi, vận động hay thích

nghi của các sinh vật đối với môi trường.

Phát kiến của I.P.Paplôp về hệ thống tín hiệu thứ hai giúp chúng ta giải

thích cơ sở sinh lý của tính tích cực hoạt động của con người vốn mang tính

chất đặc thù, khác biệt về chất so với động vật. Ông cho rằng: cơ sơ sinh lý của

tính tích cực chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và hệ thống tin hiệu thứ

hai. Đây là sự khác biệt giữa con người với con vật. Con vật chỉ bắt chước chứ

không có tính tích cực. Chỉ có ở con người mới có tính tích cực hành động,

hoạt động. Việc thường xun đối chiếu các động cơ hành động với hoàn cảnh

bên ngồi và kinh nghiệm tích lũy được sẽ gây cho con người thích ứng tốt

nhất với hồn cảnh sống xã hội và có khả năng cải tạo cuộc sống đó.

Theo I.M.Xesênơp hoạt động là phản ánh của hồn cảnh bên trong và

bên ngoài của cuộc sống con người: “Nguyên nhân đầu tiên của mọi hành

động của con người vốn nằm ở bên ngồi nó”. Bởi ơng đã theo quan điểm chủ

đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin là: Tâm lý là cơ năng của cái phần nhỏ đặc biệt

phức tạp của vật chất mà ta gọi là bộ não con người. Nguyên tắc quyết định

luận là nguyên tắc chủ đạo trong chủ nghĩa duy vật khi giải thích hành động

của con người và tính tích cực hoạt động của cá nhân.

Tuy nhiên, có một số người hiểu nguyên tắc này một cách đơn giản coi

con người phản ánh những tác động bên ngồi giống như sự phản chiếu. Đồng

thời họ giải thích hoạt động của con người một cách trực tiếp từ hoàn cảnh

hiện tại và những yêu cầu của hoàn cảnh đó. Một quan niệm mà thực chất có

tính chất cơ giới như vậy sẽ đưa đến chỗ cơng nhận tính thụ động của cá nhân

và tính chất máy móc trong hành vi của cá nhân.

- Quan điểm của các nhà giáo dục học:



23



V.Ơkơn cho rằng: Tính tích cực là lòng mong muốn hành động được

nảy sinh một cách chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên

trong của hoạt động.

Kharlamơp coi tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể nghĩa là

của người hành động. Một số tác giả khác lại cho tính tích cực chủ thể là một

hành động ý chí hay một phẩm chất tâm lý.

Các tác giả: B.P.Êxipôp, A.I.Secbacôp, L.Aistô; Đặng Vũ Hoạt,

Nguyễn Ngọc Bảo… xem tính tích cực như là thái độ cải tạo của chủ thể đối

với thế giới khách quan thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng

tâm lý nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh. Tính tích cực vừa là mục đích

của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân.

- Quan điểm của các nhà Tâm lý học:

Theo từ điển Tâm lý học: Tính tích cực là đặc điểm chung củua các cơ

thể sống. Trong mối tương quan với hoạt động. tính tích cực đóng vai trò điều

kiện động lực của các quá trình hình thành, thực hiện và thay đổi về loại hình

của hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạt

động. Tính tích cực được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các của các

hành động đang diễn ra, tính đặc thù của những trạng thái bên trong của chủ

thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích ban đầu, và tính bền

vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mù đích đã thơng qua.

S.Freud (phân tâm học) cho rằng tính tích cực của con người coi như

một sức mạnh tự nhiên sinh vật giống như bản năng động vật. Luân điểm cơ

bản của ông là: Con người gồm ba khối: Cái ấy – cái vô thức bao gồm cái bản

năng vô thứ như ăn uống, tình dục, tự vệ trong đó bản năng tình dục giữ vai

trò trung tâm quyết định tồn bộ đời sống tâm lý và hành vi của con người,

cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi, theo đó tính tích cực trong

hành vi và hoạt động của con người sở hữu như một bản năng bị cái ấy chi

phối; Cái tôi là con người thường ngày, con người có ý thức, tồn tại theo

nguyên tắc hiện thực- cái tơi có ý thức theo ơng là cái tơi giả hiệu, cái tơi bề

ngồi của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”; Cái siêu tôi là cái siêu phàm, cái

24



tôi lý tưởng không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm

duyệt, chèn ép.

Tâm lý học hành vi quan niệm hành vi của con người cũng như động

vật là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích

thích nào đó. Tồn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánh

bằng cơng thức:

S–R

(Kích thích – phản ứng)

Có thể thấy chủ nghĩa hành vi đã đánh đồng con người với động vật,

chỉ quan trọng hành vi, coi con người như những thực thể giống máy móc,

phản ứng rập khn tương ứng dưới những tác động vật lý mà bỏ qua phần ý

thức, tâm lý thực chất mang tính quyết định đến việc lựa chọn các hoạt động

cho bản thân. Sau này, các đại diện khác của chủ nghĩa hành vi như Tomen,

Hulơ, Skinner… có đưa vào cơng thức những biến số trung gian bao hàm nhu

cầu, trạng chờ đón, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành vi tạo tác

nhằm đáp ứng những kích thích có lợi cho cơ thể, nhưng cơ bản vẫn coi con

người có hành vi mang tính chất cơ học.

- Theo tâm lý học Macxit: các nhà tâm lý học Macxit dựa vào triết học

Mac-Lênin nghiên cứu vấn đề tính tích cực hoạt động của cá nhân trên lập

trường quyết định luận xã hội cho rằng các thái độ hình thành nên trong hoạt

động và ở đặc điểm số lượng, chất lượng của hiệu số hoạt động. Nhìn nhận

tính tích cực theo góc độ này được thể hiện như sau:

+ Tính tích cực được đề cập và nhấn mạnh như là một đặc điểm chung

của sinh vật sống, là động lực đặc biệt của mối liên hệ giữa sinh vật sống và

hoàn cảnh, là khả năng đặc biệt tồn tại giúp cơ thể thích ứng với mơi trường.

+ Tính tích cực gắn liền với hoạt động và hồn cảnh bên ngồi, nó được

biểu hiện như sau:

Nó gắn liền với sự hoạt động, được thể hiện như là động lực để hình

thành và hiện thực hóa hoạt động.

Ở mức độ cao, nó thể hiện tính chế ước, chế định trạng thái bên trong

của chủ thể.



25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×