Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU XÃ ĐỒNG TIẾN

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU XÃ ĐỒNG TIẾN

Tải bản đầy đủ - 0trang

lễ là những ứng xử của tầng lớp nhân dân dành cho thần, hướng về thần trong

mối quan hệ người – thần vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của mọi

người, mọi thời đại. Nghi lễ còn là hình thức, biện pháp tiến hành trong các

hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng và tương thích với đối tượng thờ

cúng , với vị thế xã hội, môi trường sống của những người tổ chức tiến hành

hoạt động nghi lễ. Trong những hình thái như vậy, cần phải vượt ra ngồi

những quan niệm thơng tục coi lễ chỉ là lễ bái , cúng tế mà còn phải coi lễ, nghi

lễ là rường mối kỉ cương, phép tắc, đạo lý, góp phần tơn vinh, củng cố và bảo

vệ sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội”[18, tr.27].

Như vậy, có thể hiểu rằng, lễ hay nghi lễ là cách thức tiến hành theo

những quy tắc, luật tục nhất định, mang tính tượng trưng nhằm thể hiện tấm

lòng cảm tạ, tơn trọng đối với nhân vật nào đó với mong muốn nhận được sự

phù hộ, che chở của nhân vật được thờ cúng đó.

1.1.2.Thành Hồng và cơ sở hình thành của thành Hồng làng

Theo Nguyễn Duy Hinh trong “ Tín ngưỡng thành Hồng Việt Nam”

(1996) cho rằng: Thành hoàng ( chữ Hán:



城城)



là một vị thần xuất hiện ở Trung



Quốc thời kì cổ đại với nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành và được thờ

cúng để bảo vệ, cai quản cho tòa thành. Thành Hồng thường được nhà vua ban

biển miếu hoặc phong chức tước. Bất cứ nơi đâu xây dựng thành, đào hào là ở

đó xuất hiện Thành hồng [3,tr.23]

Thành Hồng chính thức xuất hiện ở nước ta vào năm 822, thời nhà

Đường và vị thành Hồng đầu tiên là thần sơng Tơ Lịch. Lý Nguyên Gia thời

Đường thấy ngoài cửa bắc của thành có một dòng sơng có địa thể khả quan, bèn

chọn một nơi hợp lý nhất để rời phủ lý đến đó, y cũng tâu lên vua để chọn thần

sống Tơ Lịch làm thành Hoàng. Năm 866, Cao Biền đã phong thần sống Tơ Lịch

làm đơ phủ Thành Hồng thần qn. Rồi vua Lý Thái Tổ khi rời đô lại phong

thần sơng Tơ Lịch thành Quốc đơ Thăng Long Thành Hồng Đại Vương vào

năm 1010. Đến thời nhà Trần, thần sông tô Lịch được phong thêm các mỹ tự

như bảo quốc, hiển linh và đinh bang. Nguyễn Duy Hinh trong “Tín ngưỡng



13



Thành hoàng Việt Nam” nhận định rằng:



“ Thành Hoàng là một phạm trù



thần linh bảo hộ thành trì của phong kiến Trung Quốc, được du nhập vào nước

ta từ thời Đường rồi tiếp tục phát triển trong các triều đại độc lập ở nước ta.

Tại kinh đơ có miếu thờ Thành Hồng của cả nước, các tỉnh có miếu thờ Thành

Hồng. Đó đều là những vị thần linh bảo hộ một tòa thành ở trung ương hay

của tỉnh. Đó là hệ Thành Hồng kiểu phong kiến Trung Quốc mang tính trừu

tượng, cơ bản là bảo vệ thành trì, vơ nhân xưng, do vua phong”[ 3,tr.60]. Như

vậy, Thành Hoàng ở nước ta phân ra làm hai loại : Đơ Thành Hồng và Thành

Hồng làng.

Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” ( 1999) cũng viết: “ Cứ xét cái

chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xun, triều đình lập miếu thờ

thần sơn xuyên ấy để làm chủ tể cho việc âm ti một phương mà thôi. Kế sau triều

đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có cơng lao với đất

nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy. Từ đó, dân gian bắt chước

nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tế trong làng mình. Làng nào có

sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào khơng có

thì cầu lấy một vị thần linh khác rước về nhà. Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị,

việc bói khoa, việc tá khẩu, tin là một sự linh dị mà thờ. Hoặc nơi thì vì một sự

ngẫu nhiên, cho là thiêng liêng mà xin duê hiệu để thờ…Tổng chi là dân ta tin

rằng: đất có thổ cơng, sơng có hà bá, cảnh thổ nào phải có thần hồng ấy, vậy

phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một

thịnh”[7,tr.98].

Như vậy, có thể thấy rằng, việc thờ cúng Thành Hồng làng ở Việt Nam

có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên, khi tín ngưỡng ấy bén rễ vào nước ta

đã tạo nên những sự khác biệt so với tín ngưỡng thờ Thành Hồng cổ Trung

Quốc. Từ chỗ bảo vệ thành hào của vua quan, kinh thành, Thành Hồng đã trở

thành vị thần bảo vệ xóm làng, trở thành một tín ngưỡng chung cho cộng đồng

làng xã người Việt. Từ đó có thể hiểu: Tín ngưỡng thờ cúng Thành Hồng là

lòng tin của một cộng đồng dân cư vào sự phù hộ, đem lại may mắn, che chở

14



của vị thần linh thường được nhà vua phong tước, thường gắn với những ngồi

đình, miếu. Vị thần này được dân làng thờ từ trước, sau đó mới được vua phong

với các chức danh Thành Hoàng và các vị thần đều có nhân xưng cụ thể. Tuy ra

đời sau và có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng Thành Hồng làng Việt Nam vẫn

có những điểm khác biệt độc đáo, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc. Nguyễn

Duy Hinh trong “ Tín ngưỡng Thành Hồng Việt Nam” viết: “rõ ràng trong

thành Hồng Việt Nam có hai dòng riêng biệt”. [3,tr.97]. Dòng thứ nhất là hệ

thống thành Hồng cả nước, tỉnh huyện. Dòng thứ hai là hệ thống thành Hồng

làng xã. Đó mới là dòng chủ thể phản ánh bản chất tư duy tơn giáo tín ngưỡng

Việt Nam.

Tín ngưỡng thành Hoàng làng du nhập vào Việt Nam và được phong các

mỹ tự tùy thuộc vào công lao với dân, với nước. Xã hội Việt Nam thời nguyên

thủy đã xuất hiện manh nha của tín ngưỡng thành Hồng làng. Đó là việc thờ

những hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt con

người như mây, gió, sấm, chớp, núi, rừng,…Trong tư duy của con người, những

đối tượng ấy có sức mạnh siêu phàm và kì bí. Khi xã hội phát triển, xuất hiện

nhiều nhiều giai cấp phức tạp tất yếu sẽ xuất hiện những cá nhân có khả năng

tập hợp sức mạnh, chi phối cuộc sống của cộng đồng và cá nhân ấy trở thành

thần linh với sức mạnh bất biến. Do vậy, đối tượng thờ cúng của con người rất

phong phú từ thiên thần đến nhân thần và cũng sự giao thoa giữa hai loại thần

linh ấy. Việc thờ Thành hoàng làng trở nên phổ biến khi triều đình phong kiến

cơng nhận cơng lao của các bậc nghĩa sĩ, hiền tài và những bậc anh hùng bằng

việc lập đền thờ khi họ hi sinh để luôn nhớ đến công lao của họ. Dần dần, tục

này lan truyền khắp từ làng này sang làng khác, làng nào cũng mong muốn tìm

một vị thần cho làng mình.

Do điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến phương thức sản xuất nên con người

hình thành nên tâm lý sợ các hiện tượng tự nhiên. Trước hết đó là nền kinh tế

nơng nghiệp, phụ thuộc hồn tồn vào tự nhiên, tự cung tự cấp. Con người tin

rằng “ vạn vật hữu linh”- mọi vật đều có linh hồn. Đó chính là mơi trường thuận

15



lợi cho sự xuất hiện tín ngưỡng đa thần. Con người bắt đầu nhận thức được mối

quan hệ giữa cái hữu hình và cái hữu hình, giữa sự sống và cái chết. Vẫn với

quan niệm vật linh kể trên, họ hình thành nên tâm lý thờ thần, thờ thiên nhiên

xung quanh mình để cầu mong cuộc sống yên ổn, thịnh vượng. Một đặc điểm

hết sức nổi bật song song với tâm lý sợ thiên nhiên, đó là con người đã từng đối

mặt với ngoại xâm, bành trướng, xâm lược lãnh thổ và đồng hóa văn hóa. Với sự

biết ơn những anh hùng đã hi sinh để bảo vệ cuộc sống ấm no, người Việt đã suy

tôn những vị anh hùng đó thành các vị Thành hồng. Ở Đồng bằng Bắc Bộ, tín

ngưỡng Thành hồng làng được phân chia thành ba nhóm lớn sau đây:

Thành Hồng làng có nguồn gốc nhiên thần: thủy thần( thần nước), thổ

thần ( thần đất), sơn thần( thần núi),…

- Thành Hoàng sơn thần: chiếm số lượng lớn trong các vị thần, bởi lẽ trong

vũ trụ quan và nhân sinh quan thì Sơn – Thủy, Đất – Nước lả những cặp tương sinh

tương khắc tạo nên môi trường sinh sống và canh tác cho con người. Tùy theo từng

địa phương mà sơn thần có nhiều tên gọi khác nhau. Tiểu biểu nhất đó là thần Tản

Viên, Cao Các Đại Vương, Cao Sơn và Quý Minh. Khu vực thờ cúng chủ yếu của

thành Hoàng là Sơn thần chủ yếu ở Sơn Tây, Thanh Hóa, Nghệ An,…

- Thành Hoàng thủy thần: Tên của các vị thủy thần rất đa dạng ở từng địa

phương và thường được thờ ở những khu vực ven biển, ven song lớn, hồ, đầm.

Tiêu biểu nhất trong các vị thành Hoàng là thủy thần đó là: Đại Càn, Rồng, Rắn,

Hà Bá, Tam Giang Linh Lang,…

- Thành Hồng thổ thần: Có nhiều thổ thần bị loại ra khỏi loại Thành

Hồng có sắc phong hoặc nhập vào các thành Hoàng là nhân vật lịch sử như

thành Hồng ở làng Trúc Đơng xã Đơng Trục huyện Thạch Thất ( Hà Tây) theo

Hai Bà Trưng đi đánh giặc, mang sắc phong là Giám Sát Đại Vương. Tuy nhiên,

ở một số địa phương vẫn còn giữ nguyên tên của thổ thần như ở làng Đình

Bảng: thổ thần.

- Thành Hồng cây thần: số lượng ít , tiêu biểu như Bao Đại Vương ( Hà

Nội); Mộc Thụ Đại Vương( Mỹ Lộc),…

16



Thành Hồng có nguồn gốc là thiên thần: Các vị thần có nguồn gốc

trên trời, đã được nhân hóa mang hình hài con người, tiêu biểu là các vị

thiên thần: Thơng Lĩnh Hào Quang, Tích Lịch Hào Quang ( Hà Tây); Tứ

Pháp ( mây, mưa, sấm, chớp) thờ ở nhiều nơi; Ngũ Lôi ( Nam Định); Nam

Tào, Bắc Đẩu; Ngọc Hoàng; thánh mẫu trong Tam Phủ, Tứ phủ; tứ vị Thánh

Vương Mẫu Liêu ( Nam Định),…

Thành Hồng có nguồn gốc là nhân thần: chiếm số lượng lớn các vị thần

và nhiều loại: vị anh hùng có cơng với đất nước; vị có cơng khai hoang lập ấp, vị

truyền dạy nghề nghiệp, người ăn xin,…Các vị thần ấy được xếp vào các giai

đoạn phát triển của lịch sử như sau:

- Giai đoạn Hai Bà Trưng: các tướng lĩnh đánh giặc thời kì này đa phần

là phụ nữ, được phong thần và thờ cúng ở nhiều nơi khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

Bên cạnh một số vị thần một số vị thần tiêu biểu như Hai Bà Trưng, Lê Chân,…

thì còn có nhiều vị thần khác không được sắc phong.

- Giai đoạn Tiền Lý: các vị thần trở thành thành Hoàng làng như Lý Phật

tử, Lý Thiên Bảo, Triệu Việt Vương, Thổ Lệnh và Thạch Khanh ( thờ ở Hà Nội).

Khá nhiều vị thần khác cũng được xác định là dưới thời Tiền lý, nhưng khơng

biết chính xác có phải là nhân vật lịch sử hay không mặc dù đủ lý lịch rõ ràng

[3, tr.269-270].

- Giai đoạn Ngô – Đinh – Tiền Lê: Thành Hồng giai đoạn nhà Ngơ là ba

vị: Lộ Đài, Lộ Chấu, Lộ Diện ( Hưng Yên). Thành Hoàng nhà Đinh gồm Đinh

Tiên Hoàng cùng một số nhân vật như Nguyễn Lịnh Công, ba anh em Lý Đài –

Lý Trâu – Lý Quốc, hai anh em Lê Dương – Lê Quang; Trần Lãm;…Nhà Tiền

Lê có một số vị thần thành Hoàng như Vũ Định, Long Táo [2,tr.276-277].

- Giai đoạn Lý – Trần: đáng chú ý nhất trong giai đoạn nhà Lý đó là

một số thành Hồng là nhân vật theo Phật giáo. Ngồi ra, thời kì này xuất

hiện rất nhiều thành Hoàng là nhiên thần, đặc biệt là thủy thần đã được nhân

hóa đó là thần Linh Lang.



17



Ở triều đại nhà Trần, nhân vật được thần thánh hóa và thờ phụng như Trần

Hưng Đạo, Trần Thủ độ, Trần Quốc Chẩn, Trần Khát Chân,…[2, tr.288-290].

- Giai đoạn nhà Lê: đây là thời kì bùng nổ sắc phong thành Hồng các

thời đại trước đó, xuất hiện khá nhiều các vị thần thành Hồng là người có cơng

khai hoang lập ấp. Thành Hoàng trong giai đoạn này là Lê Lai, Phan Quốc Hoa,

…được thờ ở đình, miếu, nghè và đền.

- Giai đoạn nhà Nguyễn: tái phong các vị thành hồng trước đó và thành

hoàng được thờ một cách ổn định theo truyền thống.

- Giai đoạn hiện nay ( sau 1945): Vũ Trường Giang trong bài “ Ba vị

thành Hoàng mới được suy tơn ở Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Tơn Giáo, số

10/2013), đã chỉ ra có ba nhân vật nổi bật có cơng lao đối với đất nước, với nhân

dân và được suy tơn làm thành Hồng.

Vị thứ nhất, đó là bác sĩ Alexandre Esmile jean Yersin ( 1863 – 1943),

sinh ra và lớn lên ở Thụy sĩ, đếm Việt Nam làm việc vào năm 1890. Ông đã phát

hiện ra Đà lạt, cố vấn cho chính phủ Pháp trồng cây cao su ở Việt nam. Đồng

thời, ông cũng là người thành lập viện Pasteur ở Việt Nam và giữ chức hiệu

trưởng của Đại học Y khoa Đơng Dương. Ơng đã nhập chủng và trồng thành

công cây quinquina ở Việt Nam – một loại nguyên liệu để sản xuất thuốc chữa

bệnh sốt rét.

Vị Thứ hai, đó là ơng Phan Thế Phương ( 1934 -1991), Giám đốc Sở Thủy

sản tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là người vận động dân cư vùng đầm phá Tam

Giang lên đất liền định cư, giúp ngư dân toàn tỉnh Thừa Thiên Huế nuôi trồng

thủy sản đạt năng suất cao, cải thiện đời sống. Ngày 06/11/1991, ông đã qua đời

trong một vụ tan nạn trên đường công tác vào Nam. Ngư dân Thừa Thiên Huế

đã lập miếu thờ ông và suy tôn ông là “ Tổ nghề nuôi tôm” của phá Tam Giang.

Vị Thứ ba, đó là ơng Nguyễn Tạo (1905 – 1994), đảm nhiệm nhiều vị trí

quan trọng trong bộ máy Đảng và Nhà nước, là người lập làng Thủy Lạc ( xã

Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Ơng cũng là người đề nghị Chính

phủ xây dựng vườn quốc gia Cúc Phương và thành lập lực lượng kiểm lâm Việt

18



Nam. Sau khi ông mất, người dân làng Thủy Lạc đã thỉnh bát nhang, lập bài vị

và rước về đình làng Thủy Lạc thờ cúng với tư cách là thành Hồng làng.

Xét theo cơng trạng mà nhà vua ban sắc phong cho các thần thành Hồng

làng thì được phân ra làm ba nhóm:

Thượng đẳng thần (城 城 城): đó là các vị thần có nhiều cơng lao hiểm hách

với nước, với nhân dân như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh,

Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,…

Trung Đẳng Thần (城 城 城): là các vị thần có cơng khai điền lập ấp, có khi là

các vị thần mà dân làng thờ lâu, có tên họ mà khơng rõ cơng trạng hoặc có cơng

trạng mà khơng rõ họ tên.

Hạ Đẳng Thần (城



城 城 ):



là những vị thần được dân làng thờ cúng tuy



khơng rõ thần tích, những cũng thuộc chính thần. Triều đình theo dân làng mà

sắc phong làm hạ đẳng thần [2, tr.38]

Tuy nhiên, không phải làng nào cũng có thần Thành Hồng. Tác giả Toan

Ánh trong “ Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam” phân tích như sau: “Nhiều làng

hoặc vì lý do này lý do khác khơng có thành Hồng. Có những làng trước đây

cũng đã có thần, nhưng theo sự tin tưởng, thần này đã được dời đi cai quản nơi

khác, hoặc được đem lên dự vào hàng Thiên thần. Lại có nhiều thần bị phế

truất, có thể do một đạo sắc của nhà vua, có thể do một vị Ác thần khác đánh

bại, rồi sau dân làng cầu khấn các vị Thượng đẳng thần khác tới trị vị Ác thần,

vị Ác thần phải bỏ đi, mà vị thần cũ chưa triệu trở lại được. Cũng có những

làng mới lập, nên chưa có thần” [2, tr.133 – 134]. Ngoài ba nguồn gốc thần

thành Hoàng làng trên ( tức Thượng, Trung, Hạ đẳng thần), nhiều làng còn thờ

cúng cả những vị thần khơng tốt như thần gắp phân ( làng Đông Kỵ, tỉnh Bắc

Ninh); thần ăn trộm ( Thái Bình)…Những vị thần này được thờ cúng do chết

vào các giờ thiêng làm cho dân làng sợ hãi mà thờ cúng để mong ngăn chặn

những rủi ro và che chở cuộc sống yên ổn cho dân làng. Về loại thần này, tác giả

Phan Kế Bính trong “ Việt Nam phong tục” viết: “ Ngoài ba bực thần ấy còn

nhiều nơi thờ bậy, thờ bạ: Nơi thì thờ Thần bán lợn, nơi thì thờ Thần trẻ em và

thần ăn xin, Thần chết nghẹn, Thần tà dâm…Các hạng ấy, gọi là Tà thần, Yêu

19



Thần, Đê tiện thần vì dân ngu xuẩn tin bậy mà thờ, chứ khơng được vào Tự

Điển, khơng có phong tặng gì cả”[7, tr.86].

Tóm lại, thành Hồng ở Việt Nam có rất nhiều nguồn gốc, trong đó nhân

thần vẫn chiếm đa số. Dù là nhân thần, thiên thần hay nhiên thần thì trong tâm

thức của dân làng Việt Nam thì thành Hồng làng ln mang lại sự che chở, yên

ổn, may mắn cho họ.

Một số đặc điểm trong tín ngưỡng thờ cúng thành Hồng làng tại khu

vực đồng bằng Bắc Bộ

Thứ nhất, nhân hóa và lịch sử hóa. Đặc điểm này phổ biến ở các vị nhiên

thần, nổi bật là Sơn Tinh – Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Tinh cùng với Cao Sơn và

Quý Minh là những vị sơn thần nổi bật nhất của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ,

đặc biệt là khu vực Sơn Tây và Phú Thọ. Từ đơn thuần là một vị thần núi vô

nhân xưng trong Đại Việt sử ký tồn thư của Ngơ Sỹ Liên, Sơn Tinh đã được

nhân dân nhân hóa và lịch sử hóa. Tản Viên sơn Thánh đã có một lý lịch khá đầy

đủ và chi tiết: bố là Nguyễn Cao Hạnh, mẹ là Đinh Thị Điên sinh sống ở động

Lăng Sương, kết hôn với Mỵ Nương Ngọc Hoa ( con gái của vua Hùng). Khi đất

nước bị xâm lăng thì Tản Viên đem quân đi dẹp yên bờ cõi rồi từ bỏ ngôi báu

của vua cha để đi khắp nơi dạy nghề cho dân chúng( được ghi chép bởi Nguyễn

Bính và Nguyễn Hiền thế kỉ XVI – XVII).

Thứ hai, thần thánh hóa. Đây là đặc điểm phổ biến ở cả nhiên thần và

nhân thần và trở thành một xu hướng phổ biến ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế

giới. Xu hướng thần thánh hóa nhân vật lịch sử trên thế giới điển hình nhất là

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đặc biệt là những chuyện liên quan đến việc ra đời

của Ngài. Ở Việt Nam, việc thần thánh hóa nhân vật lịch sử cũng phổ biến với

các nhân vật tiêu biểu như Trần Hưng Đạo, Lê Lai, Lý Phật Tử,… bên cạnh đó,

còn có những vị nhiên thần được thần thánh hóa như Linh Lang với chi tiết liên

quan đến việc sinh và tử của thần: bà mẹ nông dân(thời Lý) ra hồ tắm bị rắn phủ

rồi có thai, sinh ra một cậu con trai thơng minh và trí tuệ hơn người, có công lao

lớn giúp vui đánh thắng giặc ngoại xâm.

20



Thứ ba, cơng tích hóa và địa phương hóa. Đặc điểm này có nghĩa là

các vị thần để trở thành nhân vật được nhân dân thờ cúng, bên cạnh việc nhấn

hóa và lịch sử hóa, các vị thần còn phải có cơng lao có địa phương nào đó

như đánh giặc, chống lại thiên tai, truyền dạy nghề nghiệp,…Đặc điểm này

phổ biến ở các vị nhiên thần ví dụ như Sơn Tinh “ ông tổ trăm nghề”. Sơn

Tinh có rất nhiều công lao với dân chúng( theo Hà Kỉnh và Đồn Cơng Hoạt

– trong cuốn Truyền thuyểt Sơn Tinh, 1973): cứu nhân dân thoát khỏi thiên tai

lũ lụt, dạy dân trị thủy, đào ao/giếng/mương, trồng rau, thả cá, trồng lúa, săn

bắt động vật, dạy dân cách tạo ra lửa,…

1.2.3. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu xã Đồng Tiến

1.2.3.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở xã Đồng Tiến

Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng đất phù sa màu mỡ và mộ trong những cái

nơi văn hóa của người Việt. Từ xa xưa, cư dân trên mảnh đất phù sa ấy đã có

những hoạt động tín ngưỡng vơ cùng phong phú, phản ánh tâm tư, nguyện vọng

của cư dân trước sự khắc nghiệt của tự nhiên và xã hội. Điều kiện tự nhiên bao

gồm đất, nước, khí hậu,…được hiểu là mơi trường để con người có thể sinh sống.

Vì vậy, con người chịu những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của môi trường tự

nhiên. Tự nhiên không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn ảnh hưởng cả

đến đời sống tinh thần, trong đó có tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng.

Xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình nằm ở khu vực Đồng

bằng Bắc Bộ - khu vực rộng lớn nằm ở hạ lưu sông Hồng. Nơi đây có khí hậu

nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa ( nhiệt độ trung bình năm khoảng 25 độ C và

lượng mưa trung bình khoảng 1400-2000mm). Đây là những điều kiện rất thuận

lợi cho sự phát triển phong phú của thảm thực vật, đặc biệt là sự phát triển của

nông nghiệp thâm canh trồng lúa nước. Tự nhiên cung cấp những sản phẩm vật

chất cho con người nhưng cũng có thể lấy đi tất cả những gì mang đến. Ngồi ra,

với một nên nơng nghiệp tự nhiên thì nhu cầu trị thủy rất quan trọng. Do hạn chế

về nhận thức mà con người đã thần thánh hóa các hiện tượng của tự nhiên, họ

sùng bái thờ cúng để mong muốn tránh khỏi sự trừng phạt của thiên nhiên. Vì

21



vậy, muốn tồn tại buộc con người phải hiểu tự nhiên và sống hòa đồng với nó.

Nằm trong điều kiện địa văn hóa của Đồng bằng Sơng Hồng, xã Đồng Tiến còn

có con sơng … chảy qua.

Giống như những nơi khác, từ xa xưa cư dân Đồng Tiến đã quý trọng, tơn

thờ, sùng bái tự nhiên. Từ đó, tín ngưỡng thờ cúng thiên nhiên ( đất, nước, sơng,

núi,…) hình thành và được tơn sùng làm thần Hồng làng cầu mong che chở,

bình an cho cư dân trong làng.

1.2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội; lịch sử và văn hóa xã Đồng Tiến

Trong cơ cấu kinh tế của xã Đồng Tiến, bên cạnh sản xuất nơng nghiệp

trồng lúa nước, còn phát triển những ngành kinh tế khác như tiểu thủ công, chăn

ni,…Nền kinh tế nơng nghiệp trồng lúa nước mang tính tự nhiên, tự cấp, tự

túc là chính. Với đặc trưng sản xuất nông nghiệp, cư dân buộc phải liên kết chặt

chẽ trong cộng đồng làng xóm để trị thủy, mở rộng địa bàn sinh sống, chống sự

xâm chiếm lãnh thổ, đồng hóa văn hóa của kẻ thù,…Trong xã hội của người Việt

nói chung và cư dân xã Đồng Tiến nói riêng thì làng có một vai trò đặc biệt quan

trọng. Làng giống như những ốc đảo độc lập, người dân sinh sống và tiến hành

lao động sản xuất trong một khơng gian chung, đồng thời có những nét văn hóa

khác nhau đáp ứng nhu cầu tâm linh của mình. Làng góp phần hình thành ý thức

về cội nguồn, lòng biết ơn đối với những người khai hoang, lập ấp, tạo dựng

nghề nghiệp và cả những người có cơng bảo vệ sự bình n cho cư dân trong

làng. Từ đó, nảy sinh khơng gian văn hóa tín ngưỡng thờ thành Hồng làng. Xã

Đồng Tiến gồm 6 làng đó là: làng Đò Neo, làng Bất Nạo, làng Đơng Hòe, làng

Quan Đình Bắc, làng Quan Đình Nam, và làng Cổ Đẳng. Mỗi làng tuy có một

bộ máy hành chính riêng những vẫn nằm trong một chỉnh thể thống nhất ở mọi

phương diện.

Một đặc điểm hết sức nổi bật song song với việc cố kết cộng đồng trong

sản xuất nơng nghiệp, đó là cư dân người Việt nói chung và cư dân xã Đồng

Tiến đã từng đối mặt với giặc ngoại xâm, bành trướng, xâm lược lãnh thổ và

đồng hóa văn hóa. Họ buộc phải đoàn kết với nhau để bảo vệ cuộc sống bình

22



n xóm làng. Người Việt từ xa xưa quan niệm rằng con người sau khi chết sẽ

tiếp tục tồn tại ở thế giới bên kia. Với sự biết ơn những người anh hùng đã hi

sinh để bảo vệ cuộc sống ấm no, người Việt đã suy tôn những vị anh hùng đó

thành những vị thần thành Hồng. Hằng năm, dân làng tổ chức tổ chức lễ hội để

tưởng nhớ đến cơng lao của các bậc tiên hiền.

Ngồi ra, Nho giáo được truyền bá vào nước ta từ thế kỉ đầu cơng ngun

và trong suốt thời kì Bắc thuộc, nó có ảnh hưởng sâu rộng khơng chỉ trong lĩnh

vực chính trị mà còn cả trong đời sống tinh thần, trong đó có cả những sinh hoạt

văn hóa tín ngưỡng của dân cư đồng bằng Bắc Bộ nói chung và cư dân xã Đồng

Tiến nói riêng. Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến tín ngưỡng dân gian xã Đồng

Tiến được thể hiện rõ nét qua tín ngưỡng thờ cúng thành Hồng làng. Tư tưởng

cơ bản của Nho giáo nhằm xây dựng trật tự xã hội phong kiến đó là thuyết chính

danh. Ai ở địa vị nào phải làm tròn trách nhiệm và ai giữ phận nấy, không được

hưởng những quyền lợi cao hơn địa vị của mình. Muốn cho xã hội khỏi loạn lạc

Nho giáo đã đề ra học thuyết “chính danh”, mà muốn chính danh thì phải tơn

trọng lễ và phải có nhân. Như vậy, tư tưởng này đã quy định con người sống

phải biết trước biết sau, uống nước nhớ nguồn. Vì vậy, người Việt đã thờ cúng

thành Hồng làng như một sự biết ơn, kính trọng đối với những người có cơng

khai làng, lập ấp, truyền dạy nghề, đấu tranh bảo vệ cuộc sống bình n,…

Học thuyết “chính danh” cũng đặt ra vấn đề coi trọng người hiền tài, sử

dụng người hiền tài đúng với năng lực của họ. Đây cũng là học thuyết coi trọng

học tập, có học mới làm quan. Việc học ở đây là vừa học tri thức, vừa học đạo

đức và rèn khí tiết, từ đó, hình thành con đường làm quan thơng qua thi cử, đỗ

đạt. Những nhân vật hiền tài, thông minh xuất chúng được nhân dân hết mực ca

ngợi và sau khi mất được thờ cúng, tơn sung thành thần Hồng làng. Xã Đồng

Tiến cũng là một trong những nơi thờ thành Hồng làng là người hiền tài, đó là

trạng ngun Vũ Duệ. Nhân dân trong xã đều có truyền thống hiếu học, tinh

thần đoàn kết, yêu thương đùm bọc đồng loại, có tinh thần yêu nước, anh hùng



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU XÃ ĐỒNG TIẾN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×