Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ lược giải phẫu và sinh lý mũi xoang

Sơ lược giải phẫu và sinh lý mũi xoang

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.1.3. Mạch máu hố mũi

Ở mũi có nhiều mạch máu thuộc hệ thống động mạch cảnh trong và hệ

thống động mạch cảnh ngoài.

- Hệ thống động mạch cảnh trong: gồm có hai động mạch sàng trước và

động mạch sàng sau đều xuất phát từ động mạch mắt. Động mạch sàng trước to

hơn động mạch sàng sau qua ống sàng, vào hốc mũi chia làm hai nhánh: nhánh

trong tưới máu cho phần trước trong của vách ngăn; nhánh ngoài tưới máu cho

thành ngoài của hốc mũi.



1. Động mạch bướm khẩu cái

2. Nhánh mũi ngoài của động mạch

sàng sau

3. Nhánh mũi ngoài của động mạch

sàng trước

4. Điểm mạch Kisselbach

5. Động mạch khẩu cái



Hình 3. Sơ đồ mạch máu hốc mũi [1]

- Hệ thống động mạch cảnh ngoài:

Động mạch bướm - khẩu cái vào hốc mũi qua lỗ bướm khẩu cái và chia làm hai

nhánh: bướm khẩu cái ngoài tưới máu cho thành ngoài hốc mũi; bướm khẩu cái

trong tưới máu cho vách ngăn.

Động mạch khẩu cái lên: qua ống khẩu cái sau vào phần sau hàm ếch nuôi

dưỡng niêm mạc hàm ếch rồi lại chui vào lỗ khẩu cái trước vào hốc mũi tưới

máu cho phần dưới ngoài vách ngăn và phần tiền đình mũi.

Tất cả các nhánh mạch máu (phần ni dưỡng vách ngăn) đến tận cùng nối

với nhau thành một đám rối mau mạch gọi là điểm mạch Kisselbach (gọi tắt là

điểm mạch).

4



Các tĩnh mạch chạy kèm theo động mạch và đổ vào tĩnh mạch mắt, tĩnh

mạch mặt, tĩnh mạch chân bướm.

1.1.1. 4. Thần kinh

Ở mũi có hai loại dây thần kinh: thần kinh cảm giác và thần kinh khứu giác.

Khứu giác: dây thần kinh I giữ chức năng ngửi, nó bắt đầu từ tế bào thần

kinh ngửi, nằm ở phần cao của hốc mũi, trên diện tích 2 - 3 cm 2, có mầu vàng

nên gọi là điểm vàng.

Cảm giác: chi phối bởi nhánh mắt và nhánh hàm của dây thần kinh V.

Thần kinh giao cảm: giữ vai trò rất quan trọng trong bệnh học mũi - xoang,

đặc biệt trong điều hòa vận mạch của mũi, chủ yếu ở tổ chức cương ở cuốn

dưới. Hệ giao cảm có nguồn gốc từ hạch bướm - khẩu cái.

1.1.2. Xoang

Xoang là những hốc rỗng của xương mặt và xương sọ, gồm có 5 đơi và

được xếp thành 2 nhóm: Xoang trước và xoang sau tùy theo vị trí và mỗi xoang

có một lỗ thơng với hố mũi.

Nhóm xoang trước có: xoang hàm, xoang trán, xoang sàng trước, dẫn lưu

vào phía trước của khe giữa, vào trong hoặc gần phễu sàng, dưới chỗ bám của

cuốn mũi giữa.

Nhóm xoang sau có: xoang sàng sau và xoang bướm. dẫn lưu vào khe

trên, trên chỗ bám của cuốn mũi giữa.

Xoang hàm và xoang sàng có ngay khi sinh, trong khi đó xoang bướm và

xoang trán xuất hiện vào thời kỳ thứ hai tới thời kỳ thứ ba của cuộc sống. Thơng

thường các xoang phát triển hồn chỉnh vào lúc 18 tuổi.



5



1. Xoang hàm

2. Hố mắt

3. Vách ngăn mũi

4. Xoang sàng trước

5. Xoang trán



Hình 4: Sơ đồ các xoang cạnh mũi (Thiết đồ đứng ngang) [10]

Xoang hàm: Thường có ngay từ lúc mới sinh. Xoang hàm có hình tháp nằm

ở trong xương hàm trên. Nó có ba mặt, một nền và một đỉnh: mặt trên là sàn của hố

mắt; mặt trước là hố nanh; mặt sau nhìn vào hố chân bướm - hàm; nền của tháp là

thành ngoài của hố mũi (vách mũi - xoang); đỉnh của tháp ở về phía xương gò má.

Xoang hàm ăn thơng với hố mũi qua một lỗ nhỏ gọi là ostium và đổ ra khe giữa.

Xoang trán: Xoang trán giống hình tháp dựng đứng trong xương trán. Nó có

ba mặt và một nền: mặt trước có vị trí tương ứng vùng rễ lông mày; mặt sau là lớp

trong của xương sọ có liên quan đến màng não và não; mặt trong là vách ngăn cách

biệt hai xoang trán; nền của xoang trán gồm hai phần (phần ngoài liên hệ với hố mắt,

phần trong thấp hơn và dính liền với phễu trán). Xoang trán ăn thông với mũi qua

ống mũi - trán, ống này đi từ phễu trán, xuyên qua các tế bào xoang sàng trước và đổ

vào khe giữa.

Xoang sàng: Là xoang phát triển nhất khi sinh. Hệ thống xoang sàng có

khoảng một chục hốc nhỏ gọi là các tế bào sàng, ở giữa hố mắt và hố mũi. Các

tế bào này nằm trong hai khối bên của xương sàng. Mỗi khối có hình hộp chữ

nhật sáu mặt: mặt ngồi giáp với hố mắt (xương giấy); mặt trong với hố mũi;

mặt trên với nền sọ; mặt dưới với khe giữa; mặt trước với xương chính mũi; mặt

sau với xoang bướm.

6



Xoang sàng chia ra làm hai phần: xoang sàng trước ăn thông với khe giữa,

xoang sàng sau ăn thông với khe trên

Xoang bướm: Là một cái hốc rỗng nằm trong thân xương bướm. Xoang

bướm giáp: phía trước với xoang sàng sau; phía sau với mảnh nền của xương

chẩm; phía trên với tuyến yên, với giao thoa thần kinh thị giác; phía trước với

nóc vòm; phía ngồi với xoang hang, với ống thị giác; phía trong với vách ngăn

của xoang bướm. Lỗ thơng của xoang này ở phía trước và đổ ra khe trên.

1. Xoang trán

2. Xoang sàng

3. Não

4. Xoang bướm

5. Cuốn mũi dưới



Hình 5: Sơ đồ các xoang cạnh mũi (Thiết đồ đứng dọc) [10].

1.2. Chức năng sinh lý mũi xoang

1.2.1. Mũi

Thở: mũi được coi là cửa ngõ của đường thở. Nhờ cuốn dưới, hệ thống

mạch máu, các tuyến và tế bào lơng chuyển nên khơng khí qua mũi được sưởi

ấm, làm ẩm và lọc sạch trước khi vào phổi. Cuốn dưới có tính chất cương nên

điều chỉnh được luồng khơng khí cần thiết. Ngồi ra còn có hệ thống tế bào dưới

niêm mạc sản sinh các thực bào và dịch thể miễn dịch. Nó hoạt động như một hệ

thống bảo vệ chống lại các kháng nguyên khi hệ thống lông - nhày không loại

trừ được.

Như vậy niêm mạc mũi giữ vai trò rất quan trọng để bảo vệ đường hơ hấp

và đảm bảo tốt chức năng sinh lý hô hấp nhờ hệ thống lông - nhày và hệ thống tế

bào dưới niêm mạc của nó.

Ngửi: Để ngửi được, luồng khơng khí phải đến được vùng ngửi, khơng bị

các u, lệch hình, dính ở hốc mũi cản trở. Các chất có mùi phải hòa tan được

7



trong dịch nhày phủ trên các tế bào thần kinh cảm giác thì mới tạo được kích

thích tới dây thần kinh khứu giác.

Các bít tắc ở hốc mũi làm cho luồng khí khơng đi được tới vùng ngửi; gây

giảm, mất ngửi. Các tổn thương tế bào thần kinh cảm giác ở nóc hốc mũi, tổn

thương dây thần kinh khứu giác và các nhân thần kinh ở não sẽ gây mất ngửi.

Phát âm: mũi còn đóng vai trò phát âm tạo ra âm sắc và độ vang của tiếng

nói. Khi hốc mũi bị bít tắc hoặc tịt lỗ mũi, giọng nói sẽ bị mất độ vang, thay đổi

âm sắc được gọi là giọng mũi kín [7].

1.2.2. Xoang

Niêm mạc của các xoang cũng là niêm mạc của đường hô hấp trên, cũng có

cấu tạo giống niêm mạc mũi. Gồm có các tế bào lơng chuyển và các tế bào tiết, tạo

thành hệ thống lông – nhày để phối hợp và hỗ trợ cho hoạt động của mũi. Biểu mơ

lót trong mũi và các xoang cạnh mũi là biểu mô trụ giả tầng có lơng chuyển có

tuyến chế tiết nhầy. Sự chuyển động của các lông trên bề mặt tế bào lông trong các

xoang theo hướng đồng tâm, tâm điểm là lỗ thông mũi – xoang.

Sinh lý của xoang dựa vào sự lưu thơng khơng khí và dẫn lưu nhờ các lỗ

thơng. Nếu lỗ thơng tắc, xoang lâm vào tình trạng bệnh lý.

Sự vận chuyển niêm dịch của mũi xoang bao gồm hai q trình: trong

xoang và ngồi xoang. Tất cả các niêm dịch của mũi xoang đều được vận

chuyển tới cửa mũi sau, rồi xuống họng.

Khi mũi xoang bị viêm sẽ gây bít tắc, phù nề, tắc nghẽn lỗ thơng xoang

tạo ra sự kém thơng khí ở các xoang, làm cản trở sự thơng khí và dẫn lưu xoang,

làm thay đổi áp lực khơng khí trong xoang, rối loạn hoạt động sinh lý của niêm

mạc xoang. Khi chức năng lông chuyển bị rối loạn, lớp phủ nhầy không hoạt

động bình thường, yếu tố đề kháng tại chỗ bị giảm. Lỗ thông bị tắc, chất tiết bị ứ

lại. Ban đầu có sự gia tăng thống qua của áp suất trong mũi theo sau áp suất âm

trong mũi là hậu quả của sự giảm oxy xoang. Sự thở qua mũi giảm là kết quả

của nhiều yếu tố gây phù niêm mạc và giảm oxy. Hắt hơi, sổ mũi, và chảy mũi

8



có thể đi vào trong xoang và lần nữa sự ứ đọng chất tiết xảy ra. Chức năng lông

chuyển bị giảm.

Chức năng ngửi và phát âm chưa được xác định rõ, nhưng thấy rằng khi

viêm xoang sàng sau cũng có thể giảm hoặc mất ngửi

Việc phát âm được vang và to là do các hốc rỗng trong khối xương mặt ở quanh

hốc mũi, các xoang đặc biệt là xoang trán và xoang hàm[8], [9], [11].

2. Nguyên nhân

2.1. Nhiễm khuẩn

Chủ yếu do virut hoặc thứ phát sau các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp

trên như cúm, sởi, thuỷ đậu, bạch hầu…hoặc sau các bệnh như viêm Amyđan,

viêm VA quá phát, viêm lợi, viêm răng (đặc biệt là các răng 4,5,6, hàm trên liên

quan mật thiết với xoang hàm gây viêm xoang hàm).

2.2. Dị ứng

Hay gặp ở những người có cơ địa dị ứng với các dị nguyên như bụi nhà,

phấn hoa, đồ ăn. Do niêm mạc mũi xoang quá mẫn cảm với các yếu tố kích

thích, hơn nữa mũi xoang là cửa ngõ của đường hơ hấp. Dị ứng và nhiễm khuẩn

có liên quan mật thiết với nhau (vi khuẩn có thể là một kháng nguyên hay ngược

lại, sau dị ứng là sự bội nhiễm của vi khuẩn).

2.3. Chấn thương

Các chấn thương cơ học, do hoả khí gặp trong tai nạn lao động, tai nạn

giao thông, tai nạn sinh hoạt làm vỡ xoang hay tụ máu trong xoang đều có thể

gây viêm xoang. Ngoài ra, các chấn thương về áp lực như thay đổi áp suất trong

quá trình du lịch bằng máy bay, bơi lội hoặc lặn có thể xuất huyết, phù nề niêm

mạc rồi gây ra viêm xoang.

Ngoài các nguyên nhân cơ bản trên, người ta còn thấy các yếu tố thuận lợi sau:

Yếu tố lý hoá học: do tiếp xúc với các loại bụi, hoá chất, hơi độc.

Yếu tố tại chỗ: những cấu tạo bất thường của mũi xoang như xoang quá

rộng, quá hẹp, vẹo vách ngăn, gai mũi, cuốn mũi quá phát, dị hình khe giữa, dị

9



hình xoang, các khối u trong xoang và hốc mũi hoặc nhét mechè mũi lâu ngày…

làm cản trở sự dẫn lưu và thông khí của xoang.

Yếu tố tồn thân: ở những người bị suy nhược toàn thân, rối loạn nội tiết

như tiểu đường, rối loạn vận mạch, rối loạn về nước và điện giải, những người có

bệnh mạn tính như lao, viêm phế quản…dễ bị viêm xoang [1], [3], [7].

3. Triệu chứng

3.1. Triệu chứng lâm sàng

Viêm mũi xoang cấp tính là viêm niêm mạc mũi xoang thường nguyên phát

do virus hoặc thứ phát sau các bệnh truyền nhiễm như: cúm, sởi, thuỷ đậu, bạch

hầu... còn gặp sau viêm amyđan, V.A cấp, viêm mũi cấp. Có thể viêm một xoang

đơn độc: viêm xoang hàm cấp do răng. Nhưng thường gặp là viêm nhiều xoang

vì các xoang đều thông với nhau qua hốc mũi.

3.1.1.Triệu chứng tồn thân

Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, kém ăn, suy nhược, mệt mỏi…

3.1.2. Triệu chứng cơ năng

Đau đầu là triệu chứng nổi bật: đau có tính chất chu kỳ, thường đau nhiều

vào buổi sáng, ngoài cơn đau bệnh nhân chỉ cảm thấy nặng đầu. Vị trí đau tương

ứng với xoang viêm (những cơn đau có giờ rõ rệt thường là viêm xoang trán,

ngoài cơn đau bệnh nhân chỉ thấy nặng đầu, nhức đầu nhiều ở vùng chẩm phải

nghĩ đến viêm xoang sau).

Chảy mủ mũi: đặc, nhày, mùi tanh, chảy cả hai bên nhưng chảy nhiều bên

xoang viêm. Chảy ra cả cửa mũi trước và cửa mũi sau. Mủ có khi lẫn ít máu tươi

do bệnh nhân xì mạnh làm vỡ mao mạch mũi.

Tắc mũi: thường tắc cả hai bên mũi nhưng tắc nhiều hơn bên xoang viêm.

3.1.3. Triệu chứng thực thể

Ấn điểm đau tương ứng xoang viêm, bệnh nhân rất đau:

Điểm hố nanh trong viêm xoang hàm.

Điểm Ewing (đầu trong cung mày) trong viêm xoang trán.

10



Điểm Grunwald (bờ trong - trên hố mắt) trong viêm xoang sàng trước.

Khám nội soi: Phương pháp nội soi mũi là cần thiết và có giá trị để xác

định viêm mũi xoang cấp tính.

Soi mũi trước: niêm mạc mũi xung huyết toàn bộ, cuốn mũi to, nề, đỏ. Sau

khi đặt thuốc co mạch thấy khe giữa có mủ đây là triệu chứng rất có giá trị trong

chẩn đốn viêm nhóm xoang trước cấp.

Soi mũi sau: mủ chảy từ khe trên qua của mũi sau xuống thành sau họng

(viêm nhóm xoang sau)



Hình 6a. Hình ảnh nội soi mũi



Hình 6b. Hình ảnh nội soi mũi



trong viêm xoang trước cấp [7]

Dải mủ chảy từ khe giữa xuống.



trong viêm xoang sau cấp [2]

1. Cửa mũi sau

2. Vách ngăn

3. Dải mủ chảy từ khe trên xuống



3.2. Triệu chứng cận lâm sàng

Xét nghiệm máu: bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.

X quang: Chụp phim Blondeau, phim Hirtz: Trong viêm xoang sẽ có hình ảnh

mờ đều các xoang viêm. Tuy nhiên khi đã sử dụng kháng sinh, thuốc chống viêm,

hình ảnh viêm xoang cấp trên phim khơng còn điển hình.

Chụp CT Scanner: Là phương pháp được lựa chọn trong chẩn đoán viêm mũi

xoang, trong một số trường hợp giúp chẩn đoán nguyên nhân viêm xoang (do răng,

nấm)….[2], [3].



11



3.3. Các thể lâm sàng.

3.3.1. Theo vị trí

Viêm hệ thống xoang trước: đau về phía trước của mặt, đau vùng tương

ứng với các xoang, mủ chảy qua khe giữa.

Viêm hệ thống xoang sau: đau trong sâu về phía sau, đau sâu trong hốc

mắt, vùng gáy chẩm, mủ qua khe trên.

3.3.2. Theo hình thái

. Viêm xoang hàm do răng

Xoang hàm có liên hệ chặt chẽ với răng hàm trên số 3,4,5, 6 cho nên

những người có thương tổn ở những răng đó như viêm quanh răng, có thể gây

viêm xoang hàm.

Đặc điểm của loại bệnh này là viêm xoang hàm chỉ khu trú ở một bên, mủ

rất thối, khi gõ vào răng bệnh thì bệnh nhân sẽ kêu đau nhói lên mặt.

Viêm xoang tắc lỗ ostium

Thường khu trú ngang mức xoang trán, đau rất nhiều nhưng không tương

ứng với triệu chứng nghèo nàn tại chổ. Cơn đau này giảm ngay khi đặt bơng có tẩm

Cocain adrenalin ở phần trước của cuốn giữa ngay với lỗ ostium của xoang trán.

4. Chẩn đoán

4.1. Chẩn đoán xác định

Viêm mũi xoang cấp dựa vào các tiêu chuẩn sau đây:

4.1.1. Triệu chứng lâm sàng:

Dựa vào triệu chứng lâm sàng là chính: thường sau viêm mũi vài ngày, xuất

hiện đau đầu tăng lên dữ dội, vị trí đau tương ứng với xoang viêm.

Nội soi thấy mủ ứ đọng ở khe giữa và khe trên. Đây là biện pháp rất có giá

trị trong chẩn đoán viêm mũi xoang hiện nay.

4.1.2. Triệu chứng cận lâm sàng:

– Chụp phim Blondeau và Hirtz. Phim Blondeau có giá trị chẩn đốn viêm

xoang trước, phim Hirtz có giá trị chẩn đoán viêm xoang sau.

12



– CT Scan xoang: rất có giá trị trong chẩn đốn khu trú và trong điều trị

viêm xoang. CT xoang thường được thực hiện theo hai chiều: cắt dọc (coronal)

và cắt ngang (axial) với từng “lát” cắt mỏng cách nhau vài li, đi ngang qua tất cả

các xoang. Đọc phim CT xoang, phải chú ý đến niêm mạc và thành xương của

xoang cũng như xem các lỗ ostium có bị nghẽn hay khơng

Triệu chứng X- quang chỉ có giá trị bổ sung cho chẩn đốn mà khơng giữ

vai trò quyết định trong chẩn đốn viêm mũi xoang, vì nhiều trường hợp xoang

rất mờ trên phim nhưng bệnh tích trong xoang lại rất nghèo nàn và ngược lại.

Mờ xoang sàng



Hình 7a: Hình ảnh CT-Scanner



Mờ xoang hàm



Hình 7b: Phim Blondeau [10]



mũi xoang [7]

4.2. Chẩn đốn phân biệt

Cần phân biệt với các bệnh sau:

- Viêm mũi cấp tính: Chảy mũi dịch trong, ấn khơng có điểm đau xoang

- Sưng vùng hố nanh do răng: khám răng và X quang cho phép phân loại

hai bệnh này.

- Viêm túi lệ: dễ nhầm với viêm xoang sàng cấp xuất ngoại. Trong viêm túi

lệ, nặn túi lệ có mủ trào ra.

- Đau dây thần kinh hoặc vẹo vách ngăn: bệnh nhân cũng có triệu chứng

nhức đầu, nghẹt tắc mũi, nội soi và chụp X- quang giúp ta phân biệt bệnh.

13



5. Tiến triển và biến chứng

5.1. Tiến triển

Viêm mũi xoang cấp có thể điều trị khỏi nếu được loại trừ nguyên nhân và

dẫn lưu xoang tốt, tránh ứ đọng dịch trong xoang. Bệnh cũng có thể chuyển

thành viêm mũi xoang mạn tính và hay tái phát nếu không được điều trị tốt.

Viêm mũi xoang cấp nếu khơng được điều trị tốt có khả năng dẫn đến các

biến chứng tới các cơ quan lân cận, đôi khi gây ra những biến chứng nguy hiểm.

5.2. Biến chứng

Viêm tai giữa, viêm họng mạn: Thường gặp do viêm xoang sau

Viêm thần kinh thị giác hậu nhãn cầu: trong viêm mũi xoang cấp, sau vài

cơn nhức đầu, thị lực sụt rất nhanh và bất thình lình, có khi chỉ sau vài ngày chỉ

còn thấy ánh sáng ở chu vi thị trường.

Viêm tấy ổ mắt, viêm mi mắt, viêm túi lệ: thường gặp ở trẻ em, do viêm

xoang sàng tấy mủ xuất ngoại

Viêm màng não, áp xe não – Viêm tắc xoang tĩnh mạch hang (ít gặp) [3].

6. Điều trị

6.1. Nguyên tắc chung

Đảm bảo dẫn lưu và thông khí xoang tốt

6.2. Điều trị tại chỗ

Làm sạch và thơng thoáng hốc mũi: rửa mũi bằng dung dịch natriclorua

0,9%, hút sạch các khe mũi.

Chống tắc mũi với các loại thuốc co mạch như ephedrine, naphazolin. Có

thể xơng mũi bằng thuốc có tinh dầu hoặc lá cây có tinh dầu...

Chống nhiễm trùng bằng các dung dịch kháng sinh.

Chống viêm, chống phù nề bằng hydrocortisone, alphachymotrypcin...

Khí dung mũi xoang: thuốc kháng sinh kết hợp với corticoid.

Giảm xuất tiết bằng argyrol 1-3%.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ lược giải phẫu và sinh lý mũi xoang

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×