Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
SINH LÝ BỆNH TRONG TĂNG ÁP LỰC NỘI SỌ DO CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

SINH LÝ BỆNH TRONG TĂNG ÁP LỰC NỘI SỌ DO CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Tải bản đầy đủ - 0trang

13

- Giai đoạn tăng thể tích máu tụ làm cho chèn ép não tăng lên.

- Giai đoạn thiếu máu trong não và xuất hiện các triệu chứng của rối

loạn chức năng thân não.

Do vậy đối với máu tụ nội sọ não cần phải can thiệp sớm và kịp thời. nếu

lấy bỏ máu tụ trong giai đoạn đã có nhưng rối loạn chức năng thân não thì khó

có thể ngăn ngừa được những kết quả xấu.

Dương Chạm Uyên [18] cho rằng 25g máu tụ là cần phải được lấy bỏ. tuy

nhiên, khối lượng máu tụ cũng chỉ có tính chất tương đối, vì nguy cơ chèn ép

não của khối máu tụ còn tùy thuộc vào vị trí [19], [20] và tình trạng cụ thể của

não, đặc biệt là ở người già thể tích não có thể giảm từ 6-11% do hiện tượng teo

não [20], [21].

3.1.2. Phù não

Phù não là tình trạng ứ đọng nước quá nhiều trong tổ chức não nó có thể

khu trú nhưng cũng có thể lan tỏa. nó là một trong những nguyên nhân gây tăng

ALNS quan trọng.

Phù não là hiện tượng đặc trưng của quá trình tiến triển của khối máu tụ

hoặc tình trạng dập não do CTSN. Nhưng cũng còn do hiện tượng thiếu oxy và

rối loạn chuyển hóa. Cơ chế sinh bệnh học của quá trình phù não rất phức tạp,

do nhiều yếu tố gây nên như rối loạn thần kinh - thể dịch, rối loạn chuyển hóa,

rối loạn vận mạch, rối loạn lý hóa tổ chức tế bào não, dẫn tới tăng nguồn nước

của tế bào não. Các tác giả đều thống nhất hậu quả của phù não làm cho người

bệnh trước cũng như sau phẫu thuật rất nặng nề có thể dẫn tới tử vong. Cơ chế

phù não trong CTSN rất phức tạp và giải quyết phù não là công việc hết sức khó

khăn trong điều trị.

Để giải thích sinh lý bệnh của hiện tượng phù não do chấn thương theo

Sichez J.P (1984) [20] và Cohadon F. (1991) [22] đã nêu lên 2 loại phù não.

- Phù vận mạch: là phù ngoài tế bào do tổn thương hàng rào máu não.

- Phù trong tế bào: là phù do nhiễm độc, tổn thương màng tế bào.

- Có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:



14

Thương tổn ban đầu

Mở hàng rào



Phá hủy tế bào



Thiếu máu



Chảy máu



máu não

(Chèn

ép)

Giải phóng các

chất độc hóa học



Rối loạn vi

tuần hồn



Tấn cơng tế bào



Liệt mặt, co thắt,

chèn ép, huyết khối



Phù vận mạch



Phù nhiễm độc



(phù ngoài tế bào (phù trong tế bào)

PHÙ NÃO CHẤN THƯƠNG

Cơ chế phù não chấn thương (theo Sichez J.P.)

Lúc đầu hiện tượng phù não xảy ra do chấn thương là phù vận mạch sau

đó chuyển sang phù do nhiễm độc tế bào. Phù não lúc đầu chỉ khu trú quanh

vùng tổn thương. Sau đó lan rộng và có thể phù não toàn thể 2 bán cầu đại não,

đồng thời xuất hiện những thương tổn thiếu máu tiến triển.

3.1.3. Rối loạn vận mạch

Nổi bật là hiện tượng liệt mạch, gây giãn mạch và tăng thể tích máu não.

Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do:

- Toan hóa dịch não tủy và vỏ não.

- Rối loạn sự tự điều hòa mạch máu não.

- Giải phóng ra các chất dẫn truyền thần kinh [12], [22], [20].

3.2. Hậu quả của tăng áp lực nội sọ



15

3.2.1. Làm giảm hoặc ngừng dòng máu tới não

Lưu lượng dòng máu não bằng khoảng 15% lưu lượng tim, tức là khoảng

54ml/100gr não/phút, chất xám gấp 4 lần chất trắng và trẻ em cao hơn người

lớn. Lưu lượng dòng máu não (LLDMN) được tính bằng cơng thức:

LLDMN =



Áp lực tưới máu não

Sức cản thành mạch



Mà: ALTMN = HAĐM – HATM

= HAĐM – ALNS

Như vậy, áp lực nội sọ tăng lên sẽ làm giảm lưu lượng dòng máu não.

Theo Miller (1997) [12], Áp lực tưới máu não chỉ đủ khi áp lực tưới máu não ≥

60 mmHg, dưới mức này thiếu máu não sẽ xuất hiện. Sự thiếu máu này sẽ gây ra

một phản xạ đề kháng (phản xạ Cushing). Sự bài tiết đột ngột Cathécholamin

làm tăng huyết áp động mạch và tái lập lại trong một thời gian ngắn lưu lượng

máu não. Nhưng trong một mạng lưới mạch máu đã mất sự tự điều hòa thì sự

tăng lưu lượng máu này sẽ gây khả năng gia tăng thể tích máu não với một mức

độ cao hơn của áp lực nội sọ [22].

Mặt khác, tình trạng toan hóa do thiếu máu não sẽ gây ra giãn mạch và

tăng tính thấm thành mạch và ALNS sẽ tăng cao hơn.

3.2.2. Chèn ép và gây hiện tượng tụt kẹt

Do đặc điểm đàn hồi của tổ chức não, nên khi có sự chênh lệch về áp lực

nội sọ, nhu mơ não có thể bị di chuyển tụt vào các khe, lỗ trong hộp sọ có thể

xảy ra 4 loại tụt kẹt sau đây:

* Hồi thể trai tụt dưới bờ tự do của liềm não

Hồi thể trai dịch chuyển dưới bờ tự do của liềm não để vượt qua đường giữa.

Hậu quả: động mạch não trước cùng bên với thương tổn và các tĩnh mạch

ở sâu bị đẩy qua đường giữa gây chèn ép liềm não làm thiếu máu và nhồi máu

não ở khu vực các mạch này chi phối.

* Tụt kẹt não bên hoặc tụt kẹt hồi hải mã vào khe Bichat



16

Hồi hải mã (cuốn não trong của thùy thái dương) bị đẩy vào đường giữa

và chui vao khe Bichat - tạo bởi bờ tự do của lều não và cuống não lúc bình

thường là khe ảo, khi tăng ALNS thì rộng ra.

Hậu quả: Tri giác xấu đi do quá trình chèn ép trực tiếp vào hệ thống lưới nằm

ở phần cao của thân não, hậu quả là tăng ALNS gây ra thiếu máu não.

Giãn đồng tử khi hiện tượng tụt kẹt chèn vào dây thần kinh số III hoặc

nhân của nó ở cuống não.

* Tụt kẹt trung tâm:

Hiện tượng xảy ra khi toan não và trung não dịch chuyển từ trên xuống

dưới qua lỗ bầu dục của lều tiểu não.

Hậu quả: Đồng tử hai bên co nhỏ, rối loạn nhịp thở kiểu Cheynes-Stoke,

mất vận động nhãn cầu nhìn lên trên.

* Tụt kẹt hạnh nhân:

Tụt hạnh nhân tiểu não vào lỗ chẩm do khối choán chỗ ở hố sau hoặc tăng

ALNS nặng gây ra. Hạnh nhân tiểu não chui qua lỗ chẩm đè vào phần cao của ống

tủy cổ, chèn ép trực tiếp vào hành não. Hậu quả: Mê sâu, suy hô hấp và tuần hồn,

ngừng thở đột ngột. Có hiện tượng co cứng mất não dẫn đến tử vong rất nhanh.



Hình 1.5: Hình ảnh chèn ép não gây tụt kẹt trên CLVT (Bài giảng chẩn đốn

hình ảnh Đại học Y Hà Nội)

4. CÁC PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI ALNS (ICP)



17

4.1 Theo dõi áp lực dịch não thất (não thất bên)

Lỗ khoan sọ được thực hiện ở vùng trán. Cách gốc mũi 12 - 13 cm; 2,5

cm cách đường giữa (ở người lớn). Trorca đi lệch góc với mặt phẳng trán đỉnh

trên đường tới lỗ tai ngoài và mặt phẳng dọc hướng tới khoé trong của mắt đối

diện, tới não thất bên. Rút nòng kiểm tra sự có mặt của dịch não tủy. Nếu áp lực

thấp có thể hút nhẹ sẽ thấy dịch não tủy chảy ra.



Hình 1.6: Vị trí đặt catheter trong não thất đo ALNS [17].

Ưu điểm:

- Là phương pháp cho kết quả chính xác nhất.

- Có thể rút bớt dịch não tủy để làm giảm ALNS ngay tức thì hoặc khi

các biện pháp điều trị khác đều thất bại.

- Cho phép đánh giá compliance của não.

- Cho phép lấy dịch não tủy đánh giá gián tiếp các rối loạn chuyển hóa

Nhược điểm:

Là phương pháp "gây chảy máu” có thể gây:

- Chảy máu, tạo thành cục máu trong não ở thùy trán

- Nhiễm trùng: viêm màng não, viêm não thất.

- Tổn thương các nhân xám nếu sai hướng hoặc chọc quá mạnh.

- Dễ thất bại khi não phù nhiều, não thất bị đẩy xẹp

Nếu cần theo dõi lâu hơn có thể thay catheter sang phía đối diện. Mặc dù

có những nguy cơ trên, độ chính xác và sự ổn định của kết quả theo dõi ALNS



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

SINH LÝ BỆNH TRONG TĂNG ÁP LỰC NỘI SỌ DO CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×