Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHẮC LẠI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUẦN HOÀN NÃO LIÊN QUAN ĐẾN CTSN

NHẮC LẠI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUẦN HOÀN NÃO LIÊN QUAN ĐẾN CTSN

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Hình 1.1. Hình ảnh nền sọ (Atlas giải phẫu người)

2.1.2. Màng não và hệ thống mạch máu não:

* Màng não:

Có 3 lớp bọc liên tục mặt ngoài não. Từ ngoài vào trong có màng cứng,

màng nhện và màng ni tạo nên các khoang màng cứng, dưới màng cứng và

khoang dưới nhện.

- Màng cứng: Phủ mặt trong hộp sọ, dính liền vào cốt mạc, trừ một vùng dễ

bóc tách đó là khu thái dương - đỉnh (khu Gérard - Marchant). Chấn thương

thường gây ra máu tụ ngoài màng cứng do tổn thương động mạch màng não

giữa ở vùng dễ bóc tách này. Màng cứng tách ra các vách vào khe liên bán cầu

đại não gọi là liềm đại não, lách vào khe liên bán cầu tiểu não gọi là liềm tiểu

não, phủ lên tiểu não, tuyến yên và hành khứu gọi là lều tiểu não, lều tuyến yên

và lều hành khứu.

- Màng nhện: Có hai lá dính chặt nhau, giữa màng cứng và màng nhện có

khoang dưới màng cứng.



7

- Màng ni: Phủ lên mặt ngồi não và có nhiều mạch máu, chui vào khe

Bichat tạo nên tấm mạch mạc trên và lách vào giữa hành não và tiểu não tạo nên

tấm mạch mạc dưới. Giữa màng nhện và màng nuôi là khoang dưới nhện chứa

dịch năo tủy.

* Hệ thống động mạch não:

- Não được ni bởi hai cuống mạch chính: động mạch cảnh trong và

động mạch sống nền.

- Bắt nguồn từ động mạch cảnh gốc, động mạch cảnh trong đi lên ở phía

bên tới lỗ động mạch ở nền sọ, vào xoang hang sau đó phân ra các nhánh tận,

quan trọng nhất là động mạch não giữa, động mạch não trước, động mạch mạc

trước và động mạch thông sau. Các động mạch não đều phân ra nhánh nông và

nhánh sâu. Nhanh nơng tưới máu mặt ngồi vỏ não, nhánh sâu tưới máu các

nhân xám trung ương.

- Từ 2 động mạch đốt sống đi lên xuyên qua màng cứng để hợp thành động

mạch thân nền và phân nhánh cùng là động mạch não sau. Các nhánh bên là

động mạch tiểu não dưới, động mạch tiểu não giữa và động mạch tiểu não trên.

Động mạch tiểu não sau phân nhánh tưới máu vùng thái dương và vùng chẩm.

- Tưới máu cho não được đảm bảo nhờ hệ thống tuần hoàn bàng hệ. Đa

giác Willis là vòng tuần hoàn bàng hệ ở đáy sọ. Đây là một vòng nối quan trọng

được tiếp nối giữa các nhánh của động mạch cảnh trong hệ động mạch sống nền

qua động mạch thơng trước và thơng sau.



8



Hình 1.2. Hệ thống động mạch não (Atlas giải phẫu người)

* Hệ thống tĩnh mạch não:

Bao gồm các xoang tĩnh mạch màng cứng và tĩnh mạch não. Tĩnh mạch

não bao gồm: tĩnh mạch vỏ não và tĩnh mạch trong sâu. Các xoang tĩnh mạch

gồm: xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang tĩnh mạch dọc dưới, xoang thẳng, xoang

ngang, xoang chẩm, xoang Sigma và xoang hang. Các xoang trên đổ về hội lưu

Hérophile rồi theo xoang tĩnh mạch bên về tĩnh mạch cảnh trong rồi về tim.

2.2. Sinh lý tuần hoàn não

* Lưu lượng máu não:

Chỉ số bình thường là 54ml/100g/1 phút như vậy là 750ml/1 phút cho toàn

bộ não. Chiếm 15% lưu lượng tim lúc nghỉ, lưu lượng máu não phân bố không



9

đều giữa các vùng. Nếu lưu lượng máu não giảm đột ngột = 50% lúc bình

thường sẽ có rối loạn hơ hấp và ngừng thở.

* Điều chỉnh tuần hoàn não:

Tổ chức não rất nhạy cảm với thiếu máu do không thể sống được trong điều

kiện chuyển hóa yếm khí, chỉ thiếu oxy não trong vài giây đã gây ra mất ý thức.

Khác với nhiều tổ chức và cơ quan khác, ở não lưu lượng máu não tương đối

hằng định trong một số điều kiện nhất định.

Lưu lượng máu não được tự điều chỉnh hằng định trong khoảng áp lực tưới

máu não từ 50-150mmHg (hay áp lực động mạch trung bình từ 60-180mmHg).

Giới hạn này sẽ chuyển sang phải ở những người tăng huyết áp, như vậy ở mức

huyết áp trung bình 60mmHg với bệnh nhân tăng huyết áp thì lưu lượng máu não

đã giảm trong khi người bình thường lưu lượng không thay đổi [14]. Khả năng tự

điều chỉnh sẽ mất đi khi tăng PaCO3, giảm PaO2, chấn thương sọ não…

* Vai trò của ALNS (ICP)

Não nằm trong hộp sọ kín và không giãn nở. Chức năng của não phụ

thuộc vào sự duy trì tuần hồn trong khoang đó. Máu được đẩy vào hộp sọ nhờ

huyết áp động mạch. Sự tác động tương hỗ giữa các thành phần trong sọ và

áp lực động mạch tạo nên một áp lực trong sọ [15]. ALNS bình thường 812mmHg [16], [15], thay đổi theo nhịp thở và mạch đập, được coi như áp lực

của dịch não thất đo khi nằm ngửa, thở êm.

Vì hộp sọ không giãn nở, sự duy trì ALNS bình thường phải dựa trên sự

hằng định về thể tích (V) trong sọ.



Vmáu + Vdịch não tuỷ + Vnão = Hằng định

Để có sự hằng định đó, khi thể tích một thành phần tăng thì một trong hai

thành phần thể tích còn lại phải giảm. Mặc dù não có thể bị biến dạng nhưng

không thể bị chèn ép. Vì vậy dịch não tủy và máu não được coi là những bộ

phận giảm áp (Amortisseurs du systeme) của hệ thống.



10

Nhờ đó ALNS tăng khơng đáng kể khi có tăng một thể tích thành phần

khác trong một thời gian nhất định (pha còn bù). Bản chất, tốc độ, độ lớn và thời

gian của tăng thể tích quyết định khả năng hoạt động có hiệu quả của bộ phận

"giảm áp". Khi nó đã bão hòa hoặc không còn hiệu quả ALNS sẽ tăng theo cấp

số nhân (pha mất bù).



Hình 1.3: Đường cong áp lực - thể tích (Miller 2005)

Từ điểm giới hạn (ALNS 15: mmHg). Đường cong trở nên dốc đứng khi

tăng cùng một đơn vị thể tích.

Bình thường khi ALNS tăng 10mmHg thì các mạch máu não sẽ bị chèn ép

làm giảm lưu lượng máu não. Bất cứ một thay đổi nào về áp lực tĩnh mạch não

cũng kèm theo thay đổi ALNS. Nếu áp lực tĩnh mạch não tăng sẽ làm giảm lưu

lượng máu não do động mạch não bị chèn ép và áp lực tưới máu giảm.

CPP = PAM – (PIC+PV)

CPP



: Áp lực tưới máu não



PAM



: Áp lực động mạch trung bình



PIC



: Áp lực nội sọ



PV



: Áp lực tĩnh mạch não



Ngược lại khi áp lực tĩnh mạch não giảm thì lưu lượng máu não tăng, áp

lực tưới máu tăng vì thế đây điểm ta áp dụng trong điều trị CTSN.



11

+ Tác dụng của ALNS lên áp lực động mạch: Như trên đã trình bày trong

một số điều kiện nhất định áp lực tưới máu não được duy trì do một yếu tố nào

đó thay đổi ALNS thì sẽ kéo theo thay đổi áp lực động mạch.

Nếu ALNS tăng lên 30mmHg trong một thời gian ngắn sẽ kéo theo giảm

tưới máu não. Giảm tưới máu não sẽ kích thích trung tâm vận mạch làm huyết

áp tăng lên đồng thời mạch chậm và thở chậm xảy ra do trung tâm ức chế tim bị

kích thích.

Một khi áp lực động mạch tăng lên thì lưu lượng máu não lại được phục

hồi. Tuy nhiên nếu áp lực nội sọ tăng vượt áp lực động mạch trung bình thì lưu

lượng máu não sẽ bằng không và não chết.

2.3. Dịch não tủy và tuần hoàn dịch não tủy.

Người lớn có khoảng 140ml dịch não tủy. Nó ln được tạo ra với tốc độ

0,35-4 ml/phút và cân bằng trong khoang dưới nhện - tủy sống. Dịch não tủy

hình thành bằng 2 cách: Phần lớn từ các đám rối mạch mạc ở các thành não thất

nhờ cơ chế vận chuyển tích cực của natri kéo theo nước. Một lượng nhỏ tạo nên

từ dịch thấm của tổ chức qua đường nhu mô tới não thất hoặc dọc theo các kênh

quanh mạch đổ vào khoang dưới nhện.

Tuần hoàn dịch não tủy xảy ra trong hệ thống não thất và khoang dưới

nhện, bao gồm: 2 não thất bên nằm ở 2 bán cầu đại não, não thất ba nằm vùng

giao thông với não thất bên bởi lỗ Monro, với não thất tư qua cổng Sylvius. Từ

não thất tư dịch não tủy vào khoang dưới nhện qua lỗ Magendie và Luschka.

Sau khi tuần hoàn, dịch não tủy được tái hấp thu vào máu tại các búi mao mạch

nhỏ của màng nhện nằm ở các xoang dọc. Sự khác biệt của thành phần cách não

tủy và huyết tương là nhờ hàng rào máu - dịch não tủy.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHẮC LẠI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUẦN HOÀN NÃO LIÊN QUAN ĐẾN CTSN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×