Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Dẫn lưu nang giả tụy qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính.

Dẫn lưu nang giả tụy qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính.

Tải bản đầy đủ - 0trang

24

với 0%, p<0,05) và tỷ lệ biến chứng cũng cao hơn (16.7% so với 7.7%). Theo

tác giả, dẫn lưu qua da có nhiều ưu điểm: (1) Tỷ lệ tử vong thấp, (2) bệnh

nhân không phải chịu một cuộc phẫu thuật lớn, (3) không ảnh hưởng đến

phẫu thuật nếu dẫn lưu qua da thất bại.

Trong một nghiên cứu của D’Egidio and Schein (1992) [17] chia tổng

78 bệnh nhân có NGT thành 3 nhóm:

 Nhóm I: Nang giả tụy sau viêm tụy cấp hoại tử.

 Nhóm II: Nang giả tụy hình thành sau đợt cấp của viêm tụy mạn.

 Nhóm III: Nang giả tụy hình thành trong quá trình viêm tụy mạn.

Theo phân nhóm này, dẫn lưu qua da có hiệu quả cao ở nhóm sau VTC

hoại tử và thấp hơn ở nhóm II.

Ở nhóm III thì dẫn lưu qua da khơng hiệu quả. Cantasdemir và cs

(2003) [4] nghiên cứu trên 30 bệnh nhân có NGT nhiễm trùng dẫn lưu qua da

thành cơng 96% và thời gian dẫn lưu trung bình là 16,7 đến 26,5 ngày. Nhìn

chung, tỷ lệ tử vong trong điều trị phẫu thuật các bệnh nhiễm trùng tuyến tụy

(bao gồm nang giả tụy nhiễm trùng) khoảng 11- 61% [24].

Một số nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng nguy cơ biến chứng liên

quan đến dẫn lưu qua da là ít hơn so với nguy cơ biến chứng phẫu thuật[24].

Sonnenberg và cs (1989) [25] báo cáo về 101 trường hợp NGT nhiễm

trùng và không bị nhiễm trùng được điều trị bằng dẫn lưu qua da cho thấy tỷ

lệ biến chứng là 13%.

Naleon (2009) [16] trong nghiên cứu của mình cho thấy rằng hiệu quả

của dẫn lưu qua da phụ thuộc đáng kể và sự toàn vẹn của ống tụy và sự kết

nối giữa ống tụy và NGT. Nghiên cứu cũng cho rằng dẫn lưu qua da nên được

lựa chọn ban đầu cho NGT có hệ thống ống tụy bình thường và khơng có sự

kết nối NGT với ống tụy. Người ta thường tiến hành chụp NGT qua catheter

trước khi rút để xác định có sự thơng thương giữa NGT với ống tụy hay

khơng. Sự tái phát NGT và rò dịch qua catheter là do bệnh lý về viêm chít hẹp

hệ thống ống tụy và NGT thông thương với ống tụy.

Chỉ định dẫn lưu NGT qua da:



25

+ Nang giả tụy nhiễm trùng.

+ Nang giả tụy kích thước > 6cm còn biểu hiện triệu chứng đau mặc dù đã

điều trị nội khoa [3].

Chống chỉ định:

+ Bệnh nhân nghi ngờ nhồi máu cơ tim, hội chứng mạch vành cấp, phình tách

động mạch chủ, rối loạn nhịp tim phức tạp, tăng huyết áp không kiểm sốt

được, suy hơ hấp, tụt huyết áp.

+ Rối loạn đông máu: tỷ lệ prothrombin <50%, tiểu cầu < 50 G/l.

Sau khi đặt sonde dẫn lưu cần điều trị bổ túc với octreotide (Somatostatin 200

μg TDD x 3 lần/ngày x 1 tháng)

Biến chứng của phương pháp dẫn lưu qua da và cách xử lý [6]

 Nhiễm trùng :

Nguyên nhân nhiễm trùng thường do lây nhiễm vi khuẩn từ ổ áp xe vào

máu hoặc ra các tạng xung quanh có thê gây nhiễm trùng huyết hoặc viêm

phúc mạc. Cũng có thể nguyên nhân do bội nhiễm catheter do lưu catheter

quá dài ngày.

Biểu hiện lâm sàng như sốt cao, rét run, ớn lạnh, đau.

Xử trí:

+ Phải vơ khuẩn trong q trình làm thủ thuật.

+ Chăm sóc catheter hàng ngày phòng tránh viêm, các bội nhiễm từ da. Nếu

chân catheter bị nhiễm trùng và sưng nề cần rút catheter và dẫn lưu vào một

vị trí khác.

+ Dùng kháng sinh phổ rộng đường tồn thân, có thể dùng kháng sinh dự

phòng để ngăn ngừa biến chứng nhiễm trùng.

 Chảy máu :

Là biến chứng nặng nề nhất. Có thể xảy ra do vỡ các phình mạch, cũng

có thể xảy ra do trong q trình thủ thuật chọc vào mạch máu. Có thể xuất

huyết trong nang hoặc ngồi nang. Trên lâm sàng chẩn đốn xuất huyết dễ

dàng nếu thấy máu ra ở đầu catheter sau khi thực hiện dẫn lưu.



26

Một số trường hợp xuất huyết xảy ra sau kết thúc thủ thuật được nghi

ngờ nếu có các dấu hiệu sau:

+ Có tình trạng xuất huyết khơng giải thích được.

+ Có giảm hematocarit khơng giải thích được.

+ Nang to lên một cách đột ngột.

Xử trí :

+ Các xuất huyết nhỏ có thể tự cầm và có thể điều trị bảo tồn với dịch truyền,

một số trường hợp có thể phải truyền máu.

+ Nếu xuất huyết ồ ạt cần phải xét can thiệp phẫu thuật.

+ Để dự phòng, cần có nhiều thăm dò trước khi làm thủ thuật để khảo sát tình

trạng mạch trong và xung quanh nang để tránh chọc vào mạch máu như siêu

âm doppler hoặc chụp CLVT hay chụp mạch máu.

+ Các thủ thuật đều phải thực hiện theo phương pháp Seldinger, có doppler

hướng dẫn tránh chọc vào mạch máu.

 Thủng tạng hoặc đặt dẫn lưu khơng đúng mục tiêu

Có nhiều trường hợp đặt dẫn lưu vào dạ day, ruột, gan, lá lách đã được

báo cáo. Trên lâm sàng biểu hiện khác nhau tùy cơ quan đặt nhầm ông dẫn

lưu vào.

+ Nếu đặt nhầm ống thơng nhỏ vào ruột có thể khơng nguy hiểm trong một số

trường hợp. Trên lâm sàng có thể thấy dịch tiêu hóa qua dẫn lưu.

+ Ngồi ra đặt nhầm dẫn lưu vào ruột có thể gây tắc ruột.

+ Nếu chọc nhầm vào đại tràng có thê gây viêm phúc mạc. Trên lâm sàng

biểu hiện sốt, đau bụng, có dấu hiệu phản ứng thành bụng và cảm ứng phúc

mạc.

Xử lý:

+ Trước khi thực hiện thủ thuật dẫn lưu cần phải xác định rõ vị trí nang, liên

quan của nang với các tạng xung quanh, định rõ vi trí đường vào nang.

+ Nên hút dịch dạ dày và thụ tháo đại tràng để tránh nhầm với nang



27

+ Nếu đặt vào đại tràng gây viêm phúc mạc và nhiễm trùng huyết cần phẫu

thuật cấp cứu.

+ Nếu các trường hợp đặt nhầm vào dạ dày tá tràng nhưng khơng có dấu hiệu

viêm phúc mạc có thể nhịn ăn, chăm sóc hỗ trợ và dùng kháng sinh phổ rộng.

Rút dẫn lưu sau sau vài ngày hoặc vài tuần để cho đường hầm dẫn lưu

đóng lại. Nếu có tiến triển đến viêm phúc mạc cần chuyển mổ.

Một số trường hợp đặt nhầm dẫn lưu và các tạng đặc như gan thận cũng

được báo cáo. Hầu hết các trường hợp này có thể được phát hiện bởi chụp

CLVT và được điều trị bằng cách loại bỏ dẫn lưu sau khi đường hầm được

hình thành và làm tắc đường hầm bằng gạc. Nếu có biến chứng xuất huyết cần

phẫu thuật.



28

IV. KẾT LUẬN

Nang giả tụy là biến chứng muộn của viêm tụy cấp thể hiện bằng sự tụ

dịch bất thường ở vùng quanh tụy, với một vách xơ do viêm mạn. Nang giả

tụy có thể tự khỏi hoặc tiến triển nặng nề nếu có biến chứng vỡ nang

Việc chẩn đốn bệnh lý này ban đầu còn có nhiều khó khăn do triệu

chứng không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn với bệnh lý khác, tuy nhiên hiện nay nhờ

có các tiến bộ khoa học đã phát triển các phương pháp chẩn đốn hình ảnh

nhứ siêu âm và chụp CT Scanner với độ nhạy và độ chính xác cao có thể hỗ

trợ việc chẩn đoán xác định và phân biệt. Những trường hợp có viêm tụy cấp

cần được theo dõi, tái khám định kỳ, được siêu âm hoặc chụp CT Scannner để

phát hiện sớm NGT.

Có thể điều trị bảo tồn hay chỉ định can thiệp ngoại khoa phụ thuộc tình

trạng cụ thể của bệnh nhân. Hiện nay, nhờ các phương tiện kỹ thuật, các

phương pháp phẫu thuật có xu hướng ít can thiệp tổ chức như các phẫu thuật

nội soi hay các thủ thuật mở thông dưới sự hỗ trợ của các phương pháp chẩn

đốn hình ảnh, xong các phẫu thuật cổ điển vẫn có vai trò nhất định trong các

trường hợp bệnh nhân không thể thực hiện các phương thức khác.



29

V. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1.



Bùi Văn Khích(2004), "Nghiên cứu đặc diểm lâm sàng, cận lâm sàng

và kết quả điều trị viêm tụy cấp nặng tại khoa Hồi sức tích cực bệnh

viện Bạch Mai", Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường đại học Y Hà



2.

3.



Nội.

Bệnh học ngoại khoa sau đại học NXBQĐND - HN 2002 tập 1, 2.

Đào Xuân Cơ(2012), "Nghiên cứu giá trị của áp lực ổ bụng trong tiên

lượng và hướng dẫn điều trị viêm tụy cấp nặng", Luận án tiến sĩ y học,



4.

5.



viện nghiên cứu khoa học Y - Dược lâm sàng 108.

Frank H. Netter (2014) "Atlas giải phẫu người." Nhà xuất bản Y học.

Phạm Văn Bình(1997), "Nghiên cứu chẩn đoán và phẫu thuật nang giả



6.



tụy". Luận văn thạc sĩ y học, Trường đại học Y Hà nội.

Phạm Hữu Tùng(2008), "Điều trị nang giả tụy bằng đặt stent dẫn lưu

qua nội soi tiêu hóa", Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y dược Thành



7.



phố Hồ Chí Minh.

Lê lộc, Pham Như Hiệp, Hồ Hữu Thiện (2004), "Kết quả điều trị nang



8.



giả tụy",Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 8(3): 173-176.

Nguyễn Cường Thịnh (2004), "Nang giả tụy: Nguyên nhân, điều trị và



9.



kết quả",Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 8(3): 163-166.

Nguyễn Đắc Ca(2008), "Nghiên cứu giá trị của áp lực ổ bụng trong

chẩn đoán mức độ và theo dõi diễn biến của viêm tụy cấp", Luận văn



10.



thạc sĩ y học, Trường đại học Y Hà Nội.

Trần Văn Phơi(1996), "Đặc điểm về chẩn đoán và điều trị nang giả

tụy". Luận án phó tiến sĩ, Trường đại học Y dược thành phố Hồ Chí



11.



Minh.

Văn Đình Hoa(2007), "Cytokine", in Miễn Dịch Học, Nhà xuất bản Y



12.



học. 334-343.

Vũ Đức Định (2011), "Nghiên cứu hiệu quả của liệu pháp lọc máu liên



13.



tục trong viêm tụy cấp nặng", Luận án tiến sĩ y học, Học viên quân Y.

Văn Tần,Hồ Khánh Đức (2004), "Đặc điểm và kết quả điều trị nang giả

tụy tại Bệnh viện Bình Dân (1995-2004)",Tạp chí Y học thành phố Hồ

Chí Minh, 8(3): 167-172.



30

Tiếng Anh

14.



Aghdassi A A, Mayerle J, Kraft M, et al. (2006), "Pancreatic



15.



pseudocysts--when and how to treat?",HPB (Oxford), 8(6): 432-431.

Cantasdemir M, Kara B, Kantarci F, et al. (2013), "Percutaneous

drainage for treatment of infected pancreatic pseudocysts",South Med



16.



J, 96(2): 136-140.

David Sabiton; Textbbook of Su rgery, the bilogical basis of mordem

sugical practice, T1, T2 Sauders Companny, Printed in the United State



17.



of America 1997.

D'Egidio A,Schein M (2012), "Percutaneous drainage of pancreatic



18.



pseudocysts: a prospective study",World J Surg, 16(1):141-145.

Encỵclopédie Médico – Chirurgicale, Technipues chirurgicals, Appareil



19.



digestif, T1, T2, T3, Printed in France, 75015 Paris

Frossard J L, Hadengue A, Pastor C M (2011), "New serum markers

for the detection of severe acute pancreatitis in humans",Am J Respir



20.



Crit Care Med, 164(1): 162-170.

O'Malley V P, Cannon J P, Postier R G (2015), "Pancreatic



21.



pseudocysts: cause, therapy, and results",Am J Surg, 150(6): 680-682.

Norman J (2008), "The role of cytokines in the pathogenesis of acute



22.



pancreatitis",Am J Surg, 175(1): 76-83.

Ventrucci M, Pezzilli R, Gullo L, et al. (1989), "Role of serum

pancreatic enzyme assays in diagnosis of pancreatic disease",Dig Dis



23.



Sci, 4(1): 39-45.

Vansonnenberg E, Wittich G R, Casola G, et al. (1985), "Complicated

pancreatic inflammatory disease: diagnostic and therapeutic role of



24.



interventional radiology",Radiology, 155(2): 335-340.

Vansonnenberg E, Wittich G R, Casola G, et al. (1989), "Percutaneous

drainage of infected and noninfected pancreatic pseudocysts:



25.



experience in 101 cases",Radiology, 170(3): 757-761.

Wang G J, Gao C F, Wei D, et al. (2009), "Acute pancreatitis: etiology



26.



and common pathogenesis",World J Gastroenterol, 15(12): 1427-1430

Zulfikaroglu B, Koc M, Ozalp N (2004), "Candida albicans-infected

pancreatic pseudocyst: report of a case",Surg Today, 34(5): 466-469.



31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Dẫn lưu nang giả tụy qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×