Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ lược về giải phẫu và sinh lý

Sơ lược về giải phẫu và sinh lý

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



1.1.1.4. Thành sau: Là phần niêm mạc trải từ giữa phần nền xương chẩm

đến cung đốt đội [5], [13].

1.1.1.5.Thành dưới:

Là một thành ảo, mở thơng xuống họng miệng, nó tạo bởi màn hầu- khi nuốt

màn hầu căng ngang tới thành sau.

Khi màn hầu khơng đóng kín được phần họng mũi, sẽ bị nói giọng mũi

hở và ăn sặc lên mũi như trong dị dạng màn hầu ( thường kèm hở hàm ếch –

sứt mơi), liệt màn hầu. .



Hình 1 : Các phần của họng [13].



4



Hình 2: Hình họng mũi (tỵ hầu) nhìn qua nội soi [4].

1.1.2. Vòng bạch huyết Waldeyer

Heinrich von Waldeyer là nhà giải phẫu học người Đức, người đầu tiên

mô tả một cách hệ thống các khối lympho ở thành sau họng mũi và họng

miệng, cùng với một số khối mô lympho khác liên kết với nhau tạo thành

vòng lympho khép kín mang tên ơng (vòng bạch huyết Waldeyer).

Vòng bạch huyết Waldeyer theo mơ tả kinh điển có 6 khối Amidan:

Amidan vòm (còn gọi là amidan họng/hạnh nhân hầu): chỉ có 1 khối

nằm ở vòm họng và có thể phát triển theo thành sau họng mũi.

Amidan vòi (hạnh nhân vòi) : gồm 2 amidan, nằm ở hai bên phải và

trái, quanh lỗ hầu vòi tai trong hố Rosenmüller.

Amidan khẩu cái (hạnh nhân khẩu cái): gồm có 2 amidan, nằm hai bên

phải và trái, trong hố amidan của thành bên họng (giữa trụ trước và trụ sau

Amidan)

Amidan lưỡi (hạnh nhân lưỡi): chỉ có 1 khối, nằm ở đáy lưỡi.

Ngồi ra còn có một số đám lympho ít thấy hơn. Đó là mơ lympho nhỏ

nằm rải rác ở thành sau, bên họng mũi, họng miệng và những đám lympho

rải rác ở băng thanh thất



5



Vòng Waldeyer được hình thành trong thai kỳ và sau khi sinh nó đã

phát triển đầy đủ. Các khối amidan phát triển nhanh về khối lượng từ lúc 1 - 2

tuổi và đỉnh cao của phát triển trong thời gian 3 - 7 tuổi, sau đó nhỏ teo nhỏ

dần [7]



Hình 3: Vòng bạch huyết Waldeyer [6]

1.1.3. Giải phẫu của amidan vòm (VA)

Amidan vòm (Tonsilla pharyngealis-adenoids) là khối lympho hình tam

giác nằm ở phía sau trên của họng mũi dày khoảng 2 mm. Đỉnh của khối

amidan vòm khởi đầu ở điểm gần vách ngăn, mô lympho phát triển chiếm hết

vòm họng và phát triển dần xuống thành sau họng mũi [13].

Trên bề mặt amidan phủ bởi một lớp biểu mơ trụ giả tầng có lơng

chuyển lồi lõm tạo thành nhiều nếp.

Về bào thai học, amidan vòm được tạo thành từ tháng thứ 3 - 7 của thai

kì và khi sinh ra đã hình thành đầy đủ và trở thành nơi cư trú của vi khuẩn

ngay từ tuần lễ đầu tiên của trẻ sơ sinh. Amidan vòm to lên trong thời kì phát

triển của trẻ cho đến sau 6 - 7 tuổi, để đáp ứng miễn dịch chống lại siêu vi, vi

khuẩn, dị nguyên và các chất kích thích trong thức ăn và khơng khí. Sau đó ở



6



đa số trường hợp, amidan vòm thối triển dần và trước dậy thì thường teo nhỏ

lại.

Cung cấp máu cho amidan vòm từ các nguồn: động mạch hầu lên,

động mạch khẩu cái lên, động mạch ống chân bướm, nhánh amidan của động

mạch mặt. Dẫn lưu tĩnh mạch về đám rối họng, rồi về tĩnh mạch mặt và tĩnh

mạch cảnh trong. Bạch huyết của amidan vòm đổ về các hạch ở khoang sau

họng và bên họng.



Hình 4: Amidan vòm [7].

1.2. Sinh lý và sinh lý bệnh của VA

VA là tổ chức bạch huyết, có nhiều tế bào bạch cầu. Bình thường VA

dày khoảng 2 mm, không cản trở đường thở. VA tuy mỏng nhưng xếp thành

nhiều nếp nên diện tiếp xúc rất rộng.

Nhiệm vụ của VA là nhận diện vi khuẩn để tạo ra kháng thể, tiêu diệt

vi khuẩn khi chúng tái xâm nhập. Nó cùng với các mơ lympho khác ở họng

tạo thành vòng bạch huyết Waldeyer, vòng này bao quanh đường thở và

đường ăn. Tất cả vi khuẩn từ mũi, miệng vào cơ thể đều phải thơng qua vòng

này.

Khơng khí chứa vi khuẩn vào mũi phải đi ngang VA trước khi vào

phổi, vi khuẩn sẽ bám vào VA nhờ diện tiếp xúc rộng của nó. Các tế bào bạch



7



cầu chờ sẵn sẽ bắt vi khuẩn và đưa vào trong để nhận diện và tạo ra kháng

thể. Kháng thể này được nhân lên và đưa đi khắp nơi, nhưng nhiều nhất là tập

trung ở vùng mũi họng và chống lại vi khuẩn khi tái nhiễm.

Do thường xuyên tiếp xúc với vi khuẩn nên VA hay bị viêm, nhưng

thường là viêm nhẹ. Tuy nhiên, nếu sức đề kháng giảm, vi khuẩn tràn ngập

quá nhiều sẽ xâm nhập toàn bộ VA. Lúc này bạch cầu không đủ sức bắt tất cả

vi khuẩn, chúng sẽ bám và cư trú tại VA, sinh sôi nẩy nở và gây viêm bệnh lý.

Nếu viêm kéo dài, thể tích VA sẽ tăng lên và ngăn cản khơng khí ra vào

khiến trẻ bị nghẹt mũi kéo dài, vi khuẩn cộng sinh trong mũi sẽ trở thành vi

khuẩn gây bệnh. Nếu viêm kéo dài, thể tích của VA sẽ tăng lên và ngăn cản

khơng khí ra vào, khiến trẻ bị nghẹt mũi. Lượng nước có ở mũi khơng thốt

hơi ra được, đọng lại ngày càng nhiều và chảy ra phía trước, gây chảy mũi

trong. Nếu tình trạng nghẹt mũi kéo dài, vi khuẩn cộng sinh trong mũi sẽ trở

thành vi khuẩn gây bệnh. Nước mũi trong trở thành nước mũi đục và chảy ra

rất nhiều.

Viêm VA còn có thể làm bít tắc lỗ thông vào tai giữa, gây viêm tiết

dịch.Nếu VA to, khơng khí vào ít, khơng cung cấp đủ ơxy cho cơ thể, trẻ sẽ

trở nên lờ đờ, ngủ không ngon dẫn đến mệt mỏi.

Viêm VA có thể dẫn đến các biến chứng như viêm mũi, xoang, tai,

thanh quản, phế quản. Nếu viêm lâu, trẻ thở bằng miệng, mũi ít được sử dụng

nên qua nhiều năm chóp mũi trở nên nhỏ hơn, xương hàm trên phát triển kém,

răng hàm trên mọc lởm chởm. Cằm có vẻ nhơ ra và to hơn. Đó là vẻ mặt đặc

trưng của trẻ viêm VA[11].

2. Bệnh học viêm VA

2.1. Nguyên nhân:

2.1.1. Viêm nhiễm:

Nguyên nhân gây viêm V.A phần lớn là các loại virut Adenovirus,

Rhinovirus, cúm, á cúm, virut hợp bào đường hô hấp cùng với các loại vi



8



khuẩn hay gặp ở đường hô hấp trên: Hemophylus Influenza, phế cầu, liên cầu,

đặc biệt là liên cầu tan huyết nhóm A- loại liên cầu này có khả năng gây biến

chứng toàn thân như viêm cầu thận cấp, thấp tim, viêm khớp cấp. Những

bệnh này hay có sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ như thể trạng suy dinh

dưỡng, yếu tố lạnh, nóng, độ ẩm và bụi bặm, khói hóa chất độc hại từ mơi

trường sống. [2,7].

2.1.2. Tạng bạch huyết:

Có một số trẻ có tổ chức bạch huyết phát triển rất mạnh. Nhiều hạch ở

cổ, ở họng quá phát rất dễ bị viêm nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi cho viêm

VA[2].

2.1.3. Do cấu trúc và vị trí của VA:

VA có nhiều khe hốc, là nơi vi khuẩn dễ trú ẩn và phát triển. Hơn nữa

VA nằm ở vòm mũi họng, là cửa ngõ của đường thở ở trẻ em (trẻ em thường

quen thở bằng mũi là chủ yếu), nên vi khuẩn-virus dễ xâm nhập[2].

2.2. Trệu chứng Viêm VA cấp

Viêm VA cấp là viêm nhiễm cấp tính xuất tiết hoặc viêm mủ ở tổ chức

bạch huyết ở nóc vòm. Ngay từ nhỏ đã có thể gặp.

2.2.1 Triệu chứng toàn thân

Ở hài nhi bệnh bắt đầu đột ngột với sốt cao 39-40 0, thể trạng nhiễm

trùng. Thường kèm theo những hiện tượng phản ứng dữ dội như co giật hoặc

khó thở do co thắt thanh quản. Đơi khi có phản ứng màng não như nơn mửa,

rối loạn tiêu hóa, v.v...

2.2.2. Triệu chứng cơ năng

Ngạt mũi: là triệu chứng điển hình, có thể tắc hồn tồn phải thở bằng

miệng. Đối với trẻ nhỏ thường thở nhanh, nhịp thở không đều, bỏ bú hoặc bú

ngắt quãng và quấy khóc nhiều. Đối với trẻ lớn, tắc mũi thường khơng hồn

tồn nhưng thở ngáy.

Chảy mũi: chảy mũi nhầy ra cả hai mũi, cả mũi trước và mũi sau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ lược về giải phẫu và sinh lý

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×