Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các nghiệm pháp thăm khám tiền đình

Các nghiệm pháp thăm khám tiền đình

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

3.1.2.1. Nghiệm pháp đưa tay thẳng

Bệnh nhân ngồi trước mặt thầy thuốc, lưng tựa vào ghế, đưa hai tay

thẳng về phía trước mặt, ngón tay trỏ chỉ thẳng về phía trước mặt, các ngón

khác nắm lại. Thầy thuốc ngồi trước mặt bệnh nhân, hai tay gập lại trước

ngực và chìa ngón cái ra, đối diện với hai ngón tay trỏ của bệnh nhân, bảo

bệnh nhân nhắm mắt lại. Bình thường hai ngón tay trỏ của bệnh nhân ln

ln chỉ vào hai ngón tay của thầy thuốc. Trong trường hợp bệnh lý, hai ngón

tay của bệnh nhân sẽ lệch về một bên. Thường là cả hai tay cùng lệch về một

hướng nhưng cũng có khi chỉ lệch một tay thơi. Hướng tay lệch đối lập với

hướng động mắt trong trường hợp thương tổn mê nhĩ (Hội chứng ngoại biên).



Hình 5: Nghiệm pháp đưa tay thẳng [6]

3.1.2.2. Nghiệm pháp ngón tay chỉ

Bệnh nhân và thầy thuốc cũng ngồi đối diện như trên. Bảo bệnh nhân nhắm

mắt và dùng ngón trỏ của tay phải chỉ đầu gối mình và chỉ ngón tay cái trái

của thầy thuốc. Sau đó lại dùng ngón tay trỏ trải chỉ đầu gối mình và ngón tay

cái phải của thầy thuốc [6].



9



Hình 6: Nghiệm pháp ngón tay chỉ [6]

Trong trường hợp bệnh lý, người bệnh sẽ chỉ lệch theo chiều ngang

sang bên phải hoặc sang bên trái.

Chúng ta cũng có thể tìm sự lệch hướng theo chiều cao bằng cách bảo

bệnh nhân di động tay trong bình diện ngang, từ bên phải hoặc bên trái đến trước

mặt mình [2].

3.1.3. Nghiệm pháp rối loạn thăng bằng

Có ba nghiệm pháp được dùng để thể hiện sự mất thăng bằng của

bệnh nhân: nghiệm pháp Rômbe (Romberg), nghiệm pháp Foa-têvơna (FoixThévenard), nghiệm pháp Radơmake Gacxanh (Rađemaker Garcin) [6].

3.1.3.1. Nghiệm pháp Rômbe

Để bệnh nhân đứng thẳng, hai chân chụm lại, mắt nhắm. Nếu có rối loạn

thăng bằng, bệnh nhân sẽ nghiêng người về một bên hoặc ngã về một bên.

Nếu bệnh tích ở mê nhĩ, bệnh nhân sẽ ngã về phía đối lập với hướng

động mắt tức là ngã về bên tai bệnh, hướng ngã này sẽ thay đổi tùy theo tư thế

của mê nhĩ. Ví dụ: Bệnh nhân bị bệnh ở tai trái, nếu họ nhìn thẳng về phía

trước họ sẽ ngã về bên trái, nếu họ quay đầu 90 độ về bên trái thì sẽ ngã về

phía sau, nếu họ quay đầu 90 độ về bên phải thì họ sẽ ngã về phía trước.

Trong trường hợp rối loạn nhẹ, chúng ta phải làm nghiệm pháp Rombe

nhạy cảm mới thể hiện được sự mất thăng bằng: bệnh nhân nhắm mắt, đứng

thẳng, hai bàn chân để dọc theo một đường thẳng, bàn chân trái trước, bàn

chân phải sau [6].



10



Hình 7: Nghiệm pháp Rơmbe [6]

3.1.3.2. Nghiệm pháp Roa-Têvơlla (Foix-Tthévellard)

Nghiệm pháp này thể hiện sự giảm trương lực cơ ở chi dưới. Để bệnh

nhân đứng thẳng trong tư thế "nghiêm", thầy thuốc dùng ngón tay đẩy khẽ

làm cho bệnh nhân mất thăng bằng. Bình thường cơ cẳng chân trước (muscle

jambier antérieur) và cơ duỗi chung (extenseur commun) sẽ co lại và làm cho

các ngón chân nhấc lên khỏi mặt đất.

Nếu bệnh nhân bị giảm trương lực cơ (hypotonie muscularie) thì các ngón

chân sẽ khơng nhấc lên và nếu đẩy mạnh hơn bệnh nhân sẽ ngã [6].



Hình 8: Nghiệm pháp Roa-Têvơlla (Foix-Tthévellard) [6]

3.1.3.3. Nghiệm pháp thích nghi của Radơlmake va Gácxanh (Rademaker - Garcin)



11

Trong nghiệm pháp này bệnh nhân chỉ được mặc quấn đùi và áo lót.

Chúng ta để bệnh nhân bò chống hai tay và hai đầu gối xuống bàn, rồi

đột nhiên chúng ta nhắc cái bàn nghiêng 30 độ về một bên. Nếu là người bình

thường, họ sẽ có phản xạ gò người lại, duỗi các chi bên thấp và co các chi bên

cao để giữ thăng bằng khơng bị hất xuống đất. Nói theo lý học là họ cố giữ

cho trọng tâm không rơi ra ngồi hình chân đế. Trái lại nếu là người bị bệnh

mê nhĩ họ sẽ khơng có phản ứng thích nghi và bị hất xuống đất như một pho

tượng gỗ.



Hình 9: Nghiệm pháp thích nghi [6]

3.1.3.4. Nghiệm pháp Banbiski – Ven (Babinski – Weil) hay nghiệm pháp đi

hình ngơi sao

Nếu là người lành mạnh thì họ sẽ đi theo đường thẳng và về đúng chỗ cũ.

Bảo bệnh nhân nhắm mắt lại và đi tới đi lui sáu lần, mỗi lần tám bước.

Trong khi bước tới, bệnh nhân sẽ đi lệch về bên nhĩ bệnh, khi đi lui họ sẽ đi

lệch về bên mê nhĩ lành. Rút cuộc đường đi của bệnh nhân có dạng hình ngơi

sao và bệnh nhân khơng trở về đúng xuất phát điểm [6].



12



Hình 10: Nghiệm pháp đi hình ngơi sao [6]

3.2. Rối loạn do gây ra

Trong những nghiệm pháp sau đây, thầy thuốc kích thích mê nhĩ để

nghiên cứu các phản ứng của nó. Hiện nay, trên lâm sàng người ta đùng ba

phương pháp để kích thích tiền đình: nước lạnh, điện một chiều và ghế quay.

3.2.1. Nghiệm pháp nước lạnh

Về nguyên tắc chúng ta có thể dùng nước nóng 44 0C hay nước lạnh

250C để kích thích tiền đình. Hướng của động mắt sẽ trái ngược nhau tùy theo

nhiệt độ của nước. Trên thực tế chúng ta quen dùng nước lạnh hơn nước nóng.

Sức lạnh vào tai sẽ làm di chuyển nước nội dịch. Luồng nội dịch này kích

thích các tế bào giác quan của ống bán khuyên và gây ra động mắt.

Trước khi bơm nước lạnh cần phải xem màng nhĩ có bị thủng khơng,

nếu có thủng thì phải thận trọng như dùng nước vơ trùng, nhiệt độ vừa phải

(300C), bơm nhẹ... Có tác giả khuyên không nên làm nghiệm pháp này nếu tai

bị thủng.



13



Hình 11. Nghiệm pháp bơm nước lạnh [6]

Để bệnh nhân ngồi thẳng trên ghế có tựa lưng, mắt đeo kính Bacten

(Bartels) (+ 20 điôp) để loại động mắt giả, đầu ngửa 600 về phía sau. Chúng ta

bơm 10ml nước lạnh 250C vào tai người bệnh.

Bình thường 20 giây sau khi bắt đầu bơm nước, động mắt xuất hiện.

Người ta gọi đó là thời gian tiềm tàng. Động mắt kéo dài trong 60 đến 90 giây.

Nếu thời gian tiềm tàng bị rút ngắn dưới 20 giây và thời gian phản ứng

dài trên 120 giây thì người ta gọi là q kích thích. Trái lại nếu thời gian tiềm

tàng kéo dài trên 30 giây và thời gian động mắt dưới 30 giây thì người ta gọi

là kém kích thích.

Nếu tiền đình khơng trả lời chúng ta sẽ tăng khối lượng nước lên đến.

100ml. Sau đó nếu tiền đình vẫn khơng phản ứng thì chúng ta kết luận rằng

tiền đình khơng kích thích được.

Nghiệm pháp nước lạnh rất tiện lợi vì nó cho phép chúng ta nghiên cứu

từng mê nhĩ một và ở mỗi tai chúng ta có thể khám riêng ống bán khuyên nằm

hoặc ống bán khuyên đứng.

Sau khi phân tích động mắt xong chúng ta làm ngay nghiệm pháp đưa

tay thẳng: bình thường hai tay sẽ lệch về bên bị bơm nước. Tiếp theo chúng ta

bảo bệnh nhân đứng dậy để làm nghiệm pháp Rômbe: bệnh nhân sẽ ngả về

bên tai bị bơm nước.

Cuối cùng chúng ta hỏi bệnh nhân có chóng mặt buồn nơn khơng? Nói

chung bệnh nhân sẽ trả lời rằng có rạo rực muốn nơn hoặc thấy khó chịu trong

người vài phút



14

Khám xong một bên tai, chúng ta phải đợi mươi phút rồi hãy chuyển

sang tai bên kia

Phản ứng hài hòa tức là hướng động mắt và hướng nghiêng người

(hoặc hướng lệch ngón tay) đối lập với nhau.

Phản ứng khơng hài hòa tức là động mắt và nghiêng người (hay lệch

ngón tay) cùng đi về một hướng, hoặc động mắt đập về phía tai bệnh bị bơm

nước, hoặc ngón tay chỉ lệch về phía tai lành khơng bơm nước [2], [6].

3.2.2. Nghiệm pháp ghế quay

Nguyên tắc: Khi chúng ta để bệnh nhân ngồi trên ghế quay và chúng ta

cho ghế quay tròn, tồn bộ mê nhĩ sẽ quay theo. Nếu chúng ta hãm cái ghế lại

một cách đột ngột thì nội dịch trong tiền đình; do cái đà đã có sẵn, sẽ đập vào

bong bóng của ống bán khuyên và kích thích các tế bào thần kinh của mào

thính giác (crête acoustique) gây ra động mắt. Muốn kích thích ống bán

khun nào thì phải để ống bán khun đó trong bình diện nằm. Trong

nghiệm pháp này chúng ta thử cả hai tiền đình cùng một lúc [2], [6].

- Khám ống bán khuyên nằm:

Bệnh nhân đeo kính + 20 điôp, ngồi trên ghế quay kiểu Lecmoayê

(Lermoyez), đầu nghiêng 30 độ về phía trước, lưng tựa vào thành ghế, chân

đặt trên bàn đạp của ghế, hai tay nắm chặt thành ghế.

Thầy thuốc quay ghế 10 vòng trong 20 giây, và đến vòng thứ 10 chặn

ghế đứng lại đột ngột. Ngay khi ghế đứng lại thì động mắt xuất hiện và đập về

hướng đối lập với chiều quay của ghế. Thầy thuốc dùng đồng hồ đo thời gian

từ lúc động mắt bắt đầu cho đến khi hết động mắt.

Muốn khám tiền đình phải thì chúng ta quay ghế từ phải sang trái (của

bệnh nhân). Nếu khám tiền đình trái thì quay từ trái sang phải.

Nếu quay từ phải sang trái thì động mắt sẽ đập từ trái sang phải. Nếu

quay từ trái sang phải thì động mắt sẽ đập từ phải sang trái.

Khi chúng ta quay từ trái sang phải thời gian động mắt là 30 giây

trong đó 25 giây do mê nhĩ trái gây ra (do dòng nội dịch chảy về bong bóng)

còn 5 giây do mê nhĩ phải (dòng nội dịch thốt khỏi bong bóng) gây ra. Nếu

chúng ta quay từ phải sang trái, thời gian động mắt cũng là 30 giây, trong đó



15

25 giây đó mê nhĩ phải gây ra (dòng nội dịch chảy về bong bóng) còn 5 giây

do mê nhĩ trái (dòng nội dịch thốt khỏi bong bóng).



Hình 12: Nghiệm pháp ghế quay [6]

Sau mỗi lần quay nên nghỉ 10 phút để bệnh nhân hồi tĩnh.

Trên đây là kết quả của xét nghiệm khi bệnh tích còn mới. Trong những

trường hợp mạn tính, lâu ngày kết quả sẽ khơng được rõ rệt như trên vì có hiện

tượng bù trừ xen vào: mê nhĩ lành đảm bảo một phần chức năng của mê nhĩ

chết. Thời gian của động mắt sẽ là 15 giây mặc dù chúng ta quay về bên phải

hay về bên trái.

- Khám ống bán khuyên đứng:

Ống bán khuyên đứng gồm có ống bán khuyên trên và ống bán khuyên

sau. Ở đây còn nhiều điểm chưa được rõ lắm, nhất là về vai trò của ống bán

khuyên riêng lẻ. Người ta quy ước:

Muốn khám ống bán khuyên trên (bình diện trán) phải ngả đầu 90 độ về

phía trước. Động mắt thuộc về loại quay và kéo dài trong 20 giây. Hướng của

động mắt và hướng quay của ghế đối lập với nhau.

Muốn khám ống bán khuyên sau (bình diện dọc-plan sagittal) phải ngả đầu

90 độ về một bên, động mắt thuộc về loại đứng và kéo dài trong 6 giây. Ví dụ:

Ghế quay vế bên phải mà đầu ngả về bên phải thì sẽ có động mắt đứng đập về

phía dưới, nếu ngả đầu về bên trái sẽ có động mắt đứng đập về phía trên [6].

3.2.3. Nghiệm pháp điện một chiều

- Dòng điện một chiều tác động trực tiếp đến thần kinh tiền đình và gây

ra phản ứng nghiêng đầu, động mắt và chóng mặt.



16

- Dụng cụ cần thiết là 20 cái pin 1,5 vôn nối tiếp nhau, một cái ampe

kế, một cái điện trở và hai cực điện.

- Phương pháp thường dùng là kiểu hai tai hai cực tức là mỗi bên tai

đeo một cực điện khác tên với nhau [2].

Cách làm:

- Phản ứng nghiêng đầu: Để bệnh nhân đứng thẳng, mắt nhắm, lắp cực

điện vào trước nắp tai: cực dương bên phải, cực âm bên trái. Bắt đầu cho điện

chạy, và tăng dần cường độ từ 0 mới ampe trở lên. Đối với người thường khi

lên đến 3mA thì đầu nghiêng về cực dương.



Hình 13: Nghiệm pháp điện một chiều [6]

- Trong trường hợp có thương tổn mê nhĩ, hướng nghiêng đầu sẽ thay

đổi. Nếu là bệnh tích ở thân dây thần kinh hoặc ở các nhân trung ương thì

ngưỡng kích thích sẽ tăng lên 10 mA hoặc hơn.

- Sau khi phản ứng xuất hiện rồi, chúng ta giảm điện dần . Nghiệm pháp

điện trở về 0 mA...Nếu chúng ta cắt điện nhanh bệnh nhân sẽ ngả về bên đối điện.

- Phản ứng động mắt

Bệnh nhân mở mắt. Động mắt sẽ xuất hiện khi chúng ta tăng cường độ

lên đến 5 mA và đập về phía cực âm. Động mắt ngang hoặc quay.

Lúc làm nghiệm pháp này nên cho bệnh nhân đeo kính + 20 điơp

Nếu có thương tổn tiền đình, hướng của động mắt sẽ thay đổi và

ngưỡng kích thích của dòng điện cũng tăng (10 mA).

- Cảm giác chóng mặt



17

Chóng mặt xuất hiện muộn và đòi hỏi cường độ điện cao (trên 10 mA).

Nếu bệnh nhân mở mắt thì họ sẽ thấy đồ đạc di động qua trước mặt họ từ cực

dương qua cực âm. Nếu bệnh nhân nhắm mắt họ sẽ có cảm giác bị lơi kéo về

phía cực dương [6].

3.2.4. Nghiệm pháp bơm hơi

- Bình thường nếu chúng ta dùng spêculum Sieglơ (Siegle) bơm khơng

khí vào ống tai ngồi, bệnh nhân chỉ có cảm giác căng trong tai.

- Trái lại nêu mê nhĩ có lỗ rò (rò ở ống bán khun nằm) khi chúng ta

bơm khơng khí vào tai, bệnh nhân sẽ ngả người về phía đối lập và có động

mắt ngang quay đập về phía tai bệnh. Đó là triệu chứng Lukê (Lucae).

- Trong trường hợp giang mai bẩm sinh ở mê nhĩ (xương bàn đạp lỏng

khớp) thì phản ứng sẽ ngược lại. Khi chúng ta bơm khơng khí vào tai thì bệnh

nhân ngả người về phía tai bị kích thích và động mắt nằm quay đập về phía

đối diện (triệu chứng Hennebert).

- Để kết luận về vấn đề khám tiền đình chúng ta nên nhớ rằng những

nghiệm pháp nói trên chỉ có giá trị tương đối nếu nó đứng riêng lẻ một mình,

nhưng nếu các biện pháp đó được áp dụng một cách phối hợp và cùng trả lời

theo một hướng thì giá trị của nó rất lớn.

- Chúng ta chỉ nên coi như là bệnh lý những kết quả hoặc những con số

thật là bất thường. Còn những sai lệch chút ít thì khơng đáng kể.

- Khi chúng ta nói mê nhĩ q kích thích hoặc kém kích thích, chúng ta

khơng nên căn cứ vào con số tuyệt đối của các nghiệm pháp mà phải so sánh

kết quả của hai tai với nhau [6].

4. Hội chứng rối loạn tiền đình

Hội chứng tiền đình được xếp làm hai loại chính:

Hội chứng tiền đình ngoại biên

Hội chứng tiền đình trung ương

Nói chung, bao gồm các triệu chứng như chóng mặt, nghe kém, ù tai và các

triệu chứng thần kinh khác như nhức đầu, mất thăng bằng, rung giật nhãn cầu…

Hội chứng tiền đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, không chỉ trong

lĩnh vực Tai Mũi Họng mà còn liên quan nhiều đến các chuyên khoa như:

Thần kinh, Nội, Chấn thương [5].



18

4.1. Hội chứng tiền đình ngoại biên

Bao gồm các hội chứng:

4.1.1. Hội chứng tiền đình

- Chóng mặt rõ rệt, có cơn bộc phát, kèm theo ù tai.

- Rung giật nhãn cầu tự phát loại ngang – xoay hướng về bên tai lành,

không chỉ xuất hiện trong mà có thể cả ngồi cơn chóng mặt, động điện nhãn

đồ kiểu ngoại biên.

- Khám tiền đình: Trả lời hồ hợp, thể ngoại biên nhưng với vài hiện

tượng kiểu trung ương như nghiệm pháp Romberg không bị ảnh hưởng khi

thay đổi tư thế đầu, nghiệm pháp ngón trỏ chỉ lệch một tay cùng bên lành.

4.1.2. Hội chứng loa đạo:

Nghe kém thể tiếp âm, khơng có hiện tượng hồi thính (R-), có hiện

tượng suy thoái relapse II qua nghiệm pháp Carhard (Caha)

4.1.3. Hội chứng thần kinh:

- Nhức đầu liên tục, có cơn bộc phát, thường ở vùng chấm - đỉnh.

- Có rối loạn trương lực cơ, nhưng rối loạn thăng bằng và hội chứng

tiểu não khơng rõ



Hình 14: Hội chứng thần kinh [2].

4.2. Hội chứng tiền đình trung ương

4.2.1. Hội chứng suy giảm

+ Chóng mặt khơng rõ rệt như trong hội chứng tiền đình rễ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các nghiệm pháp thăm khám tiền đình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×