Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2. Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng [9]

Hình 2. Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng [9]

Tải bản đầy đủ - 0trang

nguy cơ gây sâu răng đặc biệt là khi ngủ vì khi đó các cử động miệng, tốc độ

dòng chảy nước bọt giảm. Chế độ ăn có đường, nước ngọt chế biến sẵn giữa các

bữa chính cũng làm răng nguy cơ gây sâu răng.

- Vi khuẩn trong mảng bám răng: Các vi khuẩn liên quan đến sâu răng có 2

loại là vi khuẩn sinh acid làm hủy khoáng bề mặt men răng và vi khuẩn phân

giải protein làm tiêu tổ chức hữu cơ của men, ngà răng sau khi bị hủy khống.

Các lồi vi khuẩn đặc hiệu gây sâu răng là: Lactobacillus acidophillus,

Streptococcus mutans, Actinomyces là những loại vi khuẩn gây sâu răng. Việc

kiểm sốt vi khuẩn trong miệng thơng qua vệ sinh răng miệng là cần thiết. Richa

G nghiên cứu nhận thấy trẻ chải răng một lần/ ngày có nguy cơ sâu răng cao hơn

gần 3 lần so với trẻ chải răng 2 lần/ ngày (OR = 2.6; 95%CI: 1,3-5,5; p = 0.042)

[5], [6], [7].

Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng S. mutans không được phát hiện trong

miệng trẻ chưa mọc răng nhưng thường xuyên xuất hiện trong khoang miệng

của trẻ sau khi các răng cửa bắt đầu xuất hiện. S.mutans truyền từ người này đến

người khác. Các trường hợp lây nhiễm này xảy ra theo chiều dọc, thường từ mẹ

sang con. Điều này được chứng minh qua nghiên cứu lâm sàng: Chủng S.mutans

phân lập từ các bà mẹ và con của họ là tương tự hoặc giống hệt nhau. Sự hiện

diện của S. mutans ở trẻ 1 năm tuổi là những yếu tố dự báo hiệu quả nhất của

sâu răng ở mức 3,5 tuổi (Grindefjord M, 1995).

Hiệp hội nha khoa Mỹ năm 2006, đã xếp việc đếm số lượng vi khuẩn

Streptococcus mutans trong nước bọt của bệnh nhân là một trong các tiêu chí khi

đánh giá yếu tố nguy cơ gây sâu răng [10], [13].

- Thời gian: Sâu răng chỉ phát triển khi phản ứng sinh acid kéo dài và lặp đi

lặp lại trong một khoảng thời gian, thời gian tiếp xúc giữa acid và men răng càng

dài thì hủy khống càng nhiều và gây sâu răng.

- Nước bọt là chất lỏng, quánh chứa các thành phần chính: Amylase, chất

nhây, các ion (Na+, K+, Ca2+, Cl-, HCO3-...). Ngồi ra nước bọt còn chứa bạch

15



cầu và kháng thể nên còn có tác dụng chống nhiễm trùng.Yếu tố chống lại sự

thay đổi pH của nước bọt là hệ thống phosphate và acid carbonic/ bicarbonate.

Cơ chế cho khả năng đệm của phosphate vơ cơ trong nước bọt có pH 6-8

dựa vào khả năng của HPO42- kết hợp với H+ tạo thành H2PO4-.

Hệ thống đệm quan trọng nhất của nước bọt là acid carbonic/bicarbonate.

Nồng độ acid ion bicarbonate dao động từ 1 mµ khi khơng bị kích thích đến 60 mµ

khi tốc độ dòng chảy ở mức cao. Khả năng đệm của bicarbonate có thể được diễn

giải là:

CO2 + H2O  H2CO3  HCO3- + H+

Ngày nay, dựa trên y học bằng chứng việc kiểm tra lưu lượng nước bọt cũng

đã được ADA đưa vào tiêu chí khi đánh giá nguy cơ sâu răng cho bệnh nhân.

- Fluoride giữ vai trò lớn rõ rệt trong tiến trình hủy khống và tái khống,

đặc biệt là nó thúc đẩy q trình tái khống hóa xảy ra.

Khi pH trong màng sinh học giảm, do vi khuẩn sản xuất axit từ việc biến

dýỡng ðýờng, men rãng bị hủy khống. Tuy nhiên, nếu F- có mặt trong dịch

màng sinh học và ðộ pH không thấp hõn 4.5, hydroxyapatite (HA) ðýợc hòa tan

cùng một lúc mà fluorapatite (FA) ðýợc hình thành (do F- ứng mạnh với các ion

tự do Ca2+ và ion PO43- tạo thành tinh thể fluoroapatite - Ca10(PO4)6(OH.F)2) kết

tinh các cấu trúc trên vị trí thýõng tổn. Sự kết tinh lại bề mặt tạo ra fluorapatite ít tan hơn hydroxyapatite nguyên chất bởi các cụm thứ cấp của nó chắc chắn hơn

- có khả năng bảo vệ răng khỏi sự tấn công của acid tốt hơn rất nhiều lần so với

cấu trúc ban đầu của răng.

Đường được chuyển hóa thành acid trong màng sinh học. Khi pH giảm

xuống dưới 5,5, dưới ngưỡng bão hòa của hydroxyapatid (HA), HA phân hủy đi

ra màng sinh học, kết quả gây mất khoáng men răng. Tuy nhiên nếu pH lớn hơn

4,5 và có mặt F-, màng sinh học sẽ vượt qua nồng độ bão hòa của fluorapatite

(FA) và FA sẽ được hình thành kết tủa men răng. Và kết quả làm giảm hủy

khoáng.

16



Sau khi sự tiếp xúc với đường kết thúc, acids trong màng sinh học bị rửa trôi bởi

nước bọt và chuyển hóa thành muối. Kết quả làm tăng pH, khi pH lớn hơn hoặc

bằng 5,5, màng sinh học vượt qua nồng độ bão hòa với cả HA và FA. Vì vậy, Ca

và P bị mất trên bề mặt men răng có thể được bù đắp có hiệu quả hơn nếu có mặt

F trong màng sinh học [5], [7], [11].

3. Bệnh sinh sâu răng

Bệnh sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hóa được đặc

trưng bởi sự hủy khống của thành phần vơ cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ

của mô cứng.

Tổn thương sâu răng là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên

quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng, là quá trình

sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ [9].

Hiện nay, người ta cho rằng trên bề mặt men răng bình thường ln tồn

tại q trình cân bằng động giữa hủy khống và tái khoáng, khi pH trên bề mặt

men răng thấp thì hủy khống sẽ chiếm ưu thế và hình thành các tổn thương

sâu răng đầu tiên. Vi khuẩn trong mảng bám răng sản sinh ra các acid như sản

phẩm phụ của quá trình biến dưỡng carbohydrate, làm cho độ pH giảm xuống

tới mức gây ra sự hủy khoáng ở tổ chức cứng của răng, các ion calcium,

phosphate, và carbonate khuếch tán ra ngồi răng. Khi tổ chức vơ cơ của men

răng tiêu nhiều chỉ còn lại khung protein hữu cơ, những vi khuẩn phân giải

protein sẽ phân hủy và tiêu tổ chức hữu cơ và hình thành lỗ sâu răng [9], [13].



17



Sâu răng = Huỷ khoáng > Tái khoáng

Các yếu tố gây mất ổn định

* Mảng bám vi khuẩn

* Chế độ ăn nhiều đường nhiều lần

* Thiếu nước bọt hay nước bọt axit

* Axit từ dạ dày tràn lên miệng

* pH môi trường miệng < 5



Các yếu tố bảo vệ

* Nước bọt

* Khả năng kháng axit của men

răng

* Fluor có ở bề mặt men răng

* Sự trám bít hố rãnh

* Nồng độ Ca++, NPO4 quanh răng

* pH> 5,5



Hình 3. Sơ đồ tóm tắt cơ chế bệnh sinh bệnh sâu răng [9]

4. Triệu chứng, chẩn đoán, điều trị bệnh sâu răng



Giai đoạn hình thành lỗ sâu là giai đoạn muộn của bệnh sâu răng, để

điều trị chúng ta cần phải khoan và hàn răng, khơng thể điều trị tái khống

được. Do vậy việc chẩn đoán các tổn thương men sớm là rất quan trọng.

4.1. Sâu men

Các tổn thương sâu men ở giai đoạn sớm khơng có triệu chứng cơ

năng và tồn thân.

- Thăm khám tại chỗ: Thổi khô bề mặt răng tổn thương thấy các vết

trắng, mất độ nhẵn bóng. Các vết trắng chỉ có thể nhìn thấy sau khi thổi

khơ là những tổn thương có khả năng hồi phục cao bằng cách điều trị tái

khống hóa mà khơng cần phải mài răng, ngược lại những vết trắng có thể

nhìn thấy ngay ở trạng thái ướt không cần phải làm khô răng thì khả năng

hồi phục sẽ thấp hơn.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2. Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng [9]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×