Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giải phẫu tử cung

Giải phẫu tử cung

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



Hình 1: Giải phẫu tử cung buồng trứng

1.1. Thân tử cung.

- Mặt bàng quang: có phúc mạc bao phủ tới eo và lật ngược lên bàng

quan tạo túi cùng bàng quan – tử cung.



4



- Mặt ruột có phúc mạc phủ tới phần trên âm đạo tạo túi cùng Douglas

là chổ thấp nhất của ổ phúc mạc -> dịch trong ổ phúc mạc rất dễ động tại đây.

1.2. Đáy tử cung:

Góc bên có dây chằng tròn và dây chằng riêng buồn trứng.

1.3. Cổ tử cung:

- Phần trên âm đạo.

- Phần âm đạo: Trơng như mõm cá mè tạo thành vòm âm đạo, ở đỉnh

của mõm có lỗ tử cung, chưa đẻ lỗ tử cung tròn nhỏ, đẻ rồi lỗ tử cung có lằng

ngang rộng.

Vòm âm đạo có 4 túi

+ Túi bịt trước

+ 2 túi bịt bên

+ Túi bịt sau: sâu hơn liên quan đến túi cùng trực tràng – tử cung. Tại

đây niệu quản nằm ngay trên túi cùng bên của vòm âm đạo.

Ở dưới có các mạch máu tử cung khi các mạch này chạy ngang qua dây

chằng rộng. Khi tiến hành phâu thuật cắt bỏ tử cung, có thể vơ tình cắt phải

niệu quản trong lúc kẹp các mạch tử cung

1.4. Dây chằng

- Dây chằng rộng.

- Dây chằng tròn: Bám từ góc bên đáy rồi chui vào ống bẹn sâu -> chui

ra lỗ bẹn nông rồi tỏa thành nhiều sợi bám và mơ liên kết của gò mu và môi

lớn âm đạo

- Dây chằng tử cung cùng

- Dây chằng ngang cổ tử cung: Bám từ bờ bên cổ tử cung đến ngay sau

thành bên chậu hơng, đến phía trên hồnh chậu hơng

1.5. Mạch máu thần kinh

- Động mạch tử cung là nhánh của động mạch chậu trong, đi ở nền dây

chằng rộng, bắt chéo phía trước niệu quản, cách cổ tử cung 1,5 cm (chú ý



5



trong phẩu thuật) -> tử cung ở ngang mức lỗ trong tử cung, động mạch chạy

theo bờ bên tử cung theo kiểu xoắn ốc cấp máu thân tử cung, nối với động

mạch buồn trứng và cho nhánh cấp máu cổ tử cung

- Tĩnh mạch tử cung đi song song động mạch và cuối cùng đổ vào tĩnh

mạch chậu trong, các tĩnh mạch nối thông qua đám rối chậu hông và âm đạo

- Thần kinh tử cung âm đạo tách ra từ đám rối hạ vị dưới -> đi trong dây

chằng tử cung cùng tới tử cung ở chổ eo tử cung

1.6. Cấu tạo tử cung:

Gồm 3 lớp

- Lớp thanh mạc: Ở ngoài cùng

- Lớp cơ ở giữa:

+ Vùng thân: Có 3 tầng cơ.

Tầng ngồi: Cơ dọc.

Tầng giữa: Lớp cơ rối là những thớ đang chéo nhau quấn quanh mạch

máu, chính nhờ tầng cơ này mà máu được cầm lại khi sanh đẻ.

Tầng trong: Là các thớ cơ vòng.

+ Vùng cổ tử cung: Mỏng hơn và khơng có tầng cơ rối, chỉ có một tầng

cơ vòng kẹp giữa 2 tầng cơ dọc.

- Lớp niêm mạc: Mỏng và dính chặc vào lớp cơ.

2. U xơ tử cung

2.1. Định nghĩa

U xơ tử cung là những khối u lành tính ở tử cung, còn được gọi là u xơ

cơ tử cung vì cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung.[2]

Tỷ lệ ở Mỹ theo thống kê của tác giả Raph Benson có tới 20% số phụ nữ

> 35 tuổi có nhân xơ ở tử cung.[2]

Ở Việt Nam chưa xác định được tỷ lệ u xơ tử cung trong cộng đồng, vì

nhiều khi khối u nhỏ không phát hiện được. Theo tác giả Dương Thị Cương

thì u xơ tử cung chiếm tỷ lệ 18-20% trong tổng số các bệnh phụ khoa, bệnh



6



thường gặp ở phụ nữ từ 35-50 tuổi, các khối u thường gây nên vơ sinh hoặc

khơng sinh đẻ được.[2]



Hình 2: U xơ tử cung (bv phụ sản Cần Thơ)

2.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân của bệnh chưa rõ, có nhiều giả thuyết cho rằng u xơ tử

cung có liên quan đến:

- Yếu tố di truyền:

Có bằng chứng cho thấy rằng u xơ có xu hướng xảy ra theo gia đình và

trẻ sinh đơi cùng trứng có khả năng cùng bị u xơ cao hơn trẻ sinh đôi khác

trứng.

- Nội tiết tố:

Estrogen và progesterone là hai hormone kích thích sự phát triển của nội

mạc tử cung trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt để chuẩn bị cho sự mang thai,

dường như đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của u xơ.

U xơ có nhiều thụ thể estrogen và progesterone hơn các tế bào cơ tử cung

bình thường và có xu hướng teo lại sau mãn kinh do sự suy giảm hormone.

- Các yếu tố tăng trưởng:



7



Các yếu tố giúp cơ thể duy trì nội mơi, chẳng hạn như yếu tố tăng trưởng

giống insulin, có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.

- Ngoài ra, nguyên nhân gây ra u xơ tử cung còn có thể do mơi trường,

thực phẩm, béo phì…..

2.3. Đặc điểm giải phẫu bệnh

- Đại thể:

U xơ tử cung là những khối u tròn, đặc, mật độ chắc, mầu trắng ngà giới

hạn rõ với lớp cơ tử cung bao quanh có mầu hổng.

Về số lượng: có một hoặc nhiều nhân xơ ở nhiều vị trí khác nhau.

Về kích thước: to nhỏ khác nhau.

U xơ tử cung giới hạn với thành tử cung bởi một lớp vỏ bọc và một lớp

tổ chức liên kết lỏng lẻo, từ lớp vỏ này có những mạch máu nhỏ đi vào khối u.

- Vi thể:

Trong nhân xơ thấy các sợi xơ, sợi cơ và tổ chức liên kết đan lẫn nhau và

xếp thành hình xốy ốc.

2.4. Phân loại

Theo vị trí giải phẫu u xơ tử cung được phân thành 3 loại:

- U xơ ở thân tử cung:

Ở vì trí này hay gặp nhất, tuỳ theo vị trí của khối u trên thành tử cung mà

người ta chia làm 3 loại :

+ U xơ dưới niêm mạc:

Phát triển tử lớp cơ tử cung, lớn lên về phía niêm mạc làm thay đổi hình

dạng buồng tử cung.

Có khi u dưới niêm mạc phát triển thành u có cuống dài thò ra qua có tư

cúng ra âm đạo, trường hợp này dễ bị nhiễm khuẩn và chảy máu.

+ U xơ trong cơ: Phát triển trong lớp cơ tử cung, loại này phát triển

tương đối nhanh, khối u có thể phát triển rất to làm biến dạng hình thể tử cung

và gây chèn ép các tạng trong tiểu khung.



8



+ U xơ dưới thanh mạc: phát sinh tử lớp cơ tử cung, phát triển về phía

phúc mạc, loại này thường phát triển chậm, có cuống dài hoặc nằm lọt vào

giữa hai lá phúc mạc của đây chằng rộng khó khăn cho việc chẩn đoán và

phẫu thuật.

- U xơ ở eo tử cung: Phát triển trong tiểu khung và thường gây chèn ép

các tạng xung quanh. Khi chuyển dạ u xơ ở eo tử cung sẽ trở thành khối u tiền

đạo cản trở quá trình lọt, xuống, quay, sổ của thai và là nguyên nhân gây đẻ

khó.

- U xơ ở cổ tử cung: Khối u thường phát triển về phía âm đạo dưới dạng

polype.



Hình 3: Vị trí U xơ tử cung

3. Chẩn đoán

3.1. Triệu chứng.

- Cơ năng

+ Ra huyết: Là triệu chứng quan trọng nhất, thường xuất hiện trước tiên.

Lúc đầu huyết ra dưới dạng rong kinh, sau đó là cường kinh và dần dần dẫn

đến băng huyết khi chu kì kinh bị rối loạn.



9



+ Ra khí hư: Khí hư lỗng, có khi ra rất nhiều thành từng đợt, khơng hơi,

khi khí hư lẫn mủ có mùi hơi lúc đó đã có nhiễm khuẩn.

+ Đau bụng: Bệnh nhân thường đau theo kiểu thống kinh do tở cung tăng

co bớp, ngồi ra có thể đau bụng cấp hoặc đau âm ỉ vùng hạ vị khi khối u đã

có biến chứng xoắn, hoại tử hoặc nhiễm khuẩn.

+Các triệu chứng gây ra do sự chèn ép của khối u:

Tức nặng bụng dưới, đau tức vùng hạ vị.

Tiểu tiện nhiều lần hoặc bí tiêu tiện.

Ứ nước bể thận.

Táo bón hoặc đau khi đại tiện.

Chèn ép vào đám rối thần kinh thắt lưng sẽ làm bệnh nhân đau âm ỷ vùng thắt

lưng lan xuống đùi.

- Toàn thân

+ Giai đoạn đầu huyết ra ít thì tồn thân ít bị ảnh hưởng.

+ Giai đoạn sau khi có rối loạn kinh nguyệt kéo dài: da xanh, niêm mạc

nhợt, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt

- Triệu chứng thực thể

+ Nếu khối u to phát triển lên phía ổ bụng thì sờ nắn qua thành bụng có

thể thấy được khối u ở vùng hạ vị, mật độ chắc, ranh giới rõ, di động hạn chế.

+ Thăm âm đạo kết hợp với sờ nắn trên thành bụng thì tuỳ tửng loại u xơ

mà phát hiện các triệu chứng sau:

+ U dưới thanh mạc: Sờ thấy tử cung to chắc, mặt ngoài tử cung biến

dạng lồi lõm, thấy nhân xơ lồi về phía ổ bụng và di động theo tử cung.

+ U trong cơ: Khám thấy tử cung to toàn bộ, mật độ chắc.

+ U dưới niêm mạc: Thăm âm đạo thấy tử cung thường khơng to, nếu u

dưới niêm mạc dạng có cuống thò ra ngồi cổ tử cung thì qua thăm khám

bằng đặt mỏ vịt thấy khối u được dễ dàng.

+ Đo buồng tử cung: Buồng tử cung thường sâu hơn bình thường.



10



- Cận lâm sàng

+ Siêu âm:

Thấy hình thể, kích thước của tử cung.

Đánh giá chính xác vị trí, số lượng, kích thước nhân xơ.

+ Chụp buồng tử cung có bơm thuốc cản quang:

Hình ảnh buồng tử cung to lên hoặc bị kéo dài,

Hình ảnh biến dạng có hình khuyết bờ đều.

+ Nạo sinh thiết niêm mạc tử cung làm xét nghiệm giải phẫu bệnh:

Niêm mạc tử cung quá sản, các tuyến chế tiết nhiều (hình ảnh cường

estrogen)



Hình 4: hình ảnh siêu âm u xơ tử cung

3.2. Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định:

+ Có rối loạn kinh nguyệt: Rong kinh, cường kinh, băng huyết.

+ Thăm âm đạo kết hợp với sờ nắn ngoài thấy nhân xơ di động cùng với

cổ tử cung

+ Siêu âm thấy được hình ảnh nhân xơ.

+ Chụp buồng tử cung có bơm thuốc cản quang: Hình ảnh buồng tử cung

bị biến dạng, có hình khuyết bờ đều.

Chẩn đốn phân biệt:

+ Có thai:



11



Thai thường: Thăm âm đạo thấy tử cung to nhưng hỏi kĩ tiền sử có tắt

kinh, có nghén. HCG (+) và siêu âm thấy hình ảnh túi ối trong buồng tử cung

mà khơng thấy hình ảnh nhân xơ.

Doạ sẩy: Tử cung to và ra huyết, nhưng khi hỏi bệnh và thăm khám, làm

xét nghiệm như trên thì phát hiện thấy đó là trường hợp có thai trong tử cung.

Thai chết lưu: Tử cung cũng to cũng ra huyết kéo dài xét ngiệm HCG(-)

khi siêu âm thấy hình ảnh túi ối trong buồng tử cung méo mó.

+ Khối u buồng trứng (hay nhầm với u xơ dưới phúc mạc có cuống).

Khối u nằm lệch về một bên hố chậu tách biệt với tử cung và di động biệt lập

với tử cung. Chắc chắn nhất là chụp buồng tử cung vòi trứng có bơm thuốc

cản quang thấy buồng tử cung bình thường nhưng vòi trứng bên khối u bị kéo

dài giãn mỏng.

+ Ung thư nội mạc tử cung: Thường gặp ở bệnh nhân đã mãn kinh đột

nhiên ra huyết âm đạo bất thường, khám tử cung to. Chụp buồng tử cung thấy

buồng tử biến dạng hình khuyết bờ nham nhở (hình ảnh ruột bánh mỳ). Nạo

ảnh thiết niêm mạc tử cung làm giải phẫu bệnh thấy có tế bào ác tính.

3.3. Tiến triển và biến chứng

- Tiến triển

U xơ tử cung thường tiến triển chậm trong một vài năm.

Khối u nhỏ, nằm ở giữa lớp cơ tử cung hoặc phát triển về phía phúc mạc

có thể khơng gây ra biến chứng gì.

Một số khối u có thể mất sau một vài lần thai nghén hoặc ngừng phát

triển khi người phụ nữ đã mãn kinh.

Tuy nhiên u xơ tử cung cũng có thể gây ra rất nhiều các biến chứng nguy

hiểm.

- Biến chứng

Mất máu ít gây triệu chứng da xanh, hoa mắt chóng mặt, mất máu nhiều

gây trụy mạch cần phải xử trí cấp cứu ngay.



12



Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới, nhiễm khuẩn đường sinh dục trên

hoặc nhiễm khuẩn tại khối u, gặp ở những u xơ dưới niêm mạc gây chảy máu

nhiều và kéo dài.

Xoắn là biến chứng hay gặp đối với nhân xơ dưới phúc mạc có cuống.

Triệu chứng giống như một trường hợp u nang buồng trứng xoắn. Bệnh nhân

đau bụng đột ngột ở vùng hạ vị, đau tăng dần và kèm theo chống, bụng có

cảm ứng phúc mạc.

Khi khối u to thường bị thiểu dưỡng nên dễ bị thối hố dưới nhiều hình

thức khác nhau: thối hố kinh, thối hố nhảy, thối hố nang. Những hình

thức thoái hoá này tạo nên những u xơ mềm hoặc cứng làm cho việc chẩn

đoán dễ bị sai lạc.

- Biến chứng khi có thai:

+ Khi có thai, u xơ tử cung có thể gây sẩy thai đẻ non

+ Đẻ khó: Do ngôi thai bất thường, ngôi cúi không tốt, khối u tiền đạo.

+ Trong một số trường hợp vị trí của khối u có thể gây ảnh hưởng đến

đường rạch tử cung khi mổ lấy thai. Ví dụ, thay vì phẫu thuật theo đường

ngang dưới có thể phải thực hiện phương pháp cổ điển là rạch thân tử cung.

+ U xơ tử cung có thể gây rau tiền đạo, rau bám chặt.

+ Khi chuyển dạ, thường kéo dài, rối loạn cơn co, thời kỳ sổ rau thường

băng huyết, đờ tử cung.

+ Thời kỳ hậu sản có thể bế sản dịch, nhiễm khuẩn, u xơ dưới thanh

mạccó cuống có thể bị xoắn.

- Biến chứng sau đẻ

+ Khối u bị kẹt ở cùng đồ Douglas gây chèn ép bàng quang, trực tràng

+ Khối u dưới phúc mạc bị dính vào phúc mạc



13



+ Biến chứng nhiễm khuẩn có thể xảy ra ở ngay khối u, niêm mạc tử

cung, và ống dẫn trứng. Bệnh nhân có những cơn đau bụng, sốt bạch cầu tăng,

tồn thân suy sụp.

4. Điều trị

Không phải tất cả các trường hợp u xơ đều phải điều trị.

Đối với các khối u nhỏ, chưa gây biến chứng có thể theo dõi tại cơ sở,

khám phụ khoa định kỳ 3 tháng 1 lần.

Đa số khối u teo nhỏ sau tuổi mãn kinh.

Nếu theo dõi thấy khối u to lên hoặc gây biến chứng chảy máu kinh

nguyệt nhiều cần chuyển tuyến chuyên khoa khám và điều trị.

4.1. Điều trị nội khoa:

Điều trị nội khoa chỉ làm giảm bớt triệu chứng chứ hoàn toàn khơng có

khả năng làm teo khối u xơ cơ tử cung.

Thuốc điều trị u xơ tử cung thực chất là các loại nội tiết tố sinh dục, được

đưa tạm thời vào cơ thể bệnh nhân để gây ức chế buồng trứng tạm thời không

tiết estrogen, nhằm làm cho khối u nhỏ lại (giống như tình trạng mãn kinh).

Sau khi ngưng thuốc, buồng trứng sẽ làm việc trở lại và sẽ kích thích

khối u tiếp tục phát triển.

Phương pháp này chỉ áp dụng cho các khối u lớn chờ phẫu thuật hoặc các

u giàu tưới máu giúp làm giảm nguy cơ chảy máu nhiều khi phẫu thuật.

- Chỉ định:

+ Bệnh nhân còn trẻ tuổi, còn mong muốn có con

+ Nhân xơ nhỏ kích thước u dưới 5mm, tiến triển chậm, chưa có biến

chứng hoặc chỉ có rong huyết

+ Bệnh nhân chờ đợi phẫu thuật.

- Điều trị cụ thể: dùng nội tiết liệu pháp

+ Orgametrin 5mg/ ngày uống tử ngày thứ 16 – 21 của vòng kinh, uống

liền 6 chu kỳ. Sau đó phải kiểm tra kích thước khối u có nhỏ hay không.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giải phẫu tử cung

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×