Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mối quan hệ giữa mất ngủ và rối loạn tâm thần đã được xem như là vòng lẩn quẩn qua lại.Tương tác này có thể thúc đẩy một vòng tròn bệnh lý và làm phức tạp hơn nữa các nỗ lực điều trị.

Mối quan hệ giữa mất ngủ và rối loạn tâm thần đã được xem như là vòng lẩn quẩn qua lại.Tương tác này có thể thúc đẩy một vòng tròn bệnh lý và làm phức tạp hơn nữa các nỗ lực điều trị.

Tải bản đầy đủ - 0trang

28



thuốc, cao tuổi các nhịp sinh học cũng có xu hướng dịch chuyển, đi ngủ và

thức dậy sớm hơn. Nói chung, người già có giấc ngủ ít sâu, ngày càng phân

mảnh giấc ngủ và tăng thức tỉnh-giảm ngủ sâu, tất cả đều có thể dẫn họ

đến mất ngủ.

- Hành vi: Một số hành vi làm tăng nguy cơ của một người trải qua

chứng mất ngủ , bao gồm có thói quen ngủ không tốt và tham gia vào những

công việc thay đổi.

Điều quan trọng cần lưu ý là mất ngủ có thể là một cái vòng luẩn quẩn:

Yếu tố nguy cơ đó gây ra hoặc làm trầm trọng thêm chứng mất ngủ cũng có

thể là hậu quả của việc mất ngủ .

1.4. ĐIỀU TRỊ MẤT NGỦ [53]

Điều trị mất ngủ hiện nay có 2 phương pháp điều trị chính đó là : Liệu

pháp nhận thức hành vi và điều trị hóa dược

1.4.1. Điều trị mất ngủ bằng liệu pháp nhận thức hành vi (CBT)

Liệu pháp nhận thức hành vi phổ biến cho điều trị chứng mất ngủ

nguyên phát gồm: Giáo dục vệ sinh giấc ngủ, kiểm sốt kích thích, giới hạn

giấc ngủ, tập luyện thư giãn,và liệu pháp nhận thức, trong đó liệu pháp kiểm

sốt kích thích là tốt nhất và được coi là "tiêu chuẩn vàng" trong liệu pháp

hành vi cho mất ngủ.

Trên thực tế, hầu hết các bác sỹ lâm sàng về giấc ngủ đều chấp nhận

một điều trị phối hợp thường gồm có kiểm sốt kích thích, giới hạn giấc ngủ,

và liệu pháp vệ sinh giấc ngủ. Các can thiệp bổ trợ bao gồm liệu pháp ánh

sáng, liệu pháp thư giãn, và tái cấu trúc nhận thức. CBT có thể được kết hợp

với các phương pháp hóa dược, nhưng nó đã được chứng minh hiệu quả hơn

thuốc về lâu dài.

Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của hành vi điều trị

chứng mất ngủ ban đầu. Những nghiên cứu này đã được xem xét lại trong hai



29



phân tích meta [50, 51]. Kết quả của hai cuộc đánh giá định lượng như sau:

32-41% cải thiện giấc ngủ sau điều trị hành vi ,độ trễ giấc ngủ giảm 39,543%, số lần gián đoạn do thức giấc giảm 30-73%, khoảng thời gian bị gián

đoạn do thức giấc liên tục giảm 46%, số lần thức giấc liên tục giảm 46% tổng

thời gian giấc ngủ tăng 8-9.4%. Thực tế bệnh nhân ngủ thiếp đi sớm hơn 2428 phút, có ít thức dậy hơn 0,5-1,2 lần giúp ngủ thêm 30-32 phút một đêm.

So sánh dữ liệu cho thấy rằng kiểm soát hạn chế giấc ngủ SRT(Sleep

restriction therapy) hoặc kiểm sốt kích thích đã mang lại những cải tiến

lớn nhất, tiếp theo là phối hợp trị liệu. Lợi ích điều trị được duy trì hoặc tăng

cường trong thời gian theo dõi từ 3 tuần đến 3 năm. Ngoài ra theo một nghiên

cứu của Morin et al cho thấy liệu pháp hành vi đạt hiệu quả tương đương với

hóa dược trong điều trị cấp tính, có hiệu quả tốt hơn hóa dược về lâu dài

(50,52) và có thể tốt hơn trong các vấn đề giấc ngủ tiên phát.

1.4.2. Điều trị hóa dược

Thuốc trị chứng mất ngủ đã được tìm thấy từ thời cổ đại khi thảo dược

đồ uống lên men và thuốc phiện đã được sử dụng. Vào giữa thế kỷ XIX,

bromua và chloral hydrate, cùng với laudanum (một hỗn hợp thuốc phiện và

rượu) là phổ biến. Barbiturates, được phát triển vào những năm đầu thế kỷ 20

là thuốc ngủ được sử dụng thường xuyên nhất cho đến những năm 1960 Khi

các thuốc benzodiazepine được đưa vào. Barbiturates, trong khi hiệu quả đã

gây tử vong ở liều thấp gấp mười lần liều điều trị đã gây lo lắng với những

thuốc gây an dịu còn lại, sự dung nạp, phụ thuộc, và tăng cường tác dụng của

chất gây an dịu khác đặc biệt là rượu. Benzodiazepine đã tạo một bước đột

phá quan trọng vì tính an toàn đã được cải thiện rõ rệt. Benzodiazepine trở

thành phương pháp điều trị chính cho chứng mất ngủ ở những năm 1970 và

1980. Việc sử dụng chúng đã giảm trong những năm 1990 cùng với một tăng

cường sử dụng thuốc chống trầm cảm an dịu [2]. Đến năm 2002, thuốc có chỉ



30



định FDA cho chứng mất ngủ được kê toa ít hơn các loại thuốc ngồi hướng

dẫn kê toa [3]. Năm 2002, loại thuốc được kê toa nhất cho mất ngủ là

trazodone. [16] trong nhiều năm 2005 cho đến năm 2007 cho thấy các mơ

hình kê toa có thể là thay đổi một chút. Sử dụng trazodone và amitriptyline đã

bắt đầu giảm trong khi sử dụng thuốc BzRA và ramelteon đã tăng lên.Sử dụng

quetiapine giảm nhẹ từ năm 2005 đến năm 2007, việc sử dụng nó cho chứng

mất ngủ đã tăng gấp đôi kể từ năm 2002. Tự điều trị bằng rượu hoặc các loại

thuốc ngủ trợ giúp không cần toa thậm chí còn phổ biến hơn việc sử dụng

thuốc theo toa cho chứng mất ngủ [17].

Thuốc hiện dùng để điều trị mất ngủ bao gồm đồng vận benzodiazepine

(BzRAs), đồng vận melatonin, thuốc chống trầm cảm, một số thuốc chống

loạn thần khơng điển hình, thuốc kháng histamine và chất tự nhiên như

valerian và melatonin. Trong số các hợp chất này, các bằng chứng đáng kể về

hiệu quả chỉ tồn tại đối với BzRAs và ramelteon; hơn thế nữa, những loại

thuốc này là những loại thuốc an toàn nhất trong các loại thuốc thông thường

sử dụng. Sự biến đổi đầy đủ về dược động học BzRA cung cấp cho bác sĩ lâm

sàng các lựa chọn để đáp ứng nhu cầu của hầu hết bệnh nhân. Một hội nghị

của NIH tổ chức năm 2005 kết luận rằng dược phẩm điều trị chứng mất ngủ

với các thuốc đồng vận benzodiazepine (BzRA's) là an toàn và hiệu quả (mặc

dù cần thêm các nghiên cứu dài hạn), trong khi đó thiếu bằng chứng để hỗ trợ

việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm, thuốc kháng histamine, rượu và các

chất khác để điều trị chứng mất ngủ.

Thuốc đang dùng điều trị cho những người bị chứng mất ngủ được

FDA khuyến cáo bao gồm chất đồng vận BzRA và melatonin (ramelteon)

(bảng 4.1), các thuốc hướng thần khác (ví dụ, thuốc chống trầm cảm an

dịu,thuốc chống loạn thần (Bảng 4.2),thuốc hỗ trợ không cần kê đơn (chủ yếu



31



chứa Diphendydramine. Bảng 4.2), và các chất khơng kiểm sốt (bổ sung chế

độ ăn uống, thảo dược. Bảng 4.2).

Bảng 1.4. Các thuốc đồng vận BzRA và melatonin (ramelteon)



Bảng 1.5. Các thuốc chống trầm cảm an dịu và chống loạn thần được

khuyến cáo sử dụng



32



Các thuốc benzodiazepine khác không được chấp thuận bởi FDA nhưng

thường dùng để điều trị mất ngủ bao gồm lorazepam, clonazepam, và

alprazolam.

Valerian (thảo dược cây nữ lang): Các chế phẩm Valerian thường được

sử dụng như là thuốc bán tự do [112], bao gồm hơn 400 chế phẩm chất chiết

xuất từ cây nữ lang (Valeriana officinalis), một trong số chúng có chứa CNS

hoạt động . Việc Phân loại FDA các chế phẩm thương mại có kết hợp với

một tỷ lệ chất này là không rõ ràng [113]. Cơ chế hoạt động của các chế phẩm

valerian chưa được biết nhưng có thể bao gồm việc ức chế sự hấp thu GABA,

ức chế hoạt động của receptor serotonin và adenosine.Có rất ít nghiên cứu

được kiểm sốt tốt về hiệu quả an dịu của valerian



33



34



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

- Bệnh nhân được chẩn đốn mất ngủ khơng thực tổn F51.0 theo tiêu

chuẩn của ICD10

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân mất ngủ thực tổn: mất ngủ liên quan đến các bệnh tại não

hoặc ngoài não

- Mất ngủ là triệu chứng thứ phát trong các rối loạn tâm thần

- Bệnh nhân và gia đình khơng đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bạch Mai và

một số cơ sở tâm thần liên kết với Bạch Mai ở Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 09/ 2017 đến tháng 3/2018

2.3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu ngang,tiến cứu,mô tả loạt bệnh

2.4. CỠ MẪU

Tính theo cơng thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể



Trong đó :

n là cỡ mẫu nghiên cứu

Z21-α/2 = 1,96 (hệ số tin cậy ở mức 95%)

P : tỷ lệ ước tính theo nghiên cứu trước đây của tác giả Ohayon khoảng 10%[3]

d : độ chính xác mong muốn 10%

Cỡ mẫu tối thiểu phải có là 35 bệnh nhân



35



2.5. PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU

Chọn mẫu theo mẫu thuận tiện

2.6. CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

2.6.1. Nhóm biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Giới:

Nam

Nữ

- Tuổi :

<18

18-29

30-44

45-59

≥ 60

- Trình độ học vấn

Mù chữ hoặc tiểu học

Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

Cao đẳng và đại học

Sau đại học

- Nghề nghiệp

Đi học

Lao động chân tay

Lao động trí óc

Khác (hưu trí, thất nghiệp...)

- Tình trạng hơn nhân

Độc thân

Sống với gia đình

Ly hơn/ly thân/góa



36



- Điều kiện kinh tế

Thiếu thốn

Đủ ăn

Dư giả

- Nơi cư trú

Thành thị

Nông thôn

2.6.2. Đặc điểm lâm sàng mất ngủ không thực tiễn

- Thời gian bị bệnh

<3 tháng

3- <6 tháng

6 tháng - < 1 năm

1-5 năm

>5 năm

- Vấn đề mất ngủ trước khi vào viện

Thời gian khởi phát đến khi nhập viện lần đầu

Số lần đi khám trước đây

Số lần nhập viện điều trị mất ngủ trước đây

Số tiền đã mất do nghỉ việc và điều trị cho tới hiện tại

- Nơi điều trị trước khi vào viện

Bệnh viện đa khoa

Bác sỹ tư đa khoa

Bác sĩ tư chuyên khoa

Tự mua thuốc

Không điều trị

- Phương pháp điều trị trước khi vào viện tâm thần lần đầu

Chống trầm cảm



37



Giải lo âu

Tư vấn tâm lý

Không rõ

- Đặc điểm dùng thuốc điều trị mất ngủ

Liên tục

Thỉnh thoảng (chỉ khi bị mất ngủ)

Không dùng

- số đêm rối loạn giấc ngủ/tuần

≤2

3-4

≥5

- Đặc điểm kiểu mất ngủ

Mất ngủ đầu giấc

Khó duy trì giấc ngủ

Mất ngủ cuối giấc

Mất ngủ hoàn toàn

- Số loại mất ngủ trên cùng một bệnh nhân

Một loại

Hai loại

Ba loại

- Chất lượng giấc ngủ

Thời gian đi vào giấc ngủ(phút)

Số lần thức dậy mỗi tối

Thời gian đi ngủ lại(phút)

Thời điểm thức dậy buổi sáng (giờ)

Thời gian của giấc ngủ/đêm

- Biểu hiện trong ngày của bệnh nhân

Mệt mỏi



38



Giảm tập trung chú ý

Cáu gắt

Hay qn

Bồn chồn/khó chịu

Hồi hộp/vã mồ hơi

Lo sợ mất ngủ

Buồn chán bi quan

Buồn ngủ ban ngày

- Chất lượng công việc trong ngày

Khơng ảnh hưởng

Có ảnh hưởng

Khơng làm được

- Điểm PSQI

0-4

5-10

11-18

2.7. KỸ THUẬT VÀ CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU

2.7.1. Kỹ thuật thu thập số liệu

- Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân và người nhà

2.7.2. Công cụ thu thập số liệu

- Bệnh án nghiên cứu được thiết kế riêng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

- Thang đánh giá chất lượng giấc ngủ PSQI

2.8. SAI SỐ VÀ CÁCH KHỐNG CHẾ

2.8.1. Sai số do chọn mẫu

- Mẫu không xác suất, mẫu thuận tiện

- Khắc phục: tất cả bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ

đều được đưa vào nghiên cứu, khơng bỏ sót đối tượng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mối quan hệ giữa mất ngủ và rối loạn tâm thần đã được xem như là vòng lẩn quẩn qua lại.Tương tác này có thể thúc đẩy một vòng tròn bệnh lý và làm phức tạp hơn nữa các nỗ lực điều trị.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×