Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Giới: Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh của nam cao hơn nữ giới và mức độ tổn thương cũng nặng nề hơn. Có thể do tác động của yếu tố hóc môn, đồng thời nam giới thường được cho là người tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ hơn như hút thuố

- Giới: Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh của nam cao hơn nữ giới và mức độ tổn thương cũng nặng nề hơn. Có thể do tác động của yếu tố hóc môn, đồng thời nam giới thường được cho là người tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ hơn như hút thuố

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



sự xơ vữa động mạch [22]. Đặc biệt khi có tăng Cholesterol có yếu tố gia đình

thì có tỷ lệ mắc bệnh ĐMCD cao gấp 5-10 lần so với người khơng có tăng

Cholesterol [22].

- Béo phì: Cũng là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với chứng xơ vữa

động mạch và bệnh ĐMCD, chất béo trong cơ thể liên quan mạnh mẽ tới các

dấu hiệu viêm tăng cao từ đó tình trạng xơ vữa động mạch được khuyếch tán

tích cực [22].

- Tăng huyết áp: Đây là một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh

ĐMCD, nó gây tăng tổn thương thành mạch do tăng áp lực thành mạch [25].

- Một số yếu tố nguy cơ khác: Như rối loạn chức năng thận, rối loạn nội

tiết, tăng Protein C phản ứng, dinh dưỡng…

1.3. Giải phẫu động mạch chi dưới

Các nhánh chính của hệ thống ĐMCD theo phân loại hệ ĐM ngoại vi

bằng vùng giải phẫu dựa theo kiểu định vị Rastchev (theo Heberet và cộng sự,

1974) [7],[26],[27],[28],[29] bao gồm: Các ĐM vùng chậu, các ĐM vùng đùi

và các ĐM vùng dưới khoeo.



Hình 1.1. Ảnh mạch máu chi dưới



8



1.3.1.Vùng chậu

1.3.1.1. Đoạn cuối động mạch chủ bụng

ĐMCB đi bên trái cột sống, đến ngang mức đốt sống thắt lưng 4-5 thì

chia ra thành hai ĐM chậu gốc phải và trái, góc chia từ 60-80 0. Thông thường

khi đối chiếu lên thành bụng chỗ chia ngang mức rốn. ĐMCB có đường kính

từ 2-2,5cm [7],[26], [27],[28],[29].

1.3.1.2. Động mạch chậu gốc:

Từ chỗ phân chia, ĐM chạy xuống dưới và sang bên một đoạn dài 5-6cm

thì chia thành hai ĐM chậu ngồi và trong. Động mạch chậu gốc không cho

nhánh bên nào và chạy sát với mặt trước xương cùng. Động mạch chậu gốc

phải bắt chéo trước TM chậu gốc phải phía trước ụ nhơ, còn ĐM chậu gốc trái

chạy phía ngồi TM chậu gốc trái. Đường kính trung bình của động mạch

chậu gốc phải là 0,89cm và trái là 0,83cm [7],[26],[27],[28],[29].

1.3.1.3. Động mạch chậu trong

Động mạch chậu trong chia ra các nhánh cung cấp máu cho các tạng ở

khung chậu và góp phần tạo nên tuần hoàn bàng hệ trong những trường hợp bị

bệnh lý[7],[26],[27], [28],[29].

1.3.1.4. Động mạch chậu ngoài

Tiếp theo ĐM chậu gốc, chạy xuyên qua tiểu khung theo hướng từ sau ra

trước đến phía sau điểm giữa dây chằng bẹn thì đổi tên thành ĐM đùi chung.

Ở đoạn cuối nó cho hai nhánh bên nhỏ là ĐM thượng vị dưới và ĐM mũ

đùi sâu. Các nhánh này tiếp nối với các nhánh của ĐM đùi. Đường kính

chung bình của ĐM chậu ngồi là 0,8cm [7],[26],[27],[28],[29].



9



Động mạch chậu gốc



Động mạch chậu ngoài



Động mạch chậu trong



Động mạch đùi chung

Động mạch đùi sâu



Động mạch đùi nơng



Hình 1.2. Ảnh mạch máu vùng chậu

1.3.2. Vùng đùi

1.3.2.1. Động mạch đùi chung

Chạy tiếp theo ĐM chậu ngồi ở phía sau điểm giữa dây chằng bẹn, đến

khoảng 4cm dưới dây chằng bẹn thì chia thành hai ĐM đùi nơng và đùi sâu.

Động mạch đi theo một cung thẳng cong vào phía trong của đầu dưới

xương đùi. Động mạch nằm giữa, TK đùi nằm ngồi và TM đùi nằm trong.

Đường kính ĐM đùi chung khoảng 0,82cm [7],[26],[27],[28],[29].

1.3.2.2. Động mạch đùi sâu

Tách từ ĐM đùi chung phía dưới dây chằng bẹn khoảng 4cm, đi tới bờ

trên cơ khép dài rồi chạy sau cơ này, trước cơ khép ngắn và cơ khép lớn.

Động mạch cấp máu cho các cơ đùi bởi hai nhánh lớn là ĐM mũ đùi trong và

ĐM mũ đùi ngoài, và các nhánh xiên.

Ở ngang mức ống cơ khép, các nhánh tận của ĐM đùi sâu nối với các

nhánh của ĐM đùi nông tạo thành THBH, điều này rất quan trọng trong tắc

ĐM đùi ở trên ống cơ khép [7],[26],[27],[28],[29].

1.3.2.3. Động mạch đùi nông

Chạy tiếp theo ĐM đùi chung ở dưới dây chằng bẹn khoảng 4cm, ĐM



10



chạy theo trục của ĐM đùi chung tới lỗ gân cơ khép thì đổi tên thành ĐM

khoeo. Đường định hướng là đường kẻ nối điểm giữa dây chằng bẹn với bờ

sau lồi cầu trong xương đùi.

Chỗ nối đùi khoeo có thể bị ép bởi vòng gân cơ khép tạo điều kiện thuận

lợi cho các mảng xơ vữa hình thành. Đường kính ĐM đùi nơng đoạn gần là

0,6cm, đoạn xa là 0,54cm [7],[26],[27],[28],[29].

1.3.2.4. Động mạch khoeo

Chạy tiếp theo ĐM đùi nông, bắt đầu từ lỗ gân cơ khép tới bờ dưới cơ

khoeo thì chia làm hai nhánh tận là ĐM chày trước và thân chày mác.

Ở khoeo ĐM nằm sâu nhất và trong nhất rồi tới TM khoeo, thần kinh

chày nằm nơng nhất và ngồi nhất. Lúc đầu ĐM nằm ở sâu theo trục lớn của

hõm khoeo, chạy chéo dần xuống dưới và ra ngoài ở đoạn 1/3 trên, và chạy

thẳng xuống dưới ở đoạn 2/3 dưới.

Ở vùng gối nó cho một số nhánh nhỏ, các nhánh này nối với nhau và nối

với các nhánh của ĐM chày trước và chày sau tạo thành vòng nối quanh khớp

gối và xương bánh chè [7],[26],[27],[28],[29].



Hình 1.3. Ảnh mạch máu vùng đùi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Giới: Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh của nam cao hơn nữ giới và mức độ tổn thương cũng nặng nề hơn. Có thể do tác động của yếu tố hóc môn, đồng thời nam giới thường được cho là người tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ hơn như hút thuố

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×