Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ở vùng gối nó cho một số nhánh nhỏ, các nhánh này nối với nhau và nối với các nhánh của ĐM chày trước và chày sau tạo thành vòng nối quanh khớp gối và xương bánh chè [7],[26],[27],[28],[29].

Ở vùng gối nó cho một số nhánh nhỏ, các nhánh này nối với nhau và nối với các nhánh của ĐM chày trước và chày sau tạo thành vòng nối quanh khớp gối và xương bánh chè [7],[26],[27],[28],[29].

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



1.3.3. Vùng dưới khoeo

1.3.3.1. Động mạch chày trước: Là một trong hai nhánh tận của ĐM khoeo,

bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo, ĐM đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng

chân trước và tiếp tục đi xuống dưới giữa các cơ vùng cẳng chân trước theo

một đường định hướng nối hõm chỏm xương mác tới điểm giữa mặt trước.

Sau khi chui qua mạc hãm các gân duỗi, ĐM đổi tên thành ĐM mu chân.

- Nhánh tận thứ hai của ĐM khoeo được gọi là thân chày mác [7],[26],

[27],[28],[29].

1.3.3.2. Động mạch chày sau: Là nhánh tận lớn nhất tách ra từ thân chày mác,

ĐM chạy xuống dưới và vào trong đi xuống qua khu cẳng chân sau theo trục

của ĐM khoeo. Đến rãnh gân cơ gấp ngón cái dài thì tận cùng bằng cách chia

làm hai nhánh tận là ĐM gan chân trong và ngoài. Động mạch chày sau nối

với ĐM chày trước và ĐM mác tạo thành vòng nối quanh mắt cá trong và

ngồi. Ngồi ra các nhánh tận của ĐM chày sau còn nối với các nhánh tận của

ĐM mu chân tạo thành cung ĐM vùng mu chân [7],[26],[27],[28],[29].

1.3.3.3. Động mạch mác: Tách ra từ thân chày mác ở 2-3cm dưới cơ khoeo,

ĐM chạy xuống dưới và ra khu cẳng chân ngoài song song với ĐM chày sau.

Tới khớp chày mác ở cổ chân động mạch tận hết bằng cách cho các nhánh tận

tới cổ chân và gót [7],[26],[27],[28],[29].



Hình 1.4. Ảnh mạch máu vùng dưới khoeo



12



1.3.4. Hệ thống vòng nối của động mạch chi dưới. Hệ thống vòng nối của

ĐM chi dưới rất đa dạng, nó có thể phát triển rất phong phú để giúp tái thơng

tuần hồn và cấp máu cho chi dưới phía hạ lưu trong trường hợp có tình trạng

hẹp, tắc ĐM phía trên.

1.3.4.1. Vòng nối giữa các nhánh bên của ĐMCB và ĐM vùng chậu: Hình

thành khi có tắc đầu xa ĐMCB hoặc tắc cả hai ĐM chậu gốc sẽ có các nhánh

tuần hoàn bên nối từ thành bụng, thành ngực, các ĐM của ruột hoặc các ĐM

thắt lưng đến các mạch vùng chậu đầu xa chỗ tắc.

1.3.4.2. Vòng nối giữa các ĐM vùng chậu và vùng đùi

- Động mạch mũ chậu sâu và mũ chậu nơng nhánh của ĐM chậu ngồi

nối với nhánh thượng vị dưới và thượng vị nông của ĐM đùi.

- Nếu ĐM đùi chung bị hẹp, tắc thì các ĐM phía hạ lưu sẽ được tái thơng

qua các vòng nối này để cấp máu cho chi dưới.

1.3.4.3. Vòng nối giữa các ĐM vùng đùi và vùng cẳng chân

- Các nhánh bên của ĐM đùi nông, ĐM đùi sâu, ĐM khoeo, ĐM chày

trước và chày sau tạo nên vòng nối quang khớp gối.

- Vùng cẳng chân sẽ được tái thơng qua vòng nối này nếu ĐM đùi nơng

và/ hoặc ĐM khoeo bị hẹp, tắc. Tuy nhiên các nhánh nối này thường nhỏ do

phát triển dưới bao khớp gối.

1.3.4.4. Vòng nối quanh cổ chân (Vòng nối quanh mắt cá trong

và mắt cá ngoài).

- Tạo nên bởi các nhánh của ĐM chày trước, chày sau, ĐM mác và ĐM mu chân.



13



Hình 1.5. Ảnh vòng nối mạch máu vùng khoeo

1.4. Sơ lược giải phẫu thành ĐM

1.4.1. Cấu tạo chung gồm có 3 lớp [30]:



Lớp áo ngồi



Lớp áo trong- nội mơ

aaammơmơmơmơ

Dòng máu



Lớp áo giữa



Hình 1.6. Ảnh cấu tạo ĐM

* Lớp áo ngồi: Là lớp cấu tạo bởi các mô liên kết cũng như Collagen và

sợi đàn hồi. Những sợi này cho phép ĐM giãn ra để ngăn chặn sự giãn nở quá

mức do áp lực tác động lên các thành mạch bởi dòng máu. Nó có tác dụng

nâng đỡ và bảo vệ mạch máu.

* Lớp áo giữa: Là lớp dày nhất của ĐM, nó bao gồm các cơ trơn và sợi

đàn hồi. Các cơ này được chi phối bởi hệ thần kinh giao cảm nên nó có thể

thay đổi đường kính của mạch máu.

* Lớp áo trong: Là lớp tế bào nội mạc tiếp xúc trực tiếp với máu, tiếp

đến là lớp cơ bản và lớp đàn hồi gọi chung là lớp đàn hồi trong.

1.4.2. Tổn thương ĐM do xơ vữa.

- Thành ĐM bị hẹp do mảng xơ vữa.



Mảng xơ vữa



Dòng máu



Lòng ĐM hẹp do

xơ vữa



14



Hình 1.7. Động mạch hẹp do xơ vữa

1.5. Ngun lý dòng chảy bình thường và trong hẹp, tắc

động mạch chi dưới

1.5.1. Dòng chảy lớp [30], [31]

- Là dòng chảy bình thường trong hầu hết các ĐM và một số tĩnh mạch

lớn. Dòng chảy này được đặc trưng bằng sự chuyển động có trật tự của các tế

bào máu theo các đường thẳng song song với thành mạch máu.

- Trong dòng chảy lớp thì đa số các tế bào máu di chuyển cùng một tốc

độ cho nên trên phổ Doppler dòng chảy lớp thể hiện là đường mảnh và có

khoảng trống phía dưới gọi là cửa sổ phổ Doppler.

- Tuy nhiên về lý thuyết thì có một lớp mỏng của máu nằm sát với thành

mạch là đứng yên do có lực dính giữa máu và mặt trong thành mạch. Càng

vào trung tâm lòng mạch, tốc độ lưu thơng của dòng máu cằng tăng dần, lớp

trung tâm chảy với tốc độ cao nhất. Vì vậy trên siêu âm Doppler màu biểu

hiện có đường đỏ đậm sát thành mạch tương ứng với tốc độ thấp và đỏ nhạt

hơn ở giữa lòng mạch tương ứng với tốc độ cao hơn.



Hình 1.8. Ảnh sơ đồ dòng chảy lớp

1.5.2. Dòng chảy rối [30], [31]

- Khi có sự thay đổi tốc độ, hướng dòng máu hoặc đường kính mạch máu,

dòng chảy lớp sẽ biến đổi thành dòng chảy rối. Khi này chuyển động của các

thành phần máu khơng còn cùng một tốc độ mà có các tốc độ khác nhau. Dòng

chảy rối thường là biểu hiện của mạch bệnh lý nhưng cũng có thể là mạch bình

thường khi các mạch ngoằn ngoèo, xoắn vặn hay gặp ở hành ĐM cảnh.



15



- Dòng chảy rối nặng thường gặp trong các trường hợp hẹp khít của lòng

mạch và càng có dòng chảy rối nhiều thì mức độ hẹp càng nặng.

- Các ĐM bị hẹp nặng, dòng rối được quan sát rõ rệt ở vùng sau hẹp.

Dòng rối xảy ra là do tia máu có tốc độ cao và năng lượng động học cao đột

ngột đi vào lòng mạch có đường kính bình thường hoặc tăng ( do giãn sau

hẹp), nơi mà cả tốc độ và mức năng lượng đều thấp hơn chỗ hẹp.



Hình 1.9. Ảnh sơ đồ dòng rối do hẹp

1.5.3. Nguyên lý của phương trình liên tục trong việc phân độ hẹp.

- Dựa trên nguyên lý Bernoulli cho chất lỏng, phương trình liên tục chỉ

ra rằng lưu lượng ở tất cả các phần liên tiếp của mạch máu là hằng định. Có

nghĩa là tốc độ dòng chảy ở những vùng có đường kính giảm phải tăng lên để

duy trì lưu lượng.

- Lưu lượng được tính theo cơng thức sau:

Q=S.V

V2- Sau hẹp

S2 -Sau hẹp



V1- Trước hẹp



S1- Trước hẹp



Sơ đồ 1.1. Ngun lý dòng chảy hẹp

Trong đó:



16



Q: Lưu lượng

S: Thiết diện mạch máu

V: Vận tốc dòng chảy

- Theo phương trình liên tục: Ta có

Q1=Q2

Nên S1.V1= S2.V2=> V1/V2=S2/S1.

- Vậy ta thấy tốc độ dòng chảy tỷ lệ nghịch với thiết diện của mạch

máu. Tỷ số tốc độ này được dùng như là cách phân độ hẹp, gọi là tỷ số tốc

độ đỉnh (PVR).

1.6. Triệu chứng lâm sàng của hẹp, tắc động mạch chi dưới:

1.6.1. Triệu chứng cơ năng: Biểu hiện thường gặp và quan trọng nhất là “cơn

đau cách hồi” với đặc điểm [15],[32],[33]:

+ Đau ở vùng bắp chân, đau thường xuất hiện khi đi bộ một đoạn đường

nhất định, đau có tính chất bó chặt chân lại như chuột rút làm bệnh nhân

không thể đi tiếp được mà phải dừng lại để nghỉ.

+ Thời gian đầu đi được quãng đường dài hơn và nghỉ ít hơn, về sau đi

được quãng đường ngắn hơn và phải nghỉ dài hơn.

+ Vị trí đau phụ thuộc vào vị trí tổn thương của ĐM, đau xuất hiện tại

hông, đùi là tổn thương tại động mạch chủ chậu, xuất hiện tại bắp chân là tổn

thương tại đùi hoặc khoeo.

- Mỏi hai chân: Thường xảy ra ở giai đoạn đầu, và thường là dấu hiệu

báo hiệu của đau cách hồi.

- Cảm giác lạnh chân: Thường chỉ có giá trị khi nó xuất hiện ở một bên

và da bên đó bị tái nhợt đi.

- Giai đoạn nặng có thể thấy loét, hoại tử chân, thường lan từ phần ngọn

là các đầu ngón chân vào bàn chân.



17



1.6.2. Triệu chứng thực thể

- Nhìn: Da chân bị nhợt nhạt ở một vùng hoặc ở bàn chân, rõ hơn khi

bệnh nhân đưa chân lên cao, giảm đi khi bệnh nhân hạ thõng xuống thấp.

Móng chân có thể bị khơ, lơng nơi đó bị rụng, có thể teo cơ. Đơi khi có thể có

những vết loét do rối loạn dinh dưỡng hay hoại tử đầu chi.

- Sờ: Thấy da chân lạnh. Phải sờ từ đầu ngón trở đi và sờ nhiều vùng.

Mạch không đập hoặc đập yếu hơn bên lành. Khi xem mạch phải kiểm tra tất

các các hệ thống mạch của chi và phải so sánh hai bên.

- Nghe: Có thể thấy tiếng thổi tại vị trí động mạch bị hẹp.

1.6.3. Phân loại lâm sàng của Leriche và Fontaine:

- Phân loại lâm sàng bệnh ĐM chi dưới của Leriche và Fontaine đến nay

vẫn còn giá trị trong việc đánh giá mức độ hẹp, tắc của động mạch chi dưới.

Các tác giả chia thành các giai đoạn [7],[15]:

Giai đoạn 1: Không đau, mạch đập yếu hoặc không thấy đập

Giai đoạn 2: Đau khi vận động gắng sức

Giai đoạn 3: Đau cả khi nghỉ ngơi

Giai đoạn 4: Đau liên tục kèm theo có loét, hoại tử.

- Trong trường hợp thiếu máu chi dưới cấp tính, lâm sàng còn được mơ

tả bằng 6 chữ P [17]: + Pain: Đau

+ Pulselessness: Mất mạch

+ Pallor: Nhợt

+ Paresthesias: Dị cảm

+ Paralysis: Mất vận động

+ Poikilothermia: Lạnh bên chi tắc mạch.

1.7. Các phương pháp CĐHA thường áp dụng trong chẩn đoán hẹp, tắc

động mạch chi dưới

Hiện nay có nhiều phương pháp được áp dụng trong chẩn đốn bệnh lý



18



bệnh ĐMCD, đặc biệt có sự phát triển mạnh mẽ của các thế hệ máy siêu âm,

chụp CLVT và cộng hưởng từ.

1.7.1. Siêu âm Triplex

1.7.1.1. Nguyên lý siêu âm Triplex

Hay còn được gọi là siêu âm Duplex - màu, là sự kết hợp cả ba kỹ thuật

trên cùng một hệ thống, bao gồm:

* Siêu âm hai chiều: Là kiểu siêu âm thơng dụng (Mode B), hình ảnh

biểu hiện trên màn hình là mặt cất cấu trúc của cơ thể. Ta có thể thấy hình ảnh

cấu trúc giải phẫu bình thường hay thay đổi bởi những âm vang của tổ chức.

* Siêu âm Doppler xung [31],[34]:

- Được tạo nên bởi hiệu ứng Doppler: Do nhà Vật lý học người Áo

Christian Doppler tìm ra vào năm 1842. Đó là sự thay đổi tần số của một

chùm sóng khi có sự dịch chuyển tương đối giữa nguồn phát và nguồn nhận.

Tần số sóng phản xạ tăng lên (so với sóng phát xạ) khi nguồn phát hoặc

nguồn nhận tiến lại gần nhau và giảm đi trong trường hợp ngược lại.

+ Công thức Δf = |Fr – Fi| = 2Fi|cosθ|.v/c



Sơ đồ 1.2. Siêu âm Doppler xung

+ Trong đó:

Δf : Sự thay đổi tần số

Fr : tần số sóng phản xạ

Fi : tần số sóng tới

c : vận tốc truyền sóng siêu âm trong mơi trường lan truyền, trong cơ



19



thể là 1540m/s.

v : vận tốc của vật chuyển động, trong thăn dò mạch máu đó là hồng cầu.

θ : góc tạo bởi chùm tia siêu âm và phương chuyển động của vật.

+ Máy siêu âm Doppler đo được Δf và vận tốc dòng chảy được tính bởi

cơng thức sau:

+ Trong thăm dò mạch máu thì góc giữa đầu do và mạch máu là một yếu

tố quan trọng, nếu góc θ là 900 thì cosθ=0, hiệu ứng Doppler khơng xảy ra. Vì

vậy đầu dò khơng được để vng góc với mạch máu, nếu góc θ là 00 thì

cosθ=1, khi đó hiệu ứng Doppler là lớn nhất. Nên khơng để đầu dò song song

với mạch máu được, mà để góc θ càng hẹp càng tốt thường để từ 30-600.

- Trong kiểu Doppler xung thì đầu dò chỉ có một tinh thể áp điện, sóng

âm được phát ra ngắt quãng được gọi là xung siêu âm, xen kẽ giữa các sung

siêu âm là thời gian nghỉ để các tinh thể gốm áp điện thu tín hiệu của các

chùm siêu âm phản hồi về.

+ Nó chỉ có tín hiệu dòng chảy ở một vùng nhất định được nghi lại, vị trí

và thể tích vùng ghi tín hiệu Doppler (còn gọi là cửa nghi Doppler) có thể

thay đổi được. Chiều dài của cửa ghi Doppler được xác định bởi thời gian thu

sóng phản hồi. Chiều rộng phụ thuộc vào kích thước của chùm siêu âm.

+ Tần số nhắc lại xung (Pulse repetition frequency- PRF) là số lần trong

một giây mà chùm siêu âm đi đến đích và quay về được tính bằng cơng thức:

P.R.F=

Trong đó:



C: Tốc độ của chùm siêu âm trong cơ thể(1540m/s)

d: Quãng đường đi của chùm siêu âm.



Ta chỉ có thể thu tốt các tín hiệu Doppler có tần số bằng hoặc thấp hơn

một nửa của PRF. Tần số này gọi là tần số Nyquist.

+ Ưu điểm của siêu âm Doppler xung: - Cho phép lựa chọn chính xác và

thay đổi kích thước vùng cần ghi tín hiệu Doppler.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ở vùng gối nó cho một số nhánh nhỏ, các nhánh này nối với nhau và nối với các nhánh của ĐM chày trước và chày sau tạo thành vòng nối quanh khớp gối và xương bánh chè [7],[26],[27],[28],[29].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×