Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Tỷ lệ song thai theo nghiên cứu của một số tác giả

Bảng 1.1: Tỷ lệ song thai theo nghiên cứu của một số tác giả

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



1989 Oleszczuk, Cerrantes, Kiely, Keith (Mỹ) [44]

2,26%

1991

1994 Kouam.L, Kamdom - Moyo.J (Pháp) [61]

1,8%

1995

1998

Wawrzycka, Haratym - Maij Orzelski (Balan)[53]

2,01%

1.4. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến song thai [2], [4], [23], [18]

1.4.1. Ngun nhân

- Song thai hai nỗn có thể do yếu tố di truyền, yếu tố gia đình, số lần sinh.

- Song thai hai nỗn còn có thể do dùng thuốc kích thích phóng nỗn

trong điều trị vơ sinh. Song thai một nỗn khơng có liên quan đến yếu tố di

truyền chủng tộc, tuổi mẹ và số lần đẻ mà thường do đột biến trong quá trình

phát triển của hợp tử.

- Song thai hai noãn gặp cao hơn song thai một noãn từ 3 - 4 lần

1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng

1.4.2.1. Tuổi thai

Những năm gần đây do sự tiến bộ của quản lý và chăm sóc thai nghén

đặc biệt là vai trò của siêu âm hình ảnh đã giúp phát hiện và xử trí sớm những

nguy cơ của song thai giúp cho tuổi thai trung bình của song thai tăng lên.

Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2001 - 2002) tỉ lệ đẻ song thai đủ tháng là:

48% [24]. Theo Nguyễn Thị Kiều Oanh (2004 - 2006) đẻ song thai đủ tháng

chiếm 49,4% [19]. Theo Buscher, Horstkamb, Wessel tỉ lệ đẻ song thai đủ

tháng là 50% [32].

1.4.2.2. Ngôi thai

Các ngôi thường gặp trong song thai nhiều nhất là hai ngôi đầu chiếm

49,6% sau đó đến ngơi đầu - mơng chiếm 37%, ngôi mông – mông chiếm

8,7% hiếm gặp nhất là hai ngơi vai chiếm 0,6% [2].

Theo Nguyễn Thị Bích Vân (1997 - 1998) [25]

- Ngôi đầu - đầu chiếm 47,9%



14



- Ngôi mông - mông 3,3%

- Ngôi đầu - mông 30,1%

- Ngôi đầu - vai 10,4%

Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2001 - 2002) [24].

- Ngôi đầu - đầu chiếm 38,5%

- Ngôi mông - mông chiếm 0,9%

- Ngôi đầu - mông chiếm 25,4%

- Ngôi đầu - vai chiếm 12,7%

Theo Nguyễn Thị Kiều Oanh (2004 - 2006) [19]

- Ngôi đầu - đầu chiếm 41,7%

- Ngôi mông - mông chiếm 9,0%

- Ngôi đầu - mông chiếm 29,4%

- Ngôi đầu - vai chiếm 11,4%

Theo Yalcin, Zorlu, Lembet (1993 - 1994) [56] nghiên cứu trên 357

trường hợp song thai có:

- Ngơi đầu - đầu chiếm 38,3%

- Ngơi đầu - không phải ngôi đầu chiếm 36%

- Thai thứ nhất không phải ngôi đầu chiếm 25,7%

Theo Wawrzycka và cộng sự (1998) [52] nghiên cứu tại Khoa sản của Bệnh

viện quận Lublin (Ba Lan) cho biết các ngôi thường gặp trong song thai là:

- Ngôi đầu - đầu chiếm 48.7%

- Ngôi đầu - không phải ngôi đầu chiếm 25.6%

- Thai thứ nhất không phải là ngôi đầu chiếm 15.4%.

1.4.2.3. Trọng lượng thai

Các trẻ đẻ song thai phần lớn là nhẹ cân, trong lượng lúc sinh thường

dưới 2500g. Theo Lê Hoàng - Nguyễn Quốc Tuấn (1995 - 1996) tỷ lệ này tại

VBV BMTSS là 40% trong tổng số đẻ song thai [11].



15



Theo Nguyễn Việt Hùng - Phan Thu Hằng (2004) tại BV Phụ sản Hà

Nội tỷ lệ này trong nhóm tuổi thai trên 37 tuần là 50% [15].

Theo Nguyễn Thị Kiều Oanh (2004 - 2006) tại BV PSTƯ tỉ lệ trẻ có trọng

lượng thai dưới 2.5kg chiếm 66.2% trong số đẻ song thai [19]. Theo Yalcin,

Zorlu (1993 - 1994) nghiên cứu tại Bệnh viên ZEKAI TAHIR, Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ lệ

trẻ có trọng lượng dưới 2500g chiếm 69% trong tổng số nghiên cứu [56].

1.4.2.4. Đặc điểm của bánh rau trong đẻ song thai [5], [15]

Có hai loại:

- Song thai một nỗn:

+ Một bánh rau chung cho cả hai thai.

+ Hệ thống tuần hồn có thể riêng biệt hoặc chung với nhau

+ Có thể có một buồng ối hoặc hai buồng ối

- Song thai hai noãn:

+ Hai bánh rau riêng biệt hoặc dính với nhau

+ Hệ tuần hồn riêng biệt

+ Ln tồn tại hai buồng ối, vách giữa hai buồng ối gồm bốn lớp (2

nội sản mạc, 2 trung sản mạc)

1.5. Sinh lý chuyển dạ

* Định nghĩa: Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý làm cho thai và phần

phụ của thai được đưa ra khỏi cơ quan sinh dục của người mẹ [5].

Một cuộc chuyển dạ đẻ thường xảy ra từ đầu tuần lễ thứ 38 (259 ngày)

đến cuối tuần lễ thứ 42 (293 ngày) trung bình là 40 tuần (280 ngày) gọi là đẻ

đủ tháng. Khi đó thai nhi đã trưởng thành và có khả năng sống độc lập bên

ngoài tử cung [16].

* Triệu chứng chuyển dạ [5]

- Cơ năng: Đau bụng, ra nhầy hồng âm đạo.

- Thực thể:



16



+ Cơn co tử cung: Là động lực của cuộc chuyển dạ, có đặc điểm:

Cơn co tử cung gây đau và xuất hiện một cách tự nhiên ngoài ý muốn

của sản phụ.

Cơn co tử cung có tính chất chu kỳ và đều đặn.

Cơn co tử cung tăng dần về cường độ, tần số và thời gian co bóp trong

q trình chuyển dạ.

Cơn co tử cung có tính chất giảm dần từ đáy tử cung đến cổ tử cung về

cường độ, tần số và thời gian co bóp.

Cơn co tử cung lan truyền theo hướng từ trên xuống dưới.

+ Xóa, mở cổ tử cung:

Xóa là hiện tượng đường kính lỗ trong cổ tử cung rộng dần ra trong khi

lỗ ngoài chưa thay đổi.

Mở: là hiện tượng lỗ ngoài cổ tử cung giãn rộng ra, từ 1 cm đến khi mở hết.

+ Thành lập đầu ối: Do cơn co tử cung làm cho màng rau ở cực dưới

chỗ cổ tử cung mở bị bong ra, nước ối dồn xuống tạo thành túi ối hay đầu ối.

+ Tầng sinh môn giãn rộng.

+ Ngôi thai cũng từ từ tụt dần xuống áp sát vào đoạn dưới làm cho ngôi

thai sát với cổ tử cung.

* Các giai đoạn của cuộc chuyển dạ đẻ [5]

- Giai đoạn 1: xoá mở cổ tử cung, từ khi bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ

đến khi cổ tử cung mở hết, chia thành 2 giai đoạn:

1a từ khi cổ tử cung xóa đến khi cổ tử cung mở 4 cm.

1b từ khi cổ tử cung mở 4 cm đến khi cổ tử cung mở hết.

- Giai đoạn 2: sổ thai, từ khi cổ tử cung mở hết đến khi đẻ thai.

- Giai đoạn 3: sổ rau, từ sau khi thai sổ hoàn toàn đến khi rau sổ ra ngoài.

* Đặc điểm của chuyển dạ song thai [5]

Chuyển dạ song thai có 1 số đặc điểm riêng như sau:



17



- Chuyển dạ kéo dài: Do tử cung quá to nên cơn co tử cung yếu làm cổ

tử cung mở chậm và chuyển dạ kéo dài dẫn đến sản phụ mệt mỏi làm tăng

nguy cơ cho thai và cho mẹ.

- Ngôi thai bất thường: Do nước ối nhiều tử cung lại to hơn bình

thường, thai thường nhỏ nên hay gặp ngơi thai bất thường như ngôi ngược,

ngôi ngang hoặc hai ngôi đầu chèn nhau.

- Sổ thai thứ hai khó khăn: Sau khi sổ thai thứ nhất, buồng tử cung trở

nên rộng rãi và làm cho thai thứ hai quay, thay đổi tư thế dễ dẫn đến tạo thành

ngôi bất thường, đặc biệt hay gặp là ngôi ngang, sa chi và sa dây rau.

- Sau khi sổ thai thứ nhất tử cung co nhỏ lại và dẫn đến bong rau và nếu

là song thai 1 bánh rau thì nguy cơ bong rau làm cho thai thứ hai có nguy cơ

bị suy chính vì vậy thai thứ hai phải đẻ trong thời gian tối đa là 15 - 20 phút

sau khi sổ thai thứ nhất.

- Trọng lượng thai của song thai thường thấp hơn đẻ một thai và phần

lớn là non tháng cho nên chăm sóc sơ sinh trong song thai phải được làm

ngay tại phòng đẻ và hết sức khẩn trương tránh bị hạ nhiệt độ do thai nhỏ.

1.6. Triệu chứng và chẩn đoán song thai [2], [4], [9], [23]

1.6.1. Chẩn đốn khi có thai

1.6.1.1. Triệu chứng cơ năng: Không đặc hiệu [4], [1]

Nghén nhiều.

Bụng to nhanh.

1.6.1.2. Triệu chứng thực thể [17], [5]

- Ba tháng đầu: không đặc hiệu, giống thai nghén thường.

- Ba tháng giữa và 3 tháng sau:

Chiều cao tử cung, vòng bụng lớn hơn so với tuổi thai.



18



Có thể sờ thấy 4 cực: hai cực đầu, hai cực mông, hoặc 3 cực: hai cực

đầu, một cực mông.

Hai ổ tim thai cách xa nhau trên 10 cm, tần số hai ổ tim thai chênh lệch

nhau trên 10 nhịp trong một phút.

1.6.2. Chẩn đoán cận lâm sàng

Siêu âm là quan trọng nhất

- Siêu âm: [4], [1]

Giúp chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân loại song thai.

Chẩn đoán phân loại song thai tốt nhất được làm ở quý I của thai kỳ,

chính xác nhất là vào tuổi thai 7 - 12 tuần, tối đa là 14 tuần.

* Siêu âm chẩn đoán song thai ở quý I [22].

- Xác định:

+ Sự sống của thai.

+ Tuổi thai.

+ Số bánh rau.

+ Số buồng ối.

+ Nghiên cứu hình thái học sớm.

+ Đo khoảng sáng sau gáy.

- Siêu âm giai đoạn tuổi thai 7 - 12 tuần có thể chẩn đốn phân loại

song thai chính xác 100%.

+ Nếu hình ảnh siêu âm thấy hai túi thai riêng biệt với đầy đủ các

thành phần nằm riêng biệt trong buồng tử cung thì chẩn đốn là song thai hai

bánh rau, hai buồng ối.

+ Nếu thấy hình ảnh một túi thai có hai phơi thì cần quan sát vách

ngăn trong túi thai [24], [23].

Vách ngăn trong túi thai mỏng: gặp trong trường hợp song thai một

bánh rau, hai buồng ối vì chỉ gồm hai lớp màng ối (2 nội sản mạc). Quan sát ở



19



vị trí phân chia hai buồng ối có thể thấy màng mỏng này, đây chính là dấu

hiệu chữ T.



Hình 1.2. Màng ngăn giữa hai thai mỏng, dấu hiệu chữ T [21].

Vách ngăn trong túi thai dày: gặp trong trường hợp song thai hai bánh

rau, hai buồng ối vì gồm 4 lớp (2 nội sản mạc, 2 trung sản mạc). Quan sát ở vị

trí phân chia hai buồng ối có thể thấy màng dày này, đây chính là dấu hiệu

Lambda (λ) hay “twin peak sign”.



Hình 1.3. Dấu hiệu Lambda hay “twin peak sign” [21]

+ Nếu khơng có vách ngăn thì đó là song thai một bánh rau, một buồng ối.

* Siêu âm chẩn đoán song thai quý II và quý III [19].



20



- Xác định:

+ Dấu hiệu hai thai cử động trong buồng ối.

+ Vách ngăn giữa hai buồng ối và bề dày của nó.

+ Số lượng bánh rau và vị trí rau bám.

+ Xác định giới tính của hai thai.

+ Số lượng ối.

+ Đánh giá trọng lượng hai thai.

- Ở tuổi thai này, chẩn đoán phân loại song thai rất khó khăn.

- Định lượng β hCG huyết thanh: Khơng đặc hiệu, thường cao hơn thai

nghén thường.

- Xquang bụng: Có thể phát hiện song thai giai đoạn muộn nhưng hiện

nay khơng dùng.

1.6.3. Chẩn đốn phân biệt [23]

- Thai to

- Một thai và đa ối

- Một thai và u nang buồng trứng

- Một thai và u xơ tử cung

- Chửa trứng

1.7. Tiên lượng và biến chứng của song thai [2], [4], [17], [18], [22]

Diễn biến của song thai thường ít khi tới đủ tháng vì nhiều biến chứng

cho mẹ và cho con [6], [25], [11].

1.7.1. Về phía mẹ

- Thiếu máu: Thiếu sắt và hồng cầu non khổng lồ do nhu cầu của thai

- Sảy thai: Thường rất sớm, khó đánh giá được nếu không xem xét kỹ

phần tổ chức được tống xuất ra

- Tiền sản giật và sản giật không rõ nguyên nhân.

- Cơn co thưa, yếu khi chuyển dạ

- Bánh rau bị kẹt lại trong tử cung



21



- Có thể phải mổ để lấy thai thứ hai khi thai thứ nhất đã đẻ đường âm

đạo mà không đủ điều kiện để nội xoay thai

- Chảy máu sau đẻ do đờ tử cung

- Có thể phải thắt động mạch tử cung hoặc cắt tử cung vì chảy máu nhiều

Theo tác giả Trần Ngọc Can tỷ lệ tử vong thường tăng gấp 3 lần so với

chửa một thai [4]. Nếu phát hiện xử trí kịp thời các biến chứng trong khi

chuyển dạ thì tiên lượng sẽ tốt hơn

- Các biến chứng thường gặp theo nghiên cứu của một số tác giả:

Theo tác giả Trần Thị Phúc (1978 - 1979) [21]

- Tiền sản giật gặp 23,4% trong song thai.

- Chảy máu sau đẻ 11%

Theo tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2003 - 2004) [10]

- Tỷ lệ tiền sản giật là 10,5%

- Tỷ lệ kiểm soát tử cung là 45% trong số đẻ song thai

- Tỷ lệ thắt động mạch tử cung trong mổ lấy thai là 1.6%

- Tỷ lệ cắt tử cung bán phần là 0.6%

Theo tác giả Nguyễn Thị Kiều Oanh (2004 - 2006) [19]

- Tỷ lệ tiền sản giật là 10,8% cao gấp 2,67 lần so với nhóm chửa 1 thai

- Tỷ lệ kiểm soát tử cung là 52,5%

- Tỷ lệ thắt động mạch tử cung trong mổ lấy thai là 2.2%

- Tỷ lệ cắt tử cung bán phần là 1.1%.

Nghiên cứu của Leszczyaska - Gurzelak, Szymczyk, Oleszczuk năm

2000 cho thấy nguy cơ tăng huyết áp tiền sản giật ở thai phụ chửa sinh đôi

cao gấp 2 - 4 lần chửa một thai [41].

Trong một nghiên cứu đa quốc gia năm 1994 tại Pháp, Đức, Bỉ, Đan

Mạch, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Hungary, Tây Ban Nha, các tác giả Blicsktein



22



và Senat đã cho biết rằng tỷ lệ tử vong mẹ trong chửa song thai cao gấp 3 lần

so với chửa một thai [31], [64].

1.7.2. Về phía con

- Đẻ non vẫn là một trong những yếu tố nguy cơ chủ yếu của song thai,

tỷ lệ đẻ non cao hơn đẻ một thai [13], [18], [23].

Biến chứng của đẻ non trong song thai cao gấp 5 lần so với một thai [56].

- Sẩy thai

- Thai chết lưu: thai bị chết trước và trong chuyển dạ (do sa dây rốn, dây

rau quấn cổ, hội chứng truyền máu, rau bong non sau khi sinh thai thứ nhất).

- Thai chậm phát triển trong tử cung.

- Chênh lệch trọng lượng thai.

- Tăng nguy cơ bệnh lý thai do hội chứng truyền máu.

* Các biến chứng con theo nghiên cứu của một số tác giả:

+ Theo nghiên cứu của Lê Hồng - Nguyễn Quốc Tuấn (1995 - 1996)

[11] Thì tỷ lệ đẻ non trong song thai chiếm 44,2%.

+ Theo tác giả Nguyễn Thị Kiều Oanh (2004 - 2006) [19] cho thấy tỷ lệ

đẻ non trong song thai chiếm 51,6%.

+ Nghiên cứu của Blondel, Kamiski (1998) cho thấy tỷ lệ đẻ non trong

song thai là 50% [59].

+ Theo tác giả Joseph, Alven, Dodd (2001) thì tỷ lệ đẻ non trong song

thai là 48,8% [38].

1.7.3. Về phía phần phụ

- Đa ối: chiếm khoảng 12% các trường hợp song thai. Đa ối cấp thường

xảy ra ở sinh đơi một nỗn hơn sinh đơi hai noãn, trong khi đa ối mạn gần

ngang nhau ở cả hai loại.

- Rau tiền đạo do diện bám của rau rộng



23



- Rau bong non

- Hội chứng truyền máu trong song thai một bánh rau hai buồng ối

1.8. Tử vong sơ sinh

Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh trong đẻ song thai chiếm 11% trong tổng

số tử vong sơ sinh và 10% tử vong chu sinh do đa thai [23] nguyên nhân

chính của tử vong sơ sinh trong đẻ song thai là do đẻ non [28].

Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh trong đẻ song thai chiếm 11% trong tổng

số tử vong sơ sinh [17], nguyên nhân chính của tử vong sơ sinh trong đẻ song

thai là do đẻ non [1].

Theo Nguyễn Thị Hạnh (2003 - 2004) thì tỷ lệ tử vong sơ sinh là 6,3% [14].

Tỷ lệ này của Nguyễn Thị Kiều Oanh (2004 - 2006) là 15,5% [15].

Của tác giả Gabilan là 8,3% [7].

Tỷ lệ tử vong sơ sinh trong đẻ song thai cao gấp 4 - 6 lần so với đẻ một

thai [8], [9], [20], [26], [18].

1.9. Thái độ xử trí khi chuyển dạ đẻ

1.9.1. Ở Việt Nam

1.9.1.1. Đỡ đẻ song thai theo phương pháp tự nhiên

Tổ chức tốt kíp đỡ đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh. Trong quá trình theo dõi

chuyển dạ đẻ phải ln theo dõi sát sao tình trạng thai phụ và thai nhi để phát

hiện sớm các biến cố và có thái độ xử trí kịp thời [4], [23].

Trong song thai cuộc chuyển dạ thường kéo dài vì cơn co thưa yếu vì

vậy nên chuẩn bị sẵn một đường truyền tĩnh mạch bằng dung dịch glucoza

5% 500ml + 5 đơn vị Oxytocin để tăng cơn co nếu cơn co giảm và để tránh

đờ tử cung sau đẻ [9], [17].

Đỡ đẻ thai thứ nhất:

Nếu thai thứ nhất là ngôi chỏm hoặc ngơi mơng thì xử trí giống như

trường hợp đỡ ngơi chỏm và ngôi mông trong đẻ một thai Sau khi thai sổ phải



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Tỷ lệ song thai theo nghiên cứu của một số tác giả

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×