Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chọc dò túi cùng Douglas

Chọc dò túi cùng Douglas

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



CNTC. Sự hiện diện của các kháng thể này có liên quan với sự giảm khả năng

sinh sản, bao gồm sảy thai sớm và CNTC sau TTTON [31].

1.2.3. Tiền sử phẫu thuật tại vùng tiểu khung và VTC

Sau phẫu thuật tạo hình VTC gây hẹp VTC, làm dày thành VTC và

giảm nhu động của VTC. Theo nghiên cứu của Boyer năm 2003 tại Pháp,

nguy cơ CNTC nhóm có tiền sử phẫu thuật thơng VTC tăng 4 lần so với

nhóm khơng có tiền sử phẫu thuật thơng VTC [30]. Theo Lavy và công sự cho

thấy các kỹ thuật can thiệp tại VTC như mở thơng, tạo hình loa VTC, gỡ dính

quanh VTC, buồng trứng đều có liên quan đến CNTC. Tiền sử phẫu thuật tại

VTC hoặc khung chậu là yếu tố nguy cơ chính gây thai ngồi tử cung sau

TTTON, với mức độ nguy cơ phụ thuộc vào mức độ thay đổi giải phẫu. Phẫu

thuật ở phần phụ nói chung làm tăng nguy cơ CNTC lên 5,42 lần, cụ thể phẫu

thuật ở buồng trứng làm tăng nguy cơ CNTC lên 2,8 lần, phẫu thuật VTC làm

tăng 7,52 lần, phẫu thuật vêm ruột thừa làm tăng 1,67 lần nguy cơ CNTC [32].

Theo nghiên cứu của Mohammed Malak, MD và cộng sự (2011) cho rằng tiền

sử phẫu thuật lạc nội mạc tử cung được cho là yếu tố nguy cơ của CNTC sau

TTTON và tỷ lệ CNTC ở những trường hợp này là 22,2% [33].

Ứ dịch VTC là ngun nhân chính của vơ sinh tại VTC và gây nên

nhiều ảnh hưởng đối với kết quả điều trị TTTON trên bênh nhân. Tỷ lệ thai

ngoài tử cung được xác định khoảng 9% bệnh nhân điều trị TTTON sau phẫu

thuật điều trị ứ dịch VTC.

1.2.4. Tiền sử CNTC

Tiền sử CNTC được xem là một yếu tố nguy cơ chính thai ngồi tử

cung trong những lần mang thai tiếp theo và mỗi lần mắc bệnh sẽ càng làm

tăng thêm nguy cơ tái phát sau này. Tỷ lệ tái phát trong khoảng 15-20% ở

những trường hợp có tiền sử thai ngoài tử cung được điều trị mổ mở VTC lấy

khối thai, phụ thuộc vào tình trạng VTC đối diện và tỷ lệ này tăng lên đến



11



32% nếu đã có tiền sử 2 lần CNTC [34]. Nguy cơ CNTC sau TTTON ở bệnh

nhân có tiền sử thai ngồi tử cung cao hơn nhiều so với vô sinh bởi các

nguyên nhân khác.

1.2.5. Cấu tạo bất thường của VTC

Bất thường về cấu tạo giải phẫu như VTC kém phát triển, quá dài hay

gấp khúc, có túi thừa, thiểu sản cũng góp phần gây CNTC. Theo nghiên cứu

của Mohammed Malak, MD và công sự (2011) cho rằng yếu tố VTC được

cho là yếu tố nguy cơ của CNTC sau IVF [33].

1.2.6. Các khối u ở trong lòng VTC hoặc bên ngồi VTC

Khối đè ép làm hẹp lòng VTC trong đó có lạc nội mạc tử cung

(LNMTC). LNMTC tại VTC làm tăng tính thụ cảm của VTC với trứng đã thụ

tinh hoặc làm mất sức đề kháng của niêm mạc VTC với sự xâm nhập của tế

bào nuôi [35], [36]. Lạc nội mạc tử cung và việc điều trị đều có liên quan với

khả năng mắc thai ngoài tử cung. LNMTC dẫn đến sự viêm dính ở khung

chậu và VTC từ đó làm ảnh hưởng đến chức năng của VTC.

1.2.7. VTC bị co thắt hay có những nhu động bất thường

Có thể làm giảm chuyển động của lông tế bào ảnh hưởng tới sự vận

chuyển của phôi. Thuốc tránh thai khẩn cấp gây co thắt đoạn eo VTC. Thuốc

tránh thai loại Progestif liều thấp uống liên tục gây ức chế co bóp VTC [36].

1.2.8. Sự bất thường của phôi

Do phôi phát triển quá nhanh trong quá trình phân bào hoặc chửa nhiều

thai nên túi thai lớn và to hơn lòng vòi nên bị giữ lại trong VTC [21].

1.2.9. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản

Kích thích phóng nỗn bằng Gonadotropin gây phóng nhiều noãn làm

tăng quá cao nồng độ estrogen gây rối loạn nhu động VTC [29], thụ tinh trong

ống nghiệm. Theo số liệu của trung tâm hỗ trợ sinh sản Canada (2008) tỷ lệ

CNTC trên các bệnh nhân được hỗ trợ sinh sản là 2%. Đối tượng HTSS là các



12



cặp vợ chồng có tiền sử vơ sinh. Những tổn thương VTC như hẹp, tắc VTC,

dính VTC, dính tiểu khung, lạc nội mạc tử cung ở các bệnh nhân vô sinh phải

sử dụng các phương pháp HTSS là nguyên nhân gây CNTC.

1.2.9.1. Thụ tinh trong ống nghiệm [37]

Mục dích: IVF là chọc hút một hay nhiều noãn đã trưởng thành từ

buồng trứng cho thụ tinh với tinh trùng người chồng đã được lọc rửa trong

phóng thí nghiệm, hiện nay chủ yếu áp dụng kỹ thuật ICSI. Sau khi trứng đã

phát triển thành phôi, chuyển phôi tốt vào BTC để phôi làm tổ và phát triển

thành thai nhi. Tỷ lệ có thai thay đổi tùy theo mỗi trung tâm.

Quá trình thụ tinh trong ống nghiệm, có thể chuyển phơi tươi hoặc phơi

đơng lạnh.



 Chỉ định

Theo James và công sự (1997) các chỉ đinh IVF gồm:

- Vô sinh do VTC: là chỉ định phổ biến nhất, tại BVPSTW, IVF do tắc

VTC chiếm 81,9%

- Vô sinh do chồng

- Lạc nội mạc tử cung

- Rối loạn chức năng buồng trứng: lý do phổ biến là do buồng trứng đa

nang. Trong số các nguyên nhân chỉ định IVF tại BVPSTW năm 2003 có

4,6% là buồng trứng đa nang.

- Vô sinh không rõ nguyên nhân: IVF được cân nhắc chỉ định cho các

trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân. Chỉ định này chiếm khoảng 5,8%

các trường hợp IVF tại BVPSTW năm 2003.

- Vô sinh do miễn dịch: do các yếu tố miễn dịch gần như ảnh hưởng

đến mọi bước trong quá trình sinh sản do phá hủy các giao tử bởi kháng thể

kháng tinh trùng hay ngăn cản sự phân chia và phát triển của phôi.



 Chống chỉ định trong TTTON



13



- Chồng hoặc vợ (người cho trứng, mang thai hộ) HIV(+)

- Vợ (người cho trứng, mang thai hộ) có các bệnh nguy hiểm đến tính

mạng khi kích thích buồng trứng hay khi có thai.

- Vợ hoặc chồng mắc bệnh lý di truyền có thể truyền cho con.







Phác đồ kích thích buồng trứng [38]

- Định nghĩa: kích thích buồng trứng trong TTTON là sử dụng các



thuốc để kích thích nhiều nang nỗn phát triển với mục đích thu được nhiều

nỗn, làm tăng tỷ lệ có thai trong chu kỳ điều trị.

- Chỉ định

+ Các trường hợp làm thụ tinh trong ống nghiệm.

- Chống chỉ định

+ Khơng có chống chỉ định.

- Tai biến và tác dung phụ

+ Quá kích buồng trứng.

+ Kích ứng lại vị trí tiêm dưới da bụng.

a) Phác đồ dài (long protocol)

- Siêu âm đánh giá buồng trứng và tử cung trước khi dung thuốc.

- Dùng agonist trong 12 ngày bắt đầu ngày 21 hoặc ngày 1 chu kỳ kinh.

- Siêu âm đánh giá buồng trứng, tử cung, định lượng FSH, LH, và

Estradiol (E2) vào ngày 12 dùng agonist.

- Nếu LH < 5 đv/l, E2 < 50 pg/l, khơng có nang buồng trứng thì chuyển

thuốc FSH.

- Nếu LH > 5, E2 > 50 pg/l thì duy trì liều agonist thêm 1 đến 2 ngày

và xét ngiệm lại. Nếu có nang cơ năng trên 15mm thì tiến hành chọc hút nang.

- Tiêm FSH dưới da, giảm liều agonist một nửa trong 9-10 ngày.

- Định lượng E2 mũi tiêm FSH thứ 7, siêu âm đo độ dày niêm mạc,

đếm và đo kích thước nang nỗn vào mũi tiêm thứ 8. Tùy thuộc kích thước

nang nỗn mà siêu âm lại hàng ngày hay cách ngày để điều chỉnh liều thuốc.



14



- Khi có ít nhất hai nang nỗn đạt kích thước 18mm và nồng độ E2

trung bình cho một nang khoảng 150 đv thì tiêm 5000 đến 10000 đv hCG.

- Lấy noãn qua đường âm đạo dưới hướng dẫn siêu âm 34-36 giờ sau

mũi tiêm hCG.

b) Phác đồ ngắn (Flare up protocol)

- Siêu âm đánh giá buồng trứng và tử cung.

- Dùng GnRH agonist ngày 2 chu kỳ kinh.

- Tiêm dưới da FSH từ ngày 3 đồng thời giảm liều agonist một nửa.

- Định lượng E2, progesterone, LH vào mũi tiêm FSH thứ 7.

- Siêu âm đo độ dày niêm mạc, đếm và đo kích thước nang nỗn vào mũi

tiêm thứ 8. Tùy thuộc kích thước nang nỗn mà siêu âm lại hàng ngày hay

cách ngày.

- Khi có ít nhất hai nang nỗn đạt kích thước 18mm và nồng độ E2 trung

bình cho một nang khoảng 150 đv thì tiêm 5000 đến 10000 đv hCG.

- Lấy noãn qua đường âm đạo dưới hướng dẫn siêu âm 34-36 giờ sau

mũi tiêm hCG.

c) Phác đồ ngắn antagonist

- Siêu âm đánh giá buồng trứng và tử cung.

- Dùng FSH tiêm dưới da từ ngày 2 chu kỳ kinh.

- Định lượng nồng độ E2 vào mũi tiêm FSH thứ 6.

- Siêu âm đếm và đo kích thước nang nỗn, độ dày niêm mạc tử cung

vào mũi tiêm FSH thứ 6.

- Khi nang vượt trội đạt 14mm thì dùng antagonist tiêm dưới da.

- Siêu âm và định lượng E2, LH cách ngày hoặc hàng ngày tùy kích

thước nang nỗn.

- Khi có ít nhất hai nang nỗn đạt kích thước 18mm và nồng độ E2 trung

bình cho một nang khoảng 150 đv thì tiêm 5000 đến 10000 đv hCG.



15



- Lấy noãn qua đường âm đạo dưới hướng dẫn siêu âm 34-36 giờ sau

mũi tiêm hCG.

 Các bước tiến hành TTTON [37]

Dùng thuốc kích thích buồng trứng để nang noãn phát triển và trưởng thành.

- Theo dõi sự phát triển và trưởng thành của các nang noãn bằng siêu

âm kết hợp định lượng estradiol huyết thanh. Điều chỉnh liều thuốc tránh các

tác dụng không mong muốn. Khi siêu âm kích thước nang nỗn ≥ 18mm, tiêm

hCG 5000-10000 đơn vị.

- Chọc hút nang noãn bằng đường âm đạo sau khi tiêm hCG 35-36 giờ.

- Thu lượm và đánh gía chất lượng nỗn

- Lọc rửa tinh trùng cùng ngày chọc hút noãn

- Hiện nay 100% làm IVF/ICSI

- Theo dõi sự thụ tinh và phát triển của phôi trong ống nghiệm. Ngày 1:

sự thụ tinh kết thúc 2 tiền noãn hòa nhập với nhau khoảng 16 giờ sau. Sự

phân cắt đầu tiên xảy ra sau khoảng 35-36 giờ. Sau ngày 2, phôi phát triển

đến giai đoạn 2-4 tế bào. Sau ngày 3, phôi phát triển đến giai đoạn 8 tế bào.

Ngày 5, phôi phát triển đến giai đoạn gồm 2 thành phần tế bào khác nhau và

một khoang chứa dịch, sự giãn nở của phơi và hiện tượng phơi thốt màng

cũng diễn ra trong giai đoạn này. Lớp màng trong suốt giúp phơi nang khơng

bám dính vào thành vòi tử cung có thể gây CNTC, khi vào tới BTC phơi thốt

màng để bám dính vào thành tử cung.

- Đánh giá chất lượng phôi. Đánh giá chất lượng phôi ngày 3 phụ thuộc

vào số tế bào, mảnh vỡ bào tương và sự đồng đều. Chất lượng phôi ngày 5

được đánh giá dựa vào độ giãn nở, nụ phôi và lá nuôi.

- Chuyển phôi tốt vào buồng tử cung sau thụ tinh 2-3 ngày, thường

chuyển 3 phôi một lần ở bệnh nhân dưới 35 tuổi và có thể chuyển tối đa 4

phơi ở bênh nhân cao tuổi hơn. Số phơi còn lại sẽ được trữ lạnh. Những



16



trường hợp bệnh nhân có quá kích buồng trứng nặng khơng chuyển được phơi

ở chu kỳ này, các phôi sẽ được trữ lạnh để chuyển vào chu kỳ tiếp sau.

Kết quả chuyển phôi phụ thuộc vào niêm mạc tử cung, chất lượng phôi

chuyển, số lượng phôi chuyển và kỹ thuật chuyển phôi.

- Theo dõi và xét nghiệm chẩn đốn thai nghén sớm sau chuyển phơi 2 tuần.

1.2.9.2. Cơ chế CNTC trong thụ tinh trong ống nghiệm

Khi chuyển phơi có thể làm tăng nguy cơ CNTC do

- Bơm với một áp lực mạnh sẽ đưa phôi vào VTC.

- Đặt phơi sát lỗ vòi tử cung-tử cung, phơi sẽ bị hút vào VTC.

- Catheter chạm vào đáy tử cung kích thích tử cung co bóp, những đợt

co bóp ngược sẽ đẩy dòng phơi vào VTC.

Sự thay đổi nội tiết trong chu kỳ có kích thích buồng trứng có thể là một

yếu tố nguy cơ tiềm tàng dẫn đến CNTC. Cơ chế gây bệnh có thể liên quan đến

sự giảm khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung, do tình trạng nội mạc và lưu

lượng máu dưới nội mạc và ngày sử dụng hCG ở những bệnh nhân thụ tinh ống

nghiệm sảy thai và thai ngoài tử cung thấp hơn rõ so với những bệnh nhân thai

làm tổ trong buồng tử cung. Kích thích buồng trứng ở bệnh nhân hội chứng

buồng trứng đa nang có nguy cơ cao thai ngồi tử cung ở chu kỳ chuyển phơi

tươi so với chuyển phơi trữ. Ở những trường hợp thai ngồi tử cung ở bệnh

nhân khơng có hội chứng buồng trứng đa nang, bệnh nhân có nồng độ E2 lớn

hơn 4085pg/ml có nguy cơ cao gấp 2 lần xuất hiện thai ngoài tử cung.

Sự tăng nồng độ progesterone ở chu kỳ kích thích có thể là một yếu tố

thuận lợi cho việc làm tổ ở nội mạc tử cung do sự giảm co bóp tử cung khi so

sánh với chu kỳ chuyển phôi trữ [27].

Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của hỗ trợ hồng thể trong

chu kỳ chuyển phơi tươi hoặc chuẩn bị nội mạc tử cung trong chu kỳ chuyển

phơi trữ với khả năng mắc thai ngồi tử cung cho kết quả khác nhau. Theo số



17



liệu tổng hợp từ các nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng đa trung

tâm, tỷ lệ CNTC I khơng có sự khác biệt khi so sánh việc hỗ trợ progesterone

trong pha hồng thể ở chu kỳ chuyển phơi tươi và chuyển phôi trữ.

Chuyển nhiều phôi được xác định làm tăng nguy cơ thai ngồi tử cung

đặc biệt chuyển từ 3 phơi trở lên.

Kỹ thuật chuyển phơi có thể cảm ứng gây co tử cung bất thường dẫn

đến sự di chuyển ngược phơi tù BTC lên VTC và làm tổ ngồi tử cung. Một

số nghiên cứu đã ghi nhận nhu động tử cung rõ ràng có những ảnh hưởng bất

lợi lên kết quả có thai lâm sàng và gây thai ngồi tử cung.

Kỹ thuật chuyển phơi có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thai ngồi tử cung do

lực đẩy phơi vào lỗ VTC bởi áp lực thủy tĩnh hoặc do chuyển phôi với thể tích

mơi trường chuyển lớn. Vị trí Catheter chuyển phôi và khoảng cách từ đáy tử

cung đến đầu catheter hoặc đến bóng khí catheter được đánh giá là một yếu tố

nguy cơ tiềm tàng làm giảm tỷ lệ mang thai hoặc gây thai ngoài tử cung. Việc

đặt catheter càng gần đáy tử cung thì phơi có nguy cơ di chuyển vào long tử

cung và nhất là khi chuyển phôi nhanh, và khi chuyển phôi vào giữa BTC.

Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây lại đưa ra kết luận vị trí chuyển phơi

<10mm và > 5mm kể từ nội mạc đáy tử cung có tỷ lệ có thai cao hơn so với

nhóm đỉnh catheter đặt xa hơn so với đáy tử cung và cũng khơng tăng nguy

cơ thai ngồi tử cung.

1.3. Một số nghiên cứu trong nước và ngoài nước

1.3.1. Nghiên cứu nước ngoài

Theo báo cáo của Clayton H.B và công sự năm 2006, tỷ lệ CNTC trên

bệnh nhân được sử dụng các phương pháp hỗ trợ sinh sản tại Mỹ từ 19992001 là 2,1%. Nhóm chuyển hợp tử vào VTC làm tăng tỷ lệ CNTC lên 3,6%,

tỷ lệ CNTC tăng lên gấp 2 lần oqr nhóm vơ sinh do tổn thương vòi tử cung,

1,3 lần ở nhóm vơ sinh do LNMTC. Tỷ lệ CNTC trên các bệnh nhân được

HTSS giảm ở nhóm bệnh nhân đã có con sống trước đó với OR 0,6 [7].



18



Năm 2008, trung tâm HTSS tại Canada, Mohammed Malak và cộng sự đã

nghiên cứu trên 385 bệnh nhân có thai sau làm IVF từ năm 2003 đến 2008, số

liệu lấy từ trung tâm sinh sản McGill ở Montreal, cho thấy có 18 trường hợp

CNTC chiếm 4,9%. Tỷ lệ CNTC ở những bệnh nhân vô sinh do VTC thay đổi từ

1,8% đến 11%. Trong nghiên cứu của Malak.M, 1/3 số bệnh nhân CNTC sau

HTSS có tiền sử vô sinh do VTC. Vô sinh do VTC là một trong những yếu tố

nguy cơ gây CNTC ở các bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm [33].

Một nghiên cứu hồi cứu của Shapiro và cộng sự năm 2012 cho thấy

chuyển phơi đơng lạnh làm giảm nguy cơ chửa ngồi tử cung so với chuyển phôi

tươi trên các bệnh nhân được HTSS, q trình kích thích buồng trứng để chuyển

phơi tươi làm tăng nguy cơ chửa ngoài tử cung do sự gia tăng quá mức của

estrogen và progesterone có thể ảnh hưởng đến nhu động của VTC [39].

Theo Acharia năm 2014, tỷ lệ chửa ngồi tử cung sau chuyển phơi đông

lạnh và phôi tươi lần lượt là 2,03% và 2,69%. Tuy nhiên sự khác biệt này

khơng có ý nghĩa thống kê [40].

Khi nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ liên quan đến CNTC ở những

bệnh nhân được HTSS tại Mỹ từ năm 2001 đến 2011, Kirans Perkins đã bó

cáo rằng tỷ lệ CNTC trên các bệnh nhân HTSS tăng tỷ lệ thuận với số lượng

phôi chuyển vào BTC. Tỷ lệ này là 1,6% khi chuyển 1 phôi,1,7% khi chuyển

2 phôi, 2,2% khi chuyển 3 phôi và 2,5% khi chuyển trên 4 phôi vào buồng tử

cung [27].

1.3.2. Nghiên cứu trong nước

Tác giả Nguyễn Xuân Huy đã nghiên cứu kết quả thụ tinh trong ống

nghiệm tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, tỷ lệ CNTC trong 483 trường hợp

thụ tinh trong ống nghiệm là 2,5% [41].

Tác giả Bùi Thị Nhẽ, nghiên cứu về đặc điểm chửa ngoài tử cung ở các

bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong

5 năm 2009-2013, tỷ lệ chửa ngoài tử cung là 4,01%. Trong số 107 trường



19



hợp CNTC sau TTTON, 78,5% trường hợp chuyển phôi tươi, 21,5% chuyển

phôi trữ lạnh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ CNTC ở nhóm

chuyển 2 phơi là 2,8%, 3 phôi là 43,9%, 4 phôi là 42,1% và 5 phôi là 11,2%.

Tỷ lệ CNTC sau TTTON ở nhóm có tổn thương tại VTC chiếm 66,4% [10].

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

- Các bệnh nhân đã điều trị thụ tinh trong ống nghiệm có thai tại Trung

tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia, bệnh viện Phụ sản Trung ương (được xác định

có nồng độ βhCG ≥ 50 mUI/l).

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

 Đối với nhóm bệnh

Các bệnh nhân chửa ngoài tử cung sau thụ tinh ống nghiệm có đầy đủ

thơng tin cần nghiên cứu trong bệnh án điều trị vơ sinh.

 Đối với nhóm chứng

- Các bệnh nhân đã điều trị thụ tinh ống nghiệm có thai trong tử cung

cùng thời điểm chuyển phơi với nhóm bệnh có đầy đủ thơng tin cần nghiên

cứu trong bênh án điều trị vơ sinh.

- Các bệnh nhân nhóm chứng được ghép cặp với bệnh nhân nhóm bệnh

về thời điểm chuyển phôi trong cùng ngày, trường hợp nếu trong cùng ngày

khơng có bệnh nhân nhóm chứng để ghép cặp thì loại bỏ.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

 Các bệnh nhân sau thụ tinh trong ống nghiệm có thai cả trong và

ngồi tử cung.

 Các bệnh nhân khơng có đầy đủ thông tin trong bệnh án phục vụ cho

nghiên cứu.



20



2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp nghiên cứu. Đối với mục tiêu

1 chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để mô tả tỷ lệ

của bệnh nhân chửa ngồi tử cung sau chuyển phơi. Đối với mục tiêu 2 chúng

tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu bệnh chứng để phân tích các yếu tố nguy

cơ gây chửa ngồi tử cung sau chuyển phôi.

2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu cho mục tiêu 1

Với tỷ lệ chửa ngoài tử cung sau chuyển phơi là 4,01% ta có p = 0,0401

[10]. Thay vào cơng thức:

p(1-p)

Δ2



n= Z21-α/2

Trong đó:

α: Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05



Z là hệ số tin cậy 95%. Với α = 0,05 thì Z21-α/2 = 1.96

Δ là khoảng sai lệch mong muốn (∆ = 0.05)

Thay vào cơng thức (1) có n = 59

Để thuận tiện cho nghiên cứu chúng tôi lấy n = 60

Xác định tỷ lệ chửa ngoài tử cung mà số bệnh nhân chửa ngồi tử cung trên

tổng số bệnh nhân có thai sau chuyển phôi trong cùng một khoảng thời gian.

 Cỡ mẫu cho mục tiêu 2

)

Theo nghiên cứu của Mohamed Malak và cộng sự (2011) thì có 2 yếu tố

nguy cơ gây chửa ngồi tử cung sau chuyển phơi: yếu tố vòi tử cung và tiền

sử phẫu thuật lạc nội mạc tử cung [13].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chọc dò túi cùng Douglas

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×