Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.7: Tỷ lệ các nhóm bệnh Tai, mũi xoang, họng, thanh quản, khối u

Bảng 3.7: Tỷ lệ các nhóm bệnh Tai, mũi xoang, họng, thanh quản, khối u

Tải bản đầy đủ - 0trang

35



Nhận xét: Qua các ý kiến ở trên cho thấy bệnh tai mũi họng rất thường gặp ở

học sinh tiểu học. Tuy nhiên mức độ không nặng nề, học sinh ít phải nghỉ học

để điều trị do mắc bệnh TMH. Các em học sinh tiểu học còn thiếu kiến thức

về vệ sinh phòng bệnh TMH



36



3.3. Một sớ yếu tớ liên quan đến bệnh tai mũi họng ở học sinh tiểu học tại

thành phớ Bắc Giang

3.3.1. Nhóm yếu tố về kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện mơi trường

Bảng 3.8. Sự liên quan của bệnh TMH với độ tuổi

Độ tuổi

6

7

8

9

10

Tổng



Có bệnh

SL

%

53

52,0

54

54,0

58

58,0

48

45,3

52

56,5

265

53,0



Khơng bệnh

SL

%

49

48,0

46

46,0

42

42,0

58

54,7

40

43,5

235

47,0



Tổng sớ

SL

%

102

100

100

100

100

100

106

100

92

100

500

100



p



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với độ tuổi của học sinh

tiểu học (p > 0,05).

Bảng 3.9. Sự liên quan của bệnh TMH với giới tính

Giới tính

Nam

Nữ

Tổng số



Có bệnh

SL

%

155

60,1

110

45,5

265

53,0



Khơng bệnh

SL

%

103

39,9

132

54,5

235

47,0



Tổng sớ

SL

%

258

100

242

100

500

100



p

<0,05



Nhận xét: Có mối liên quan của bệnh TMH với giới tính, học sinh nam mắc

bệnh TMH (60,%) nhiều hơn học sinh nữ (45,5%); (p < 0,05).



37



Bảng 3.10. Mối liên quan môi trường học tập tại nhà

với bệnh tai mũi họng

Góc học tập



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



tại nhà

Khơng thống mát



SL

01



%

100



SL

0



%

0,0



SL

1



%

100



Thống mát



264



51,9



235



48,1



499



100



Tổng số



265



57,0



235



47,0



500



p



>0,05



Nhận xét: Hầu hết các em đều có góc học tập; Khơng có mối liên quan của

bệnh TMH với môi trường học tập tại nhà (p> 0,05)

Bảng 3.11. Tìm hiểu sự liên quan của bệnh tai mũi họng của trẻ với

nghề nghiệp của bố me

Nghề nghiệp



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



Cán bộ, viên chức



112



54,4



94



45,6



206



100



Cơng nhân



56



51,4



53



48,6



109



100



Nơng dân



43



50,0



43



50,0



86



100



Nội trợ



3



42,9



4



57,1



7



100



Khác



51



55,4



41



44,6



92



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



của bớ me



p



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với nghề nghiệp của bố

me (p> 0,05).



38



Bảng 3.12. Yếu tố mắc bệnh TMH theo ảnh hưởng của khói thuốc lá do

người thân hút

Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



Trong nhà có người

hút th́c



SL



%



SL



%



SL



%



Có hút thuốc



159



56.2



124



43,8



283



100



Khơng hút



106



48,8



111



51,2



217



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



p



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với ảnh hưởng của khói

thuốc lá do người thân hút (p> 0,05).

Bảng 3.13. Sự liên quan của bệnh TMH với ni chó/mèo



Ni chó, mèo

Có ni



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ

p



SL



%



SL



%



SL



%



114



53,3



92



44,7



206



100

>0,05



Khơng ni



151



51,4



143



48,6



294



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với ni chó, mèo

(p> 0,05).



39



Bảng 3.14. Sự liên quan của bệnh TMH với nuôi gia cầm



Nhà có ni gia cầm

Có ni



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ

p



SL



%



SL



%



SL



%



66



53,2



58



46,8



124



100

>0,05



Khơng ni



177



52,9



199



47,2



376



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với việc nuôi gia cầm

(p> 0,05).

Bảng 3.15. Sự liên quan của bệnh TMH với chăn ni gia súc



Nhà có ni

gia súc

Có ni



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



42



60,9



27



39,1



69



100



p



>0,05

Khơng ni



223



51,7



208



48,3



431



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với việc nuôi gia súc

(p> 0,05).



40



3.3.2. Nhóm yếu tố hành vi

Bảng 3.16. Sự liên quan của bệnh TMH với hành vi vệ sinh mũi bằng nước

muối sinh lý

Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



Vệ sinh mũi bằng

nước muối sinh lý



SL



%



SL



%



SL



%



Không thường xuyên,



215



55,3



174



44,7



389



100



p



<0,05



không bao giờ

Thường xuyên



50



45,0



61



55,0



111



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Đối tượng học sinh vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý mắc bệnh

TMH (45%) ít hơn học sinh khơng vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý

(55,3%); (p < 0,05)

Bảng 3.17. Tìm hiểu sự liên quan của bệnh TMH với hành vi vệ sinh họng

bằng nước muối sinh lý

Có bệnh



Không bệnh



Tổng số



Vệ sinh họng bằng

nước muối sinh lý



SL



%



SL



%



SL



%



Không thường xuyên,



196



55,5



157



44,5



353



100



p



<0,05



không bao giờ

Thường xuyên



69



46,9



78



53,1



147



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Đối tượng học sinh vệ sinh họng bằng nước muối sinh lý mắc bệnh

TMH (46,9%) ít hơn học sinh khơng vệ sinh họng bằng nước muối sinh lý

(55,5%); (p < 0,05).

Bảng 3.18. Sự liên quan của bệnh TMH với thói quen uống nước lạnh



41



Thói quen ́ng



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



Khơng bao giờ



208



51,2



198



48,8



406



100



Thường xun, thinh



57



60,6



37



39,4



94



100



thoảng

Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



nước lạnh



p



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với thói quen uống nước

lạnh thường xuyên p > 0,05).

Bảng 3.19. Sự liên quan của bệnh TMH với thói quen giữ ấm về mùa lạnh

Thói quen giữ ấm về



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng số



mùa lạnh



SL



%



SL



%



SL



%



Không bao giờ,



38



49,4



39



50,6



77



100



p



>0,05



không thường xuyên

Thường xuyên



227



53,7



196



46,3



423



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với thói quen giữ ấm về

mùa lạnh (p> 0,05).



Hộp 3.2. Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm về các yếu tố liên quan đến

bệnh TMH



42



“….Theo tôi việc vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng súc họng và rỏ mũi

bằng nước muối là rất tốt, Đặc biệt dung dịch nước muối xịt rửa mũi họng

được các nhà thuốc bán rộng rãi, với nhiều sản phẩm và giá cả rất phổ thông,

sử dụng dễ dàng thuận tiện, được nhiều người sử dụng”.

Bà Nguyễn Thị Hằng N, Cán bộ y tế trường tiểu học Lê Hồng Phong

“….Điều kiện vệ sinh của trường tương đối tốt, phòng học sạch sẽ

thống mát me, phòng vệ sinh tương đối rộng và sạch sẽ.

... Tôi thấy nhiều các bạn trai có thói quen thường xuyên ăn kem, uống nước

giải khát có đá lạnh ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe dễ gây viêm nhiễm tai mũi

họng. Các em còn nhỏ còn thiếu kiến thức về vệ sinh phòng bệnh nói chung và

ý thức về phòng bệnh TMH nói riêng, cho nêm sự giáo dục của nhà trường và

sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ là rất quan trọng.”

Bà Nguyễn Thị N, Cán bộ y tế trường tiểu học Song Mai



Nhận xét: Qua các ý kiến trên đây cho thấy các em học sinh tiểu học còn nhỏ,

thiếu kiến thức về vệ sinh phòng bệnh nói chung và ý thức về phòng bệnh

TMH nói riêng. Điều kiện vệ sinh của các trường tương đối tốt, phòng học

sạch sẽ thống mát, phòng vệ sinh tương đối sạch sẽ…



43



3.3.3. Nhóm yếu tố tiếp cận các dịch vụ y tế

Bảng 3.20. Sự liên quan của bệnh TMH với việc được GDSK về phòng

bệnh TMH tại gia đình

Được GDSK về

phòng bệnh TMH

tại gia đình



SL



%



SL



%



SL



%



Khơng thường xun



90



53,6



78



46,4



168



100



Thường xun



175



52,7



157



47,3



332



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



p



>0.05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với việc được GDSK về

phòng bệnh TMH tại gia đình. (p> 0,05).

Bảng 3.21. Mối liên quan của bệnh TMH với hành vi đưa trẻ đi khám bệnh khi trẻ bị các biểu hiện bệnh mũi họng



Hành vi thường

xun đưa trẻ đi

khám bệnh



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



8



80,0



2



20,0



10



100



Có đi khám bệnh



257



52,4



233



47,6



490



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Khơng đi khám



p



>0.05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với hành vi đưa trẻ đi

khám bệnh khi trẻ bị các biểu hiện bệnh mũi họng. (p> 0,05).

Hộp 3.3. Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm về tiếp cận các dịch vụ y tế

của học sinh



44



“….Học sinh khi bị bệnh TMH ít khi sử dụng dịch vụ của y tế trường

học. Thường các cháu bị sốt cao, ho mệt mỏi được cán bộ YTTH cho uống

hạ sốt, sau đó thơng báo cho gia đình đưa tre đi khám tại các cơ sở y tế.

Theo tôi việc giáo dục truyền thông kiến thức vệ sinh phòng bệnh TMH nói

riêng, giáo dục sức khỏe nói chung cho học sinh tại nhà trường là cần

thiết. Tuy nhiên thực tế chưa triển khai được nhiều, phần lớn do các cô chủ

nhiệm nhắc nhở chỉ dẫn các em trong giờ sinh hoạt lớp dựa theo chuyên

môn kết hợp với kinh nghiệm và sự hiểu biết của mỗi người. Các em còn

nhỏ, y thức phòng bệnh bảo vệ sức khỏe của các em chưa cao, cho nên rất

cần sự chỉ bảo của bố mẹ và thày cô giáo….”

Bà Hoàng Thị N, Cán bộ YTTH trường tiểu học Võ Thị Sáu

“…Hàng năm nhà trường đều tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho

học sinh 1 lần. Tuy nhiên phòng giáo dục nên phối hợp với trung tâm Y tế

thành lập đoàn khám gồm các chuyên khoa theo yêu cầu chuyên môn…

để đảm bảo chất lượng khám sức khỏe cho học sinh.”

Bà Hoàng Thị T, Hiệu trưởng trường tiểu học Song Mai



Nhận xét: Học sinh khi bị bệnh TMH ít khi sử dụng dịch vụ của y tế trường

học. Hầu hết các gia đình đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế để điều trị.



3.4. Kết quả NC định tính về một sớ ý kiến nâng cao chất lượng hoạt

động YTTH, phòng chớng bệnh TMH



45



Hộp 3.4. Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm về nâng cao chất lượng

hoạt động YTTH và phòng chống bệnh TMH cho học sinh tiểu học

“….Theo tơi việc nâng cao kỹ năng, trình độ cho cán bộ y tế trường học về công

tác YTTH và phòng bệnh TMH bằng các lớp tập huấn hàng năm của Trung tâm

y tế thành phố và sự phối hợp của các bệnh viện trên địa bàn là cần thiết. Hàng

năm TTYT dự phòng Thành phố phối hợp với phòng giáo dục đào tạo tởng kết

đánh giá kết quả của hoạt động Y tế trường học để giúp cho cán bộ YTTH nâng

cao năng lực chuyên môn và kỹ năng hoạt động, Có như vậy cơng tác YTTH mới

thực sự trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Ngồi ra phòng giáo dục lên kế

hoạch phối hợp với TTYT dự phòng, với TT tuyên truyển giáo dục sức khỏe và

các bệnh viện trong thành phố nói chuyện chuyên đề VSTH để tuyên truyền giáo

dục sức khỏe nói chung và về phòng bệnh TMH nói riêng cho học sinh tiểu học.

Nhà trường mong được sự quan tâm của ngành giáo dục và ngành y tế để nâng

cao năng lực và hiệu quả hoạt động của YTTH, góp phần bảo vệ và nâng cao

sức khỏe học sinh…”

Bà Hoàng Quỳnh L, Cán bộ phụ trách YTTH của phòng giáo duc đào tạo

“……Cán bộ YTTH hầu hết là điều dưỡng và y sỹ đa khoa khơng có chun mơn

sâu về chun khoa TMH cho nên việc khám bệnh và tư vấn CSSK về TMH còn

hạn chế. Bởi vậy việc nâng cao kỹ năng, trình độ cho cán bộ y tế trường học về

cơng tác YTTH và phòng bệnh TMH bằng các lớp tập huấn hàng năm của tuyến

trên là rất cần thiết. Nên trang bị cho YTTH Đèn Clar và bộ dụng cụ đơn giản để

khám TMH thơng thường.”

Bà Hồng Thị N, Cán bộ YTTH trường tiểu học Võ Thị Sáu

Nhận xét: Qua các ý kiến trên đây cho thấy việc nâng cao kỹ năng, trình độ

cho cán bộ y tế trường học về cơng tác YTTH và phòng bệnh TMH bằng cung

cấp tài liệu và qua các lớp tập huấn là cần thiết. Cần triển khai thêm các nội

dung giáo dục, truyền thơng phòng chống bênh TMH trong nhà trường

Chương 4: BÀN LUẬN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.7: Tỷ lệ các nhóm bệnh Tai, mũi xoang, họng, thanh quản, khối u

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×