Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
nghề nghiệp của bố mẹ

nghề nghiệp của bố mẹ

Tải bản đầy đủ - 0trang

38



Bảng 3.12. Yếu tố mắc bệnh TMH theo ảnh hưởng của khói thuốc lá do

người thân hút

Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



Trong nhà có người

hút th́c



SL



%



SL



%



SL



%



Có hút thuốc



159



56.2



124



43,8



283



100



Khơng hút



106



48,8



111



51,2



217



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



p



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với ảnh hưởng của khói

thuốc lá do người thân hút (p> 0,05).

Bảng 3.13. Sự liên quan của bệnh TMH với ni chó/mèo



Ni chó, mèo

Có ni



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ

p



SL



%



SL



%



SL



%



114



53,3



92



44,7



206



100

>0,05



Khơng ni



151



51,4



143



48,6



294



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với ni chó, mèo

(p> 0,05).



39



Bảng 3.14. Sự liên quan của bệnh TMH với nuôi gia cầm



Nhà có ni gia cầm

Có ni



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ

p



SL



%



SL



%



SL



%



66



53,2



58



46,8



124



100

>0,05



Khơng ni



177



52,9



199



47,2



376



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với việc nuôi gia cầm

(p> 0,05).

Bảng 3.15. Sự liên quan của bệnh TMH với chăn ni gia súc



Nhà có ni

gia súc

Có ni



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



42



60,9



27



39,1



69



100



p



>0,05

Khơng ni



223



51,7



208



48,3



431



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với việc ni gia súc

(p> 0,05).



40



3.3.2. Nhóm yếu tố hành vi

Bảng 3.16. Sự liên quan của bệnh TMH với hành vi vệ sinh mũi bằng nước

muối sinh lý

Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



Vệ sinh mũi bằng

nước muối sinh lý



SL



%



SL



%



SL



%



Không thường xuyên,



215



55,3



174



44,7



389



100



p



<0,05



không bao giờ

Thường xuyên



50



45,0



61



55,0



111



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Đối tượng học sinh vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý mắc bệnh

TMH (45%) ít hơn học sinh không vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý

(55,3%); (p < 0,05)

Bảng 3.17. Tìm hiểu sự liên quan của bệnh TMH với hành vi vệ sinh họng

bằng nước muối sinh lý

Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



Vệ sinh họng bằng

nước ḿi sinh lý



SL



%



SL



%



SL



%



Khơng thường xuyên,



196



55,5



157



44,5



353



100



p



<0,05



không bao giờ

Thường xuyên



69



46,9



78



53,1



147



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Đối tượng học sinh vệ sinh họng bằng nước muối sinh lý mắc bệnh

TMH (46,9%) ít hơn học sinh khơng vệ sinh họng bằng nước muối sinh lý

(55,5%); (p < 0,05).

Bảng 3.18. Sự liên quan của bệnh TMH với thói quen uống nước lạnh



41



Thói quen ́ng



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



Khơng bao giờ



208



51,2



198



48,8



406



100



Thường xun, thinh



57



60,6



37



39,4



94



100



thoảng

Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



nước lạnh



p



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với thói quen uống nước

lạnh thường xuyên p > 0,05).

Bảng 3.19. Sự liên quan của bệnh TMH với thói quen giữ ấm về mùa lạnh

Thói quen giữ ấm về



Có bệnh



Không bệnh



Tổng số



mùa lạnh



SL



%



SL



%



SL



%



Không bao giờ,



38



49,4



39



50,6



77



100



p



>0,05



không thường xuyên

Thường xuyên



227



53,7



196



46,3



423



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với thói quen giữ ấm về

mùa lạnh (p> 0,05).



Hộp 3.2. Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm về các yếu tố liên quan đến

bệnh TMH



42



“….Theo tôi việc vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng súc họng và rỏ mũi

bằng nước muối là rất tốt, Đặc biệt dung dịch nước muối xịt rửa mũi họng

được các nhà thuốc bán rộng rãi, với nhiều sản phẩm và giá cả rất phổ thông,

sử dụng dễ dàng thuận tiện, được nhiều người sử dụng”.

Bà Nguyễn Thị Hằng N, Cán bộ y tế trường tiểu học Lê Hồng Phong

“….Điều kiện vệ sinh của trường tương đối tốt, phòng học sạch sẽ

thống mát me, phòng vệ sinh tương đối rộng và sạch sẽ.

... Tôi thấy nhiều các bạn trai có thói quen thường xuyên ăn kem, uống nước

giải khát có đá lạnh ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe dễ gây viêm nhiễm tai mũi

họng. Các em còn nhỏ còn thiếu kiến thức về vệ sinh phòng bệnh nói chung và

ý thức về phòng bệnh TMH nói riêng, cho nêm sự giáo dục của nhà trường và

sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ là rất quan trọng.”

Bà Nguyễn Thị N, Cán bộ y tế trường tiểu học Song Mai



Nhận xét: Qua các ý kiến trên đây cho thấy các em học sinh tiểu học còn nhỏ,

thiếu kiến thức về vệ sinh phòng bệnh nói chung và ý thức về phòng bệnh

TMH nói riêng. Điều kiện vệ sinh của các trường tương đối tốt, phòng học

sạch sẽ thống mát, phòng vệ sinh tương đối sạch sẽ…



43



3.3.3. Nhóm yếu tố tiếp cận các dịch vụ y tế

Bảng 3.20. Sự liên quan của bệnh TMH với việc được GDSK về phòng

bệnh TMH tại gia đình

Được GDSK về

phòng bệnh TMH

tại gia đình



SL



%



SL



%



SL



%



Khơng thường xun



90



53,6



78



46,4



168



100



Thường xun



175



52,7



157



47,3



332



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



p



>0.05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với việc được GDSK về

phòng bệnh TMH tại gia đình. (p> 0,05).

Bảng 3.21. Mối liên quan của bệnh TMH với hành vi đưa trẻ đi khám bệnh khi trẻ bị các biểu hiện bệnh mũi họng



Hành vi thường

xuyên đưa trẻ đi

khám bệnh



Có bệnh



Khơng bệnh



Tổng sớ



SL



%



SL



%



SL



%



8



80,0



2



20,0



10



100



Có đi khám bệnh



257



52,4



233



47,6



490



100



Tổng số



265



53,0



235



47,0



500



100



Khơng đi khám



p



>0.05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan của bệnh TMH với hành vi đưa trẻ đi

khám bệnh khi trẻ bị các biểu hiện bệnh mũi họng. (p> 0,05).

Hộp 3.3. Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm về tiếp cận các dịch vụ y tế

của học sinh



44



“….Học sinh khi bị bệnh TMH ít khi sử dụng dịch vụ của y tế trường

học. Thường các cháu bị sốt cao, ho mệt mỏi được cán bộ YTTH cho uống

hạ sốt, sau đó thơng báo cho gia đình đưa tre đi khám tại các cơ sở y tế.

Theo tôi việc giáo dục truyền thông kiến thức vệ sinh phòng bệnh TMH nói

riêng, giáo dục sức khỏe nói chung cho học sinh tại nhà trường là cần

thiết. Tuy nhiên thực tế chưa triển khai được nhiều, phần lớn do các cô chủ

nhiệm nhắc nhở chỉ dẫn các em trong giờ sinh hoạt lớp dựa theo chuyên

môn kết hợp với kinh nghiệm và sự hiểu biết của mỡi người. Các em còn

nhỏ, y thức phòng bệnh bảo vệ sức khỏe của các em chưa cao, cho nên rất

cần sự chỉ bảo của bố mẹ và thày cô giáo….”

Bà Hoàng Thị N, Cán bộ YTTH trường tiểu học Võ Thị Sáu

“…Hàng năm nhà trường đều tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho

học sinh 1 lần. Tuy nhiên phòng giáo dục nên phối hợp với trung tâm Y tế

thành lập đoàn khám gồm các chuyên khoa theo yêu cầu chuyên môn…

để đảm bảo chất lượng khám sức khỏe cho học sinh.”

Bà Hoàng Thị T, Hiệu trưởng trường tiểu học Song Mai



Nhận xét: Học sinh khi bị bệnh TMH ít khi sử dụng dịch vụ của y tế trường

học. Hầu hết các gia đình đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế để điều trị.



3.4. Kết quả NC định tính về một sớ ý kiến nâng cao chất lượng hoạt

động YTTH, phòng chớng bệnh TMH



45



Hộp 3.4. Kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm về nâng cao chất lượng

hoạt động YTTH và phòng chống bệnh TMH cho học sinh tiểu học

“….Theo tôi việc nâng cao kỹ năng, trình độ cho cán bộ y tế trường học về cơng

tác YTTH và phòng bệnh TMH bằng các lớp tập huấn hàng năm của Trung tâm

y tế thành phố và sự phối hợp của các bệnh viện trên địa bàn là cần thiết. Hàng

năm TTYT dự phòng Thành phố phối hợp với phòng giáo dục đào tạo tởng kết

đánh giá kết quả của hoạt động Y tế trường học để giúp cho cán bộ YTTH nâng

cao năng lực chuyên môn và kỹ năng hoạt động, Có như vậy cơng tác YTTH mới

thực sự trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Ngồi ra phòng giáo dục lên kế

hoạch phối hợp với TTYT dự phòng, với TT tuyên truyển giáo dục sức khỏe và

các bệnh viện trong thành phố nói chuyện chuyên đề VSTH để tuyên truyền giáo

dục sức khỏe nói chung và về phòng bệnh TMH nói riêng cho học sinh tiểu học.

Nhà trường mong được sự quan tâm của ngành giáo dục và ngành y tế để nâng

cao năng lực và hiệu quả hoạt động của YTTH, góp phần bảo vệ và nâng cao

sức khỏe học sinh…”

Bà Hoàng Quỳnh L, Cán bộ phụ trách YTTH của phòng giáo duc đào tạo

“……Cán bộ YTTH hầu hết là điều dưỡng và y sỹ đa khoa khơng có chun mơn

sâu về chun khoa TMH cho nên việc khám bệnh và tư vấn CSSK về TMH còn

hạn chế. Bởi vậy việc nâng cao kỹ năng, trình độ cho cán bộ y tế trường học về

cơng tác YTTH và phòng bệnh TMH bằng các lớp tập huấn hàng năm của tuyến

trên là rất cần thiết. Nên trang bị cho YTTH Đèn Clar và bộ dụng cụ đơn giản để

khám TMH thơng thường.”

Bà Hồng Thị N, Cán bộ YTTH trường tiểu học Võ Thị Sáu

Nhận xét: Qua các ý kiến trên đây cho thấy việc nâng cao kỹ năng, trình độ

cho cán bộ y tế trường học về cơng tác YTTH và phòng bệnh TMH bằng cung

cấp tài liệu và qua các lớp tập huấn là cần thiết. Cần triển khai thêm các nội

dung giáo dục, truyền thơng phòng chống bênh TMH trong nhà trường

Chương 4: BÀN LUẬN



46



4.1. Thực trạng bệnh tai mũi họng ở học sinh tiểu học thành phố Bắc Giang

4.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Trên biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ học sinh nam trong nhóm nghiên cứu là

51,6%, nhiều hơn tỷ lệ học sinh nữ là 48,4%. Vì học sinh tiểu học là đối

tượng được phổ cập giáo dục, do vậy tỷ lệ nam nhiều hơn nữ ở đây nó cũng

phản ánh đúng với tỷ lệ sinh giưa nam và nữ hiện nay tại Việt nam nói chung

và tại tỉnh Bắc Giang nõi riêng. Tỷ lệ này cũng phù hợp với kết quả nghiên

cứu về bệnh TMH của Trần Duy Ninh và cs (2013) trên đối tượng học sinh

tiểu học với tỷ lệ trẻ nam (50,9%) nhiều hơn nữ (49,1%) [7]. Tuy nhiên trong

kết quả nghiên cứu về bệnh TMH của Arup Sen Gupta năm 2012 tại Ấn Độ

cho thấy tỷ lệ trẻ nam là 48,36% ít hơn trẻ nữ là 51,64% [30].

Kết quả bảng 3.1 về đối tượng nghiên cứu xếp theo nghề nghiệp của bố

me cho thấy phụ huynh có nghề nghiệp là cán bộ viên chức chiểm tỷ lệ cao

nhất đến 41,2%, bố me là công nhân chiếm 21,8%, nghề nghiệp khác 18,4%,

là nông dân chiếm 17,2%, làm việc nội trợ ít nhất chiếm 1,4%.

Qua số liệu nghề nghiệp của bố và me của học sinh trong nhóm nghiên

cứu cho thấy tỷ lệ phụ huynh có nghề nghiệp chủ yếu là cán bộ viên chức và

công nhân với chiếm đến 63%, ngoài ra là nghề kinh doanh và làm nông

nghiệp. Bức tranh nghề nghiệp cho thấy mặt bằng dân trí của phụ huynh tại

các trường nghiên cứu tương đối cao, thuộc tầng lớp có thu nhập khá và ổn

định so với mặt bằng xã hội. Vì vậy trình độ nhận thức và mức độ quan tâm

giáo dục con cái cũng như sự đầu tư, quan tâm đến chăm sóc sức khỏe của

con em mình sẽ tốt hơn.



4.1.2. Thực trạng bệnh tai mũi họng ở học sinh tiểu học thành phố Bắc Giang



47



Kết quả bảng 3.3. cho thấy tỷ lệ học sinh mắc bệnh tai mũi họng chung

tương đối cao (53%); học sinh trường tiểu học Song Mai có tỷ lệ mắc bệnh

TMH cao nhất( 64,2%), sau đó đến trường tiểu học Võ Thị Sáu (52,4%),

trường tiểu học Tân Mỹ (49,2%) và trường tiểu học Lê Hồng Phong (46,1%)

Như vậy tỷ lệ mắc bệnh TMH của học sinh tiểu học trong mẫu nghiên

cứu của chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu của Chu Thị Hoài cho tỷ lệ

bệnh TMH chung là 68,4% [9]; cũng thấp hơn kết quả nghiên cứu của Trần

Duy Ninh năm 2013 trên học sinh tiểu học tại TP. Thái Nguyên (65%) [7].

Tuy nhiên sự khác biệt này không lớn, vẫn tương đồng với tỷ lệ mắc bệnh

TMH ở Trường Song Mai (64,2%). Có nhiều nguyên nhân tác động đến vấn

đề này, khả năng về vấn đề môi trường và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến

bệnh TMH của học sinh tiểu học ở hai địa điểm này khác nhau, hơn nữa thời

gian nghiên cứu cũng khác nhau.

Tỷ lệ mắc bệnh TMH của học sinh tiểu học thành phố Bắc Giang cao

hơn so với kết quả nghiên cứu của Viral Shah và cs (2014) về bệnh TMH ở

học sinh từ 5 - 14 tuổi thuộc 6 trường công lập huyện Jamnagar, Ấn Độ cho tỷ

lệ bệnh TMH chung là 46,6% [52]. Như vậy, tỷ lệ mắc bệnh TMH ở học sinh

tiểu học thành phố Bắc Giang đang ở mức trung bình so với một số nghiên

cứu. Tuy nhiên qua kết quả trên cho thấy tỷ lệ bệnh TMH ở học sinh tiểu học

vẫn còn chiếm tỷ lệ rất cao, vẫn là con số đáng kể trong cộng đồng so với các

bệnh lý chun khoa khác. Vì vậy rất cần có những nghiên cứu tiếp theo và có

những biện pháp phòng bệnh và kiểm soát bệnh TMH ở học sinh nhằm nâng

cao sức khỏe cũng như chất lượng học tập cho các em.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thể hiện trên bảng 3.3. cho thấy tỷ lệ

mắc bệnh về họng và amydan chiếm tỷ lệ cao nhất (33,6%), tiếp đến là bệnh

lý tai (8,8%), bệnh mũi xoang (8%) và thấp nhất là bệnh rò khe mang (0,2 %).

Như vậy bệnh về họng và Amidan vẫn là bệnh phổ biến ở đối tượng này [3].



48



Kết quả nghiên cứu về các nhóm bệnh TMH thể hiện trên bảng 3.8 cho

thấy tỷ lệ học sinh mắc bệnh về họng và amydan cao nhất (56,4%); sau đó

đến bệnh tai 21%, bệnh mũi xoang 17,9%, bệnh thanh quản 3,4%. Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phùng Minh

Lương với tỷ lệ bệnh TMH chung là 58,9%. Tuy nhiên tỷ lệ một số nhóm

bệnh khác lại thấp kết quả NC của tác giả này: viêm tai giữa 31,92%; viêm

mũi xoang 25,11%; viêm họng 20,02% [16].

Năm 2014, Shah Viral nghiên cứu về bệnh TMH ở học sinh từ 5 - 14

tuổi thuộc 6 trường công lập huyện Jamnagar, Ấn Độ cho thấy: tỷ lệ bệnh

TMH chung là 46,6%. Tỷ lệ học sinh bị bệnh tai là 14,33%; mũi là 28,66% và

họng là 10,0% [52]. Năm 2012, Arup Sen Gupta và cộng sự nghiên cứu trên

639 trẻ em Ấn Độ độ tuổi từ 6 - 14. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc

bệnh về tai là cao nhất chiếm 52,6% [30].

Kết quả nghiên cứu trong nhóm bệnh lý về mũi xoang cho thấy: Tỷ lệ học

sinh mắc bệnh viêm xoang mạn tính gặp nhiều nhất (25%), viêm mũi mạn

tính (21,2%), viêm mũi cấp tính (19,2%), viêm xoang cấp tính (15,4%), viêm

mũi dị ứng (13,5%). Kết quả của chúng tôi phù hợp so với kết quả nghiên

cứu của Nguyễn Thanh Hà và Trần Duy Ninh (2013) với tỷ lệ học sinh tiểu

học mắc bệnh viêm mũi mạn tính và mạn tính đang trong đợt viêm cấp là

21,2% [7]. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả

nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà ở cùng thời điểm giao mùa (xuân - Hè)

(2014) với tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi dị ứng của học sinh THCS tại Thái

Nguyên là 9,6 % [8]. Năm 2012, Arup Sen Gupta và cộng sự nghiên cứu trên

639 trẻ em Ấn Độ độ tuổi từ 6 - 14. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong các

bệnh về mũi thì bệnh viêm mũi dị ứng chiếm 24,18%.

Bảng 3.5. Trong nhóm các bệnh về họng-viêm amydan cho thấy tỷ lệ học

sinh tiểu học mắc bệnh về họng mạn tính cao nhất (53,3%); sau đó đến bệnh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

nghề nghiệp của bố mẹ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×