Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim hay gặp sau phẫu thuật tim có can thiệp ở tầng nhĩ hay bệnh nhân có giãn buồng nhĩ trc can thiệp. Rung nhĩ thường gây giảm cung lượng tim.

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim hay gặp sau phẫu thuật tim có can thiệp ở tầng nhĩ hay bệnh nhân có giãn buồng nhĩ trc can thiệp. Rung nhĩ thường gây giảm cung lượng tim.

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Xử trí [14], [15]

- Khi huyết động khơng ổn định, shock điện đồng thì 1 – 2 J/kg

- Huyết động ổn định: dùng Digoxin, propranolol, có thể dùng Amiodarone.

- Pace nhĩ nhanh có thể có hiệu quả để kết thúc rung nhĩ.

Cuồng nhĩ [13, 14]

Là tình trạng tâm nhĩ bóp rất nhanh và đều và đồng bộ, tần số khoảng 250 – 350

chu kì/phút, nhưng thường chỉ có một số xung động dẫn truyền được xuống thất.

Cuồng nhĩ ít khi tồn tại quá vài giờ mà sẽ chuyển về nhịp xoang hoặc chuyển

thành rung nhĩ. Cuồng nhĩ thường do cơ chế vòng vào lại lớn, mà một trong những

nguyên nhân gây ra vòng vào lại lớn là do vết rạch gây sẹo tâm nhĩ phải trong phẫu

thuật tim.

Chẩn đốn

- Sóng P hình răng cưa, khoảng PR khơng xác định

- Tần số nhĩ khoảng 250 – 350 lần/phút. tần số thất phụ thuộc vào dẫn truyền

nhĩ – thất.

- Nhịp tim có thể đều hoặc khơng.



14



Xử trí

Có thể tự về nhịp xoang sau khi điều trị nguyên nhân.

Cuồng nhĩ với đáp ứng thất nhanh có thể dùng chẹn kênh canxi (Verapamin),

digitalis, ức chế beta (propranolol) hoặc kết hợp với amiodarone.

Không đáp ứng có thể shock điện đồng thì hoặc pace nhĩ nhanh

Ngoại tâm thu nhĩ:

Chẩn đốn

Sóng P’ đến sớm so với nhịp xoang cơ sở; sóng P’ thường khác P cơ sở.

QRS’ giống với nhịp cơ sở.

Khơng có khoảng nghỉ bù.



Xử trí

Huyết động ổn định: khơng cần phải xử trí.

Tìm và điều trị nguyên nhân.

Nhịp nhanh nhĩ đơn ổ:

Nhịp nhanh nhĩ đơn ổ là rối loạn nhịp nhanh do một ổ ngoại vị ở tâm nhĩ phát

xung động.

Nguyên nhân của nhịp nhanh nhĩ đơn ổ sau phẫu thuật thường liên quan đến

nhiều yếu tố như thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài, sử dụng liều cao thuốc

vận mạch.

Chẩn đoán [13, 14]

Sóng P khơng phải là P do nút xoang phát xung động;sóng P lúc khởi đầu cơn

nhịp nhanh tương tự như những sóng P tiếp theo.

Có dẫn truyền nhĩ thất.

Phức bộ QRS tương tự như QRS của nhịp xoang.

Tần số tim khoảng 300 nhịp/phút



15



Xử trí

Điều trị cấp cứu có thể sử dụng Verapamine hoặc Beta - blocker đường tĩnh mạch,

Amiodarone tiêm tĩnh mạch có thể giúp giảm tần số và chuyển nhịp về nhịp xoang.

Shock điện đồng bộ có thể có hiệu quả ở những bệnh nhân có cơ chế vòng vào lại.

Nhịp nhanh nhĩ đa ổ [13, 14]

Thường ít gặp hơn,và liên quan đến tình trạng giảm kali máu, thiếu oxy hoặc

bệnh lý tim bẩm sinh gây giãn và tăng áp lực trong buồng nhĩ

Chẩn đoán

- Nhịp tim nhanh so với tuổi.

- Có ít nhất 3 sóng P khác nhau trên cùng một chuyển đạo (nhìn rõ nhất ở DII,

DIII và V1); có đường đẳng điện giữa các sóng P

- Hồn tồn khơng đều giữa PP, PR và RR.

- Rung nhĩ có thể theo sau hoặc đi trước nhịp nhanh nhĩ đa ổ vì ba bệnh cảnh

rung nhĩ, cuồng nhĩ và nhịp nhanh nhĩ đa ổ có thể xảy ra trên cùng một bệnh nhân.

Xử trí

Điều trị căn nguyên:rối loạn điện giải, bù Kali và Magie

Sử dụng các thuốc như Verapamine và Amiodarone

 Rối loạn nhịp chậm:

Nhịp chậm xoang:

Nguyên nhân có thể do hội chứng suy nút xoang hoặc do rối loạn điện giải

như tăng kali máu, tăng calci máu, thiếu oxy máu, hạ thân nhiệt, do các thuốc điều

trị như digitalis, chẹn beta giao cảm.

Chẩn đoán

Nhịp chậm xoang đáp ứng các tiêu chuẩn của nhịp xoang và có nhịp tim dưới –

2SD so với người cùng lứa tuổi. Tiêu chuẩn nhịp xoang gồm:

- P đứng trước QRS

- Khoảng PQ khơng đổi và trong giới hạn bình thường theo tuổi.

- P dương ở D1, V5, V6, âm ở aVR



16



Điều trị:

Atropine 0.02 mg/kg truyền tĩnh mạch (liều tối thiểu 0.1 mg, tối đa 0.5 mg)

hoặc Adrenaline 1 – 2 mcg/kg tiêm tĩnh mạch chậm. Truyền liên tục Adrenaline hay

Isoproterenol liều 0.02 – 1.5 mcg/kg/phút có thể làm kích thích tần số tim nâng lên

đến mức chấp nhận được.

Đặt pace nhĩ được tiến hành khi nhịp tim quá chậm ảnh hưởng đến huyết động.

Tìm nguyên nhân và điều trị nguyên nhân của nhịp chậm xoang.

1.2.2.2 Rối loạn nhịp thất

 Ngoại tâm thu thất [13, 14]

Chẩn đoán

- QRS đến sớm, giãn rộng trên 0.12 giây, trát đậm, có móc với sóng T trái

chiều phức bộ QRS, khơng thấy đoạn ST.

- Khơng có sóng P đi trước QRS, có thể thấy sóng P xoang/bộ nối chồng lên

hoặc đi sau QRS.

- Có thời gian nghỉ bù sau ngoại tâm thu: RR’ > RR, RR’R = 2RR.

Xử trí

- Nếu huyết động ổn định: khơng cần xử trí.

- Nếu huyết động khơng ổn định, ngoại tâm thu thất có nguy cơ tiến triển

thành nhịp nhanh thất, rung thất. Xử trí bằng các thuốc chống loạn nhịp như

Amiodarone, thuốc ức chế beta như Propranolon, Metoprolol, Atenolol.

Tìm và điều trị nguyên nhân như rối loạn điện giải Kali, Magie …

Nhịp nhanh thất: [13, 14]

Chẩn đốn

- Khơng xác định được sóng P và khoảng PR

- QRS trên 0,12 giây, sóng T khó phân biệt với phức bộ QRS

- Nhịp tim đều hoặc không

- Tần số thất 150 – 250, tần số nhĩ khơng xác định

Xử trí

- Nhịp nhanh thất đơn ổ:

+ Huyết động ổn định thì điều trị bằng Lidocain 1mg/kg tĩnh mạch chậm.



17



+ Huyết động không ổn định: Shock điện đồng thì ngay 1 – 2 j/kg.

+ Phòng tái phát, dùng Amiodazone 5mg/kg tĩnh mạch 20 – 60 phút hoặc

Lidocain 1 mg/kg tĩnh mạch chậm, có thể lặp lại sau liều ban đầu mỗi 5 – 10 phút,

tổng liều 3 mg/kg, sau đó chuyển sang truyền liên tục 20 – 50 mcg/kg/phút.

- Nhịp nhanh thất đa ổ: Điều trị như rung thất

 Rung thất

Chẩn đốn

Khơng xác định được sóng P và khoảng P – R .

Khơng xác định được phức bộ QRS.

Tần số tim không xác định và nhịp hỗn loạn.

Xử trí

Nếu trẻ khơng có mạch, tiến hành ép tim ngoài lồng ngực ngay với FiO 2 100%

trong khi chờ đợi máy shock điện.Sốc điện khơng đồng thì bắt đầu bằng 2J/kg sau

đó tăng lên 4J/kg.Thực hiện ép tim ngoài lồng ngực giữa các lần shock điện.

Nếu shock điện không thành công, chỉ định dùng Epinephrine 0.01mg/kg, lặp

lại mỗi 3 – 5 phút nếu cần thiết.Hoặc dùng thuốc chống loạn nhịp: Amiodazone 5

mg/kg tĩnh mạch 3 - 5 phút hoặc Lidocain 1 mg/kg tĩnh mạch chậm, có thể lặp lại

sau liều ban đầu mỗi 5 – 10 phút, tổng liều 3 mg/kg, sau đó chuyển sang truyền liên

tục 20 – 50 mcg/kg/phút.

1.2.2.3. Rối loạn dẫn truyền

 Block nhĩ thất: [13], [14], [15]

Nguyên nhân:tổn thương chức năng hoặc cấu trúc trúc của hệ thông dẫn

truyền (như nút nhĩ thất, bó His, nhánh phải, nhánh trái) sau phẫu thuật.

Được phân chia thành 3 loại:

* Block nhĩ thất cấp I:

PQ dài ra (trên 0.2 giây) với tần số tim bình thường.Khoảng PQ tuy dài nhưng

thường cố định.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim hay gặp sau phẫu thuật tim có can thiệp ở tầng nhĩ hay bệnh nhân có giãn buồng nhĩ trc can thiệp. Rung nhĩ thường gây giảm cung lượng tim.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×