Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết quả phân tích cho thấy, phương pháp có tỷ lệ thu hồi GLI và IS cao và lặp lại. Hiệu suất thu hồi GLI ở các khoảng nồng độ thấp, trung bình, cao đều đạt từ 80,7- 92,4% với RSD < 10%. Hiệu suất thu hồi của chuẩn nội đạt 80,0- 90,7% (RSD < 10%).

Kết quả phân tích cho thấy, phương pháp có tỷ lệ thu hồi GLI và IS cao và lặp lại. Hiệu suất thu hồi GLI ở các khoảng nồng độ thấp, trung bình, cao đều đạt từ 80,7- 92,4% với RSD < 10%. Hiệu suất thu hồi của chuẩn nội đạt 80,0- 90,7% (RSD < 10%).

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

TB

RSD (%)



202,4

208,9

2,48



193,1

198,9

3,38



3794,1

3872,3

4,37



3940,0

3926,3

3,19



Kết quả phân tích cho thấy, nồng độ GLI trong mẫu LQC và HQC được xử lý

ngay và sau 4 giờ để tan chảy ở nhiệt độ phòng khác nhau không đáng kể (RSD <

5%). Như vậy mẫu phân tích ổn định trong q trình xử lý mẫu.

♦ Độ ổn định dài ngày

Đánh giá độ ổn định mẫu huyết tương LQC và HQC. Xác định nồng độ GLI có

trong mẫu tại các thời điểm ngay sau khi chuẩn bị và sau 10, 20, 30 ngày bảo quản ở

nhiệt độ -200C theo phương pháp đã xây dựng. Kết quả được trình bày bảng 3.63:

Bảng 3.63. Kết quả độ ổn định mẫu dài ngày



ml)

Thơng số thống kê



132



Tóm lại, dựa vào kết quả khảo sát và thẩm định phương pháp định lượng

Glipizid trong huyết tương chó, đã lựa chọn được quy trình xử lý mẫu và điều kiện

sắc ký. Quy trình định lượng GLI trong huyết tương chó đã xây dựng đáp ứng được

hầu hết các yêu cầu theo quy định của FDA về thẩm định phương pháp phân tích

trong dịch sinh học. Như vậy, có thể áp dụng quy trình định lượng này đế đánh giá

SKD của viên nén Glipizid GPKD trên chó thực nghiệm.

3.7.3. Kết quả đánh giá sinh khả dụng của viên nén Glipizid 10 mg giải

phóng kéo dài trên chó thực nghiệm

a, Xác định nồng độ Glipizid trong huyết tương chó sau khi uống viên Glipizid

bao10mg giải phóng kéo dài và viên đối chiếu Ozidia 10mg.

Tiến hành phân tích các mẫu huyết tương chó ở cả hai nhóm (thuốc thử và

thuốc ĐC) theo phương pháp đã trình bày ở mục 2.2.3. Xác định nồng độ GLI có

trong mẫu dựa vào đường chuẩn được tiến hành song song trong ngày. Từ kết

quả xác định nồng độ, vẽ được đường cong nồng độ (ng/ml) GLI trung bình (n =

6) trong huyết tương theo thời gian (giờ). Kết quả được trình bày ở bảng 3.64,

3.65 và hình 3.26.

Bảng 3.64. Nồng độ Glipizid trong huyết tương chó sau khi uống liều đơn

thuốc thử (T) (n = 6)

Thời gian



Nồng độ Glipizid trong huyết tương (ng/ml)



0,0



1

0,0



2

0,0



3

0,0



4

0,0



5

0,0



6

0,0



0,0



0,0



0,5



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



1,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



1,5



0,0



0,0



61,6



0,0



0,0



0,0



10,3



25,1



2,0



51,3



74,7



239,0



0,0



0,0



0,0



60,8



92,9



2,5



75,3



897,8



708,3



57,5



0,0



0,0



289,8



403,2



130,4 1387,5 1061,1



97,9



0,0



106,3



463,9



599,7



(giờ)



3,0



133



766,0



121,9



830,4



640,8



4,0 1495,4 1715,6 1987,8 291,2 2124,3

5,0 2175,8 1740,3 2385,3 1375,0 2196,1



600,0



754,0



920,3



1.369,

1.798,0



6,0 2553,2 1833,9 2787,4 1222,6 2540,6 1017,8

8,0 2712,9 2968,0 4129,3 2686,1 3386,6 2366,1



1.992,8

3.041,6



750,3



3.118,5

2.486,1



644,3



1.124,4

209,87



110,9



3,5



848,3 1461,3 1647,7



137,0



10,0 3627,4 2616,6 2657,5 3672,5 2346,0 3788,4

12,0 2846,5 2309,3 1933,0 3317,5 1688,2 2824,0

16,0

24,0



1167,2 1094,9

356,1



230,2



920,3 1185,8

188,3



219,6



1141,2 1238,9

125,2



139,2



565,5

632,2

617,9

83,1



Bảng 3.65. Nồng độ Glipizid trong huyết tương chó sau khi uống liều đơn

thuốc chứng (R) Ozidia 10 mg (n = 6)

Thời gian



Nồng độ Glipizid trong huyết tương (ng/ml)



0,0



1

0,0



2

0,0



3

0,0



4

0,0



5

0,0



6

0,0



0,0



0,0



0,5



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



1,0



40,1



0,0



0,0



0,0



0,0



0,0



6,7



16,4



1,5



146,3



221,8



0,0



43,2



0,0



0,0



68,5



94,1



2,0



295,4



407,7



158,6



61,8



0,0



85,8



168,2



155,0



2,5



358,7



502,7



273,6



149,8



0,0



122,4



234,5



180,9



3,0



567,5



511,1



667,8



194,6



0,0



125,2



344,4



272,5



3,5



1119,7



998,8



670,3



338,6



546,1



204,1



646,3



360,3



4,0



1909,4 1.629,9 1.034,7



342,7



762,8



233,5



985,5



678,2



5,0



2411,0 2.767,0 1.454,0



633,4 1.269,7 1.160,8 1.616,0



809,4



6,0



2223,3 3.196,5 1.538,6



879,8 1.640,9 1.015,1 1.749,0



856,8



8,0



2692,5 3.462,6 3.401,6 1.880,2 2.512,7 1.420,1 2.561,6



812,9



10,0



4080,5 2.704,7 4.164,7 2.454,9 2.780,7 1.856,4 3.007,0



923,5



12,0



2784,1 1.797,6 2.053,1 3.787,9 2.825,5 2.871,9 2.686,7



702,5



16,0



1290,8



972,3



397,4



24,0



206,1



86,6



(giờ)



955,3 1.872,3 1.510,1 1.802,3 1.400,5

51,9



530,3



134



691,7



682,3



374,8



294,9



Hình 3.26. Đường cong nồng độ thuốc trung bình theo thời gian của 6 chó

sau khi uống liều đơn thuốc thử và thuốc đối chiếu

Kết quả ở bảng 3.61, 3.62 và hình 3.24 cho thấy: Tại thời điểm 2 giờ, nồng

độ GLI đã định lượng được trong hầu hết các mẫu huyết tương. Từ thời điểm 3 giờ

đến 10 giờ, nồng độ GLI trung bình trong huyết tương chó uống thuốc thử cao hơn

thuốc ĐC và từ 10 giờ đến trước 24 giờ, nồng độ GLI trong huyết tương chó uống

thuốc ĐC lại cao hơn thuốc thử.

b, Phân tích dược động học và so sánh sinh khả dụng của viên nén GLIpzid giải

phóng kéo dài với viên nén đối chiếu Ozidia

- Xác định các thông số dược động học



Từ kết quả định lượng nồng độ GLI trong huyết tương chó và dựa vào

phương pháp xác định các thông số DĐH đã ghi ở phần 2.2.4. Kết quả xác định

một số thông số DĐH cơ bản của GLI được trình bày ở bảng 3.66:

Bảng 3.66. Thơng số dược động học của viên đối chiếu

Chó

1

2

3

4

5



Tmax

(giờ)

10,0

8,0

10,0

12,0

12,0



Cmax

(ng/ml)

4080,5

3462,6

4164,7

3787,9

2825,5



AUC0-24h

(giờ*ng/ml)

38909,4

34012,8

32654,4

35993,0

35466,9



135



AUC0-∞

(giờ*ng/ml

)

39871,9

34412,7

32836,4

39212,9

41309,5



t1/2

(giờ)

3,2

2,8

2,2

4,3

6,1



MRT

(giờ)

11,0

9,8

10,4

14,2

15,1



12,0

10,7

1,6



6

TB

SD



2871,9

3532,2

584,2



31839,0

34812,6

2559,1



37540,6

37530,7

3296,9



5,8

4,0

1,6



16,1

12,8

2,7



Bảng 3.67. Thơng số dược động học của viên thử

Chó

1

2

3

4

5

6

TB

SD



Tmax

Cmax

AUC0-24h

AUC0-∞

t1/2

MRT

(giờ)

(ng/ml)

(giờ*ng/ml)

(giờ*ng/ml)

(giờ)

(giờ)

10,0

3627,4

37327,5

39338,8

4,1

11,8

8,0

2968,0

33275,8

34477,1

3,6

11,1

8,0

4129,3

35563,7

36538,1

3,6

10,2

10,0

3672,5

34236,4

35190,9

3,1

11,9

8,0

3386,6

31861,0

32556,6

3,3

10,6

10,0

3788,4

31782,3

32351,7

2,7

11,7

9,0

3595,4

34007,8

35075,5

3,4

11,2

1,1

391,5

2172,1

2624,9

0,5

0,7

Kết quả ở bảng 3.64 cho thấy: Giá trị Cmax trong huyết tương chó trung bình



khi uống thuốc thử là 3595,4 ± 391,5 (ng/ml) và thuốc ĐC là 3532,2 ± 584,2

(ng/ml). Như vậy, Cmax dao động nhỏ giữa nhóm chó uống thuốc thử (RSD = 15,3

%) và nhóm chó uống thuốc ĐC (RSD = 12,2%).

Giá trị AUC0-24h khi uống thuốc thử là 34007,8 ± 2172,1 (ng.h/ml), khi uống

thuốc ĐC là 34812,6± 2559,1 (ng.h/ml). Như vậy, giá trị diện tích dưới đường

cong từ thời điểm 0 đến 24 giờ có sự dao động nhỏ. Giá trị RSD của AUC 0-24h của

nhóm chó uống thuốc thử và thuốc ĐC lần lượt là 6,4 % và 7,4%. Tỷ lệ (%) giữa

AUC0-24h/ AUC0-∞ trung bình đạt trên 80 %, cụ thể: Khi uống thuốc thử là 97,0% và

thuốc ĐC là 93,1%. Như vậy, thời gian lấy mẫu cuối cùng (24 giờ) đã thoả mãn

yêu cầu theo quy định về đánh giá SKD.

Thời gian để đạt nồng độ cực đại trong huyết tương T max trung bình khi

uống thuốc thử và thuốc ĐC lần lượt là 9,0 ± 1,1 giờ và 10,7 ± 1,6 giờ. T max của

thuốc thử dao động từ 7,9 đến 10,1 giờ còn của thuốc ĐC dao động từ 9,1 đến

12,3 giờ.

Từ các kết quả các thơng số DĐH cho thấy chó lựa chọn cho thí nghiệm

tương đối đồng đều nhau, có sự dao động nhỏ giữa các cá thể.

- Phân tích thống kê và so sánh sinh khả dụng của viên nén Glipizid giải



136



phóng kéo dài với viên nén Ozidia:

Từ kết quả xác định các thông số DĐH của thuốc thử và thuốc đối chứng ở

bảng 3.63, 3.64 đánh giá SKD viên nén Glipizid 10mg GPKD theo qui định của

FDA và DĐVN IV. So sánh giá trị MRT, Cmax và AUC0-∞ và xác định khoảng tin cậy

90 % (CI) cho tỷ lệ thuốc thử so với thuốc chứng, tính trên số liệu đã chuyển

logarit; sử dụng phần mềm Phoenix WinNolin 8.0. Kết quả xác định khoảng tin cậy

90 % được trình bày ở các bảng 3.68, bảng 3.69, bảng 3.70.

+ Phân tích phương sai và xác định khoảng tin cậy 90% của tỷ số Cmax

Bảng 3.68. Phân tích phương sai với biến phụ thuộc là ln[Cmax]

Nguồn

biến thiên



Bậc

tự do

1



Tổng bình

phương

0,0291



Trung bình

bình phương

0,0291



*CTN(trình tự)



4



0,1063



0,0266



Thuốc



1



0,0018



0,0018



Giai đoạn



1



0,0417



Sai số



4



0,0306



Tổng



11



0,2095



Trình tự thử



F



p



1,096

7

3,476



0,3541

0,6532



0,0417



1

0,235

0

5,458



0,0076



9



0,1274

0,0797



*CTN: Chó thí nghiệm

Kết quả ở bảng 3.68 cho thấy, P trình tự thử, Pthuốc, Pgiai đoạn và PCTN

đều lớn hơn 0,05 chứng tỏ ảnh hưởng trình tự thử, chế phẩm thử (mẫu thử và đối

chứng) và các chó thí nghiệm đến ln[Cmax] khơng có ý nghĩa thống kê.

Kết quả tính khoảng tính khoảng tin cậy của tỷ lệ Cmax giữa hai mẫu T và R:

khoảng tin cậy 90% của tỷ lệ Cmax là (92,02%; 114,12%) nằm trong giới hạn 80,00

– 125 %. Hai giá trị Cmax tương đương nhau theo qui định của DĐVN IV (với độ

mạnh của test (power of test) là 0,9276).

+ Phân tích phương sai và xác định khoảng tin cậy 90 % của tỷ số ln[AUC 0-∞]



Bảng 3.69. Phân tích phương sai với biến phụ thuộc là ln[AUC 0-∞]



137



Nguồn

Bậc

Tổng bình

Trung bình

F

p

biến thiên

tự do

phương

bình phương

1

0,0000

0,0000

0,0010 0,9762

Trình tự thử

4

0,0295

0,0074

3,3945 0,1318

CTN (trình tự)

1

0,0133

0,0133

6,1243 0,0686

Thuốc

1

0,0290

0,0290

13,347 0,0217

Giai đoạn

5

4

0,0087

0,0022

Sai số

0,0806

Tổng

11

Kết quả ở bảng 3.69 cho thấy, Ptrình tự thử, Pthuốc và PCTN đều lớn hơn 0,05 chứng

tỏ ảnh hưởng của sự khác nhau giữa trình tự thử, chế phẩm thử (mẫu thử và đối

chứng) và các chó thí nghiệm đến ln[AUC



0-∞



] khơng có ý nghĩa thống kê. Pgiai đoạn



nhỏ hơn 0,05 chứng tỏ ảnh hưởng của sự khác nhau giữa giai đoạn thử thuốc đến

ln[AUC 0-∞] có ý nghĩa thống kê.

Kết quả tính khoảng tính khoảng tin cậy của tỷ lệ C max giữa hai mẫu T và R:

khoảng tin cậy 90% của tỷ lệ C max là (88,33%; 99,08%) nằm trong giới hạn 80,00 –

125 %. Hai giá trị AUC 0-∞ tương đương nhau theo qui định của DĐVN IV (với độ

mạnh của test (power of test) là 0,9985).

+ Phân tích phương sai và xác định khoảng tin cậy 90 % của tỷ số ln[MRT].

Bảng 3.70. Phân tích phương sai với biến phụ thuộc là ln[MRT]

Nguồn

biến thiên

Trình tự thử



Bậc

tự do

1



Tổng bình

phương

0,1253



Trung bình

bình phương

0,1253



Chó(trình tự)



4



0,0193



0,0048



Thuốc



1



0,0378



0,0378



Giai đoạn



1



0,0875



0,0875



11,528

6

26,680



Sai số



4



0,0131



0,0033



4



Tổng



F



p



26,027

7

1,4680



0,0070

0,3595

0,0274

0,0067



0,2829

11

Kết quả ở bảng 3.67 cho thấy, P trình tự thử đều lớn hơn 0,05 chứng tỏ ảnh hưởng



của sự khác nhau trình tự thử đến ln[MRT] khơng có ý nghĩa thống kê. P thuốc và PCTN

, Pgiai đoạn nhỏ hơn 0,05 chứng tỏ ảnh hưởng của sự khác nhau giữa thuốc, các chó thí

nghiệm (CTN), giai đoạn thử thuốc đến ln[MRT] có ư nghĩa thống kê.

Kết quả tính khoảng tính khoảng tin cậy của tỷ lệ MRT giữa hai mẫu T và R:

khoảng tin cậy 90% của tỷ lệ C max là (83,30%; 95,91%) nằm trong giới hạn 80,00 –



138



125 %. Hai giá trị MRT tương đương nhau theo qui định của DĐVN IV (với độ

mạnh của test (power of test) là 0,8621).

Kết quả ở bảng 3.65, bảng 3.66 và bảng 3.67 cho thấy khoảng tin cậy 90 %

của thuốc thử so với thuốc đối chiếu nằm trong giới hạn 80,00 – 125 % đối với giá

trị Cmax,AUC0-∞ và MRT trung bình. Do đó, các giá trị C max, AUC0-∞ và MRT của

thuốc thử và thuốc chứng là tương đương nhau hay nói cách khác là sự khác nhau

giữa các giá trị trên không có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy 90% giữa thuốc

thử và thuốc chứng. Điều này có nghĩa là khi uống viên Glipizid GPKD và viên đối

chiếu Ozidia ở điều kiện đói, đơn liều, nồng độ Glipizid cực đại trong máu, tốc độ

và mức độ hấp thu Glipizid vào máu và thời gian lưu trú trung bình là tương đương

nhau.

+ So sánh giá trị Tmax của thuốc thử và thuốc DC bằng kiểm định phi tham số



sử dụng phần mềm Phoenix WinNolin 8.0. Kết quả được trình bày ở bảng 3.71:

Bảng 3.71. So sánh giá trị Tmax theo phương pháp thống kê phi tham số



Kết quả ở bảng 3.67 cho thấy, P trình tự thử, Pthuốc và Pthuốc và phần dư đều lớn hơn 0,05

chứng tỏ ảnh hưởng của sự khác nhau giữa trình tự, giai đoạn và thuốc và phần dư

tới Tmax khơng có ý nghĩa thống kê. Pthuốc nhỏ hơn 0,05 chứng tỏ ảnh hưởng của sự

khác nhau của thuốc thử và thuốc đối chiếu có ý nghĩa thống kê. Có nghĩa là giá trị

Tmax của thuốc thử và thuốc ĐC khác nhau có ý nghĩa thống kê.



CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN

4.1.



Về xây dựng công thức bào chế viên Glipizid giải phóng kéo dài



139



4.1.1. Về lựa chọn dạng bào chế

Glipizid là thuốc điều trị bệnh tiểu đường tuýp II thuộc nhóm sulfunylure thế

hệ 2, có nửa đời sinh học ngắn hơn so với các sulfonyl urê khác nên giảm nguy cơ

gây hạ đường huyết trầm trọng. Glipizid ít tan và có thời gian bán thải rất ngắn chỉ

từ 2 đến 4 giờ và tác dụng kéo dài chỉ vài giờ nên phải dùng nhiều lần trong ngày.

Vì vậy, hướng nghiên cứu bào chế các chế phẩm giải phóng kéo dài chứa Glipizid là

cần thiết nhằm mục đích nâng cao hiệu quả điều trị, giảm số lần dùng thuốc trong

ngày và giảm tác dụng không mong muốn của thuốc,.

Hiện nay, trên thế giới có một số chế phẩm chứa Glipizid giải phóng kéo dài

đã được sử dụng trong điều trị có cấu trúc dạng bơm thẩm thấu, như Glucotrol

XL,Glipizid XL, Ozidia... Đây là dạng bào chế có nhiều ưu điểm như dễ đạt động

học bậc 0, giải phóng dược chất khơng phụ thuộc pH, enzym, nhu động ruột...

nhưng đòi hỏi kỹ thuật bào chế phức tạp, nhiều giai đoạn và thiết bị chuyên biệt như

máy dập viên 2 lớp, máy khoan lazer... Do vậy, không phải cơ sở nào cũng bào chế

thành công được dạng bào chế này, một phần do thiếu máy móc thiết bị, một phần

do nguồn lực nghiên cứu chưa đủ.

Do vậy các nghiên cứu gần đây đang hướng tới bào chế Glipizid giải phóng

kéo dài có cấu trúc đơn giản hơn như cấu trúc thẩm thấu tự tạo vi lỗ, cấu trúc dạng

cốt thân nước hoặc cốt bao màng kiểm sốt giải phóng như bao tan ở ruột (Glipizid

ER), cốt bao màng thẩm thấu tự tạo vi lỗ...nhằm đa dạng hóa sản phẩm và đơn giản

hóa kỹ thuật bào chế. Tuy vậy, các cấu trúc này đã gặp phải nhiều khó khăn trong

q trình nghiên cứu nhằm kiểm sốt giải phóng dược chất từ dạng bào chế nhằm

đạt được mục tiêu tương đương về bào chế và sinh khả dụng so với viên đối chiếu

(thường sử dụng Glucotrol XL của hãng pfizer Mỹ). Mỗi nhà nghiên cứu có giải

pháp khác nhau, nhưng kết quả đạt được cũng khác nhau.

Với dạng cấu trúc dạng cốt thân nước có ưu điểm là kỹ thuật bào chế đơn

giản, dễ thực hiện; nhưng có nhược điểm là khó đạt được động học bậc 0 do trong

q trình giải phóng dược chất, diện tích bề mặt thay đổi, giai đoạn ban đầu giải

phóng DC nhanh (burst release) do cơ chế ăn mòn (chủ yếu do lớp gel yếu mới hình

thành), giai đoạn sau do cơ chế khuếch tán (khi lớp gel trên bề mặt đã hình thành



140



bền vững). Đặc biệt trong trường hợp với dược chất ít tan (như Glipizid,

hydrochlorothiazid, carbamazepin, nifedipin,.. ) thường sử dụng các polyme tạo cốt

là các polyme thân nước có độ nhớt thấp (low vicosity), dẫn đến giải phóng dược

chất nhanh hơn ở giai đoạn đầu do q trình ăn mòn mạnh hơn và đồ thị hòa tan có

sự biến động khá lớn (SD/variable) với sự thay đổi của tốc độ khuấy, đặc biệt ở tốc

độ khuấy cao (150 vòng/phút). Điều này có thể dẫn tới sự khác nhau trong giải

phóng dược chất khi thử nghiệm in vivo ở 2 điều kiện đói và no (fast/fed) do nhu

động ruột khác nhau (nhu động tăng khi no/fed) và dẫn tới sinh khả dụng có thể

khác nhau. Do vậy, nhằm sốt tốc độ ăn mòn đặc biệt trong giai đoạn đầu tiên giải

phóng dược chất và làm giảm sự biến động ở tốc độ khuấy cao (nhu động ruột

mạnh), đề tài “Nghiên cứu bào chế và sinh khả dụng viên nén Glipizid giải

phóng kéo dài” được thực hiện bằng cách kết hợp cấu trúc cốt thân nước và bao

màng kiểm sốt giải phóng tự tạo vi lỗ/kênh khuếch tán [33], [48], [88], [121],

[129], [113],[119], [67].

4.1.2. Về lựa chọn tá dược trong xây dựng công thức viên nhân chứa Glipizid

dạng cốt thân nước

Dược chất Glipizid thuộc nhóm 2 theo phân loại BCS, ít tan và dễ thấm, nên

theo đường uống, thường được bào chế dạng viên qui ước hoặc các dạng thuốc giải

phóng kéo dài. Về tính tan, Glipizid ít tan trong nước (32,7mg/l), độ tan của

Glipizid phụ thuộc pH, Glipizid là một acid yếu, pKa= 5,9, dễ tan trong mơi trường

pH kiềm, khó tan trong mơi trường acid.

Glipizid có thể được cải thiện độ tan trước khi đưa vào công thức bằng nhiều

phương pháp khác nhau như tạo hệ phân tán rắn (với PEG, PVP), thêm chất diện

hoạt hoặc sử dụng các polyme thân nước hoặc tạo vi mơi trường khi phối hợp với

các tá dược có tính kiềm. Tuy vậy, do pH của đường tiêu hóa thay đổi tăng dần từ

môi trường acid dạ dày sang mơi trường ruột non và ruột già có pH khoảng pH 6,8

đến 7,4. Nên ở môi trường dịch ruột non, nơi Glipizid sẽ hấp thu, thì Glipizid có thể

tan được và hấp thu rất nhanh.

Do vậy trong các dạng bào chế, đặc biệt dạng bào chế giải phóng kéo dài, có

thể sử dụng biện pháp cải thiện độ tan hoặc khơng, vì Glipizid dù ít tan trong nước,



141



nhưng hàm lượng thấp, trong môi trường pH 6,8 độ tan của Glipizid cao hơn,

Glipizid hòa tan dễ dàng hơn, do vậy mục đích của kiểm sốt giải phóng dược chất

là hướng tới kiểm sốt tốc độ giải phóng-hòa tan, qua đó kiểm soát tốc độ và mức

độ hấp thu dược chất từ dạng bào chế khi sử dụng.

- Về lựa chọn polyme tạo cốt: Do đặc điểm Glipizid ít tan, đặc biệt ở môi

trường pH thấp, tan tốt ở môi trường pH 6,8 và kiểm. Với hàm lượng mỗi viên thấp,

độ hòa tan dược chất từ viên qui ước và nguyên liệu cao, nên đề tài lựa chọn tá dược

tạo cốt chính cho viên cốt là các polyme thân nước, trong phạm vi nghiên cứu sử

dụng các loại HPMC, do HPMC là tá dược có nhiều ưu điểm, như an tồn, dễ kiếm,

dược sử dụng nhiều trong dược phẩm. Đây là polyme thân nước, trương nở trong

nước và hòa tan được trong nước. HPMC có nhiều loại với khối lượng phân tử và

độ nhớt khác nhau. Nên HPMC được lựa chọn làm polyme tạo cốt thân nước vừa là

polyme kiểm soát giải phóng dược chất, nhưng do tính thân nước nên một phần

HPMC có thể cải thiện tính chất sơ nước của dược chất Glipizid, làm cho bề mặt

Glipizid thân nước hơn, để mơi trường hòa tan dễ dàng tiếp xúc với tiểu phân dược

chất và hòa tan nó.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi phối hợp với loại HPMC khác nhau thì đặc

tính hòa tan của Glipizid từ viên thay đổi với tốc độ khác nhau, với loại HPMC có

độ nhớt càng cao thì càng làm chậm q trình hòa tan của Glipizid theo trình tự sau

HPMC K100M>HPMC K15M>HPMC K4M > HPMC K100LV.

Để kiểm sốt giải phóng theo mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng phối hợp một

polyme HPMC có độ nhớt cao (HPMC K4M) với một polyme có độ nhớt thấp

(HPMC K100 LV), để vừa tăng tính thấm nước của Glipizid và vừa kiểm sốt giải

phóng dược chất. Trong cấu trúc dạng cốt, polyme kiểm sốt q trình giải phóng

dược chất thơng qua q trình trương nở và hòa tan của chính polyme. Kết quả này

tương tự với kết quả nghiên cứu của Jamzad và cộng sự [33] khi nghiên cứu sử

dụng các polyme thân nước kiểm soát giải phóng dược chất từ cốt như HPMC

K15M, HPMC K100M, HPMC K100LV, PEO.

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của loại, tỷ lệ polyme, tỷ lệ phối hợp polyme

cho thấy tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến mức độ và tốc độ hòa tan dược

chất từ viên.



142



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả phân tích cho thấy, phương pháp có tỷ lệ thu hồi GLI và IS cao và lặp lại. Hiệu suất thu hồi GLI ở các khoảng nồng độ thấp, trung bình, cao đều đạt từ 80,7- 92,4% với RSD < 10%. Hiệu suất thu hồi của chuẩn nội đạt 80,0- 90,7% (RSD < 10%).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×