Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.4: Sơ đồ biểu diễn công nghệ RingCap [75], [76] (Trong đó, 1,12,30,32,34, 50, 52,56 là cốt chứa dược chất; 20, 22,24, 60, 62,64,66 là các đai hoặc vòng).

Hình 1.4: Sơ đồ biểu diễn công nghệ RingCap [75], [76] (Trong đó, 1,12,30,32,34, 50, 52,56 là cốt chứa dược chất; 20, 22,24, 60, 62,64,66 là các đai hoặc vòng).

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Cốt Dome (Dome Matrix®)

Sự lắp ráp của các mơ đun để đạt được sự phân liều linh hoạt, động học giải

phóng và phối hợp thuốc là mục tiêu của phương pháp này. Thiết kế “chụp và bấm

vào” (“snap and click”) cho phép lồng các module vào nhau để sử dụng an tồn cho

bệnh nhân. Có thể sử dụng khoảng trống ở trung tâm giữa hai phần để giữ thuốc ở

dạ dày bởi bẫy khơng khí.



Hình 1.6. Sự lắp ráp các modul của hệ cốt Dome [17]

- Hệ đa cốt MMX (Multi Matrix System)

Công nghệ MMX nhằm đưa mesalamin đến đại tràng. Dược chất trong các

cốt thân nước hoặc sơ nước được bao tan ở ruột, sau khi hòa tan vỏ bao, dược chất

được giải phóng thơng qua khuếch tán từ lõi cốt ăn mòn [103].

- Hệ TIMERx®

Ngun tắc của cơng nghệ TIMERx® dựa trên các hỗn hợp polyme khác

nhau. Hỗn hợp của gôm xanthan và gôm hạt bồ kết (locust bean gum) hiệp đồng tạo

thành gel. Đồ thị giải phóng có thể đạt được kiểu giải phóng nhiều pha hoặc bậc

một, bậc 0 qua tỷ lệ của các polysaccharid và các cation hóa trị 2 như Ca 2+ (Kích

thích liên kết chéo ion của các chuỗi saccarid) hoặc đường (Chất điều chỉnh sự hình

thành gel). Các sản phẩm sử dụng cơng nghệ TIMERx® như Procardia®XL (Pfizer)

và Cystin®CR (Leiras OY) [65].

1.1.3. Thuốc giải phóng kéo dài hệ màng bao kiểm sốt giải phóng

Theo cấu tạo và cơ chế giải phóng, thuốc giải phóng kéo dài hệ màng bao

kiểm sốt giải phóng bao gồm hệ màng bao khuếch tán, hệ màng bao hòa tan, hệ

màng bao thẩm thấu. Nói chung, về cấu tạo hệ màng bao kiểm sốt giải phóng gồm



14



một viên nhân có thể được bao bởi một màng bao polyme khơng tan trong dịch tiêu

hóa (màng bao khuếch tán) hoặc bởi một màng bao hòa tan chậm hoặc ăn mòn dần

trong đường tiêu hóa (hệ màng bao hòa tan) hoặc được bao một màng bán thấm có

miệng giải phóng dược chất (hệ thẩm thấu). Về cơ chế giải phóng, dược chất có thể

được khuếch tán hoặc hòa tan từ trong viên ra ngồi qua màng bao kiểm sốt giải

phóng thông qua các kênh như lỗ khoan laze trên màng hoặc lỗ xốp hình thành

trong q trình hòa tan (hệ màng bao khuếch tán, hệ màng bao thẩm thấu) hoặc sau

khi màng bao đã hòa tan (màng bao hòa tan) [1].

Màng bao màng bán thấm tự tạo lỗ xốp có cấu tạo gồm các polyme không tan

như CA, EC, Eudragit RL, Eudragit RS,…và có sử dụng tác nhân tạo kênh giải

phóng, nhưng khơng khoan lỗ kiểm sốt giải phóng trên màng bao. Hệ sử dụng các

tác nhân tạo lỗ trên màng bằng cách hòa tan hoặc phân tán một hoặc nhiều muối tan

trong nước, đường hoặc polyme có khả năng tan trong nước vào dịch bao hoặc thêm

một dung môi khơng hòa tan để tạo sự phân cách pha trong dịch bao màng [1], [81],

[116], [122].

Dạng cốt với dược chất dễ tan có thể khó đạt được yêu cầu GPKD trong

khoảng thời gian dài. Thường thì hơn 80% dược chất được giải phóng trước 8 giờ,

làm khó khăn để phát triển dạng bào chế “ngày dùng 1 lần”. Để vượt qua thách thức

này, dạng cốt thân nước có thể được bao màng phim với các polyme không tan

acrylic hoăc cellulose. Trong trường hợp này, màng bao phim đóng vai trò như là

rào cản vật lý chống lại sự trương nở của viên nén, làm giảm dung tích khuếch tán

và làm chậm động học hòa tan. Sự kiểm sốt sự trương nở của cốt phụ thuộc vào

thành phần của màng phim và sẽ tạo thành hệ màng bao hoặc sẽ vỡ hoặc bị vỡ ở

xung quanh viên nén nếu màng phim không đủ linh hoạt và đàn hồi [112]. Bettini

và cộng sự đã bao một phần cốt HPMC chứa buflomedil pyridoxalphosphat bởi một

màng phim không thấm nước và thấy rằng sự có mặt của màng bao đã thay đổi

động học trương nở của dạng cốt và làm giảm sự ăn mòn cốt [89].

Dias và cộng sự đã sử dụng màng bao EC (Surelease 4% klg/klg) để khắc

phục sự giải phóng bùng nổ ban đầu (burst release) từ hệ cốt HPMC có chứa



15



venlafaxin HCl. Đây là một đặc tính thường thấy với các dược chất rất dễ tan trong

nước. Tác giả đã quan sát thấy trong 90 phút thử hòa tan, sự giãn nở của cốt làm cho

màng phim vỡ/tách ra dọc theo cạnh viền viên nén. Điều này xảy ra liên tục với mọi

viên thuốc được thử nghiệm, kết quả là đồ thị giải phóng thuốc được lặp lại. Có thể

giả định rằng, trong giai đoạn đầu của sự hydrat hóa hệ cốt, sự trương nở và nội lực

tạo ra bởi polyme HPMC là yếu, và thuốc giải phóng được kiểm soát bởi sự khuếch

tán qua màng EC. Ngược lại, sau đó, khi lượng đáng kể chất lỏng hòa tan đã xâm

nhập vào bên trong viên nén, thì nội lực tăng lên đủ để phá vỡ màng bao [95], [96].

Trong trường hợp khác, hệ cốt HPMC được bao bởi một polyme khơng tan

làm cho đồ thị giải phóng dược chất q chậm và khơng hồn tồn. Để khắc phục

điều này có thể cho thêm tá dược tạo kênh khuếch tán vào công thức màng bao

phim [105, 106]. Dias và cộng sự đã bao màng cho hệ cốt HPMC tới 4% khối lượng

bằng hỗn dịch EC có chứa 0-20% klg/klg HPMC độ nhớt thấp (low vicosity). Kết

quả cho thấy tốc độ giải phóng dược chất tăng đáng kể khi tá dược tăng khả năng

thẩm thấu được sử dụng [94].

Đối với các chỉ dẫn điều trị nhất định, có thể có ích để đưa ra một thời gian

tiềm tàng trước khi bắt đầu phóng tích thuốc kéo dài. Một giai đoạn trễ trong giải

phóng dược chất cũng có thể đạt mong muốn đạt được trị liệu theo nhịp, để đưa

thuốc tới đích như ruột non hoặc đại tràng, hoặc để làm tăng sự hấp thu tồn thân

của thuốc kém hòa tan trong đoạn trên của đường tiêu hóa (upper gastrointestinal

tract) [102], [87].

Dias và cộng sự đã bao hệ cốt HPMC với hỗn dịch nước EC từ 2-8% khối

lượng và tạo ra thời gian trễ từ 1-5 giờ, thêm vào đó là làm cho tốc độ giải phóng

dược chất chậm hơn. Phương pháp khác sử dụng sự kết hợp màng bao giải phóng trì

hỗn và kéo dài để đạt được giai đoạn trễ theo sau là giải phóng gần như bậc 0

[101].

1.1.3.1. Q trình giải phóng dược chất qua màng bao tạoDược

kênhchất

khuếch tán

Viên nhân



Mơi trường nước



16

Nước



Màng bán thấm liên tục



Màng vi xốp



Chưa hoạt động



Trong khi hoạt động



Hình 1.7. Q trình giải phóng dược chất qua màng tự tạo kênh khuếch tán [92]

Quá trình giải phóng dược chất như sau: Nước từ mơi trường ngồi (dịch tiêu

hóa) thấm qua màng bán thấm vào viên. Nước hòa tan tác nhân tạo tạo kênh khuếch

tán trên màng. Nước hòa tan dược chất và các tá dược tan được tạo trong nhân. Có

sự chênh lệch áp suất tạo động lực đẩy dược chất dưới dạng dung dịch và các chất

tan ra ngồi mơi trường qua các kênh khuếch tán [1], [86].

Q trình giải phóng dược chất trong nhân ra ngồi mơi trường được kiểm

sốt bởi lượng nước thấm qua màng bán thấm, lượng chất lỏng này sẽ hòa tan dược

chất sau đó dược chất được khuếch tán ra ngồi mơi trường. Lượng chất lỏng chảy

vào được mơ tả theo công thức [86].

dV A

= xLp x (σ∆π - ∆P)

dt

h



dV

Trong đó: dt : lượng chất lỏng chảy vào; A: diện tích màng; h: bề dày màng; Lp: hệ



số bán thấm hóa học; σ : hệ số tán xạ; ∆π , ∆P là sự chênh lệch áp suất thẩm thấu và

áp suất thủy tĩnh trong, ngồi màng.

Khi nước vào lòng viên sẽ hòa tan dược chất, đẩy dược chất ra ngồi. Tỷ lệ

dM

giải phóng dược chất dt qua kênh khuếch tán hoặc vi lỗ xốp được tính theo cơng



thức:

dM dV

dt = dt x C



Với C là nồng độ của dược chất phân phối trong một đơn vị thể tích dung dịch.



17



Nếu số lượng và kích thước lỗ xốp tăng, áp suất thủy tĩnh trong hệ sẽ nhỏ, khi

đó ∆π >> ∆P . Nếu ASTT π trong nhân lớn hơn nhiều so với ASTT của mơi trường

dM dV

thì có thể coi π thay cho ∆π . Khi đó phương trình dt = dt x C có thể thành:

dM A

= xLp x π x C

dt

h



Tỷ lệ giải phóng dược chất của hệ được tính qua hai giai đoạn:

- Khi nồng độ bên trong màng còn đạt trạng thái bão hòa, tỷ lệ giải phóng

dược chất tn theo động học bậc khơng từ t= 0 đến t= t z là lúc dược chất đã được

hòa tan hết. Lúc này trong nhân, tỷ lệ hòa tan các chất lớn hơn nhiều so với tỷ lệ

chất được bơm ra, vì thế khả năng hòa tan S có thể thay cho nồng độ C. Tỷ lệ giải

phóng dược chất được tính theo phương trình sau:

 dM 

A





 dt  z = h x Lp x πs x S



- Khi nồng độ bên trong trung tâm không đạt trạng thái bão hòa nữa, tỷ lệ giải

phóng khơng còn tuân theo động học bậc không mà là một hàm theo thời gian. Tỷ lệ

giải phóng được diễn tả theo phương trình.

Fs xS

dM

dt =



 Fs xS



1 + V x( t − t z ) 







2



Trong đó Fs là độ thay đổi thể tích của dung dịch của vi lỗ ở trạng thái bão hòa:

A

Fs = h x Lp x πs



1.1.3.2. Yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ giải phóng dược chất qua màng tự tạo kênh

khuếch tán

Tốc độ giải phóng dược chất qua màng tự tạo kênh khuếch tán phụ thuộc vào

các yếu tố sau [1], [79], [81], [92], [86], [82]:

- Màng bao: Loại và đặc tính tự nhiên của polyme tạo màng, bề dày màng và



18



các tá dược (loại và đặc tính chất hóa dẻo,…) ảnh hưởng nhiều đến khả năng kiểm

sốt giải phóng của màng.

+ Loại polyme tạo màng: Tính thấm của màng có thể tăng hoặc giảm bằng

cách lựa chọn polyme tạo màng, loại và lượng chất hóa dẻo thích hợp. Các loại

polyme thường được sử dụng tạo màng bán thấm phần lớn gồm các ester của

cellulose như: CA, cellulose propionat, cellulose acetat butyrat.

+ Tá dược: Các tá dược dùng trong màng bao cũng ảnh hưởng lớn đến tốc độ

giải phóng dược chất từ hệ, nhất là loại và lượng chất hóa dẻo sử dụng (có 2 loại:

tan trong nước và không tan trong nước).

+ Bề dày màng bao: cũng ảnh hưởng lớn đến tốc độ giải phóng, thường độ dày

màng bao tỷ lệ nghịch với tốc độ giải phóng dược chất từ hệ. Để giải phóng dược

chất, hệ cần một khoảng thời gian để nước thấm qua màng, hòa tan dược chất

khuếch tán qua màng.

- Dược chất: Độ tan của dược chất ảnh hưởng lớn tới tốc độ giải phóng dược

chất. Với các chất ít tan thường sử dụng một số phương pháp để điều chỉnh độ tan

của dược chất trong nhân hoặc bào chế dưới dạng hệ phân tán dược chất. Các dược

chất có độ tan q lớn thì khó kéo dài được tốc độ giải phóng và tốc độ giải phóng

thường khơng ổn định.

- Tá dược tạo kênh hoặc lỗ xốp: lượng tá dược tạo kênh ảnh hưởng đến khả

năng kiểm sốt giải phóng của màng bao, lượng nhiều quá sẽ tạo ra mật độ lỗ cao,

đường kính lỗ lớn, sẽ khó kiểm sốt q trình giải phóng dược chất và động học giải

phóng càng khó đạt động học bậc khơng.

1.2. TỔNG QUAN VỀ GLIPIZID

1.2.1. Cơng thức hóa học

- Cơng thức cấu tạo:



19



- Cơng thức phân tử: C21H27N5O4S.

- Khối lượng phân tử: 445.55.

- Tên khoa học: 1-cyclohexyl-3-[[p-[2-(5-methylpyrazinecarboxamido) ethyl]

phenyl] sulfonyl] urea [2].

1.2.2. Tính chất lý hố

- Bột màu trắng hoặc khơng màu. ít tan trong nước và ethanol và rất ít tan

trong aceton, dicloromethan. Tan trong dung dịch pha loãng hydroxid kiềm, tan

trong dung dịch natri hydroxyd 0,1N; dễ tan trong dimethylformamid, cũng tan

trong chloroform.

- Glipizid là một acid yếu, có pKa = 5,9. Nhiệt độ nóng chảy từ 208- 209oC.

- Độ ổn định của Glipizid: Glipizid ổn định trong điều kiện tránh ánh sáng,

nhiệt độ dưới 30oC.

1.2.3. Dược động học

- Hấp thu: Glipizid hấp thu nhanh, đồng nhất và hoàn toàn từ đường tiêu hóa

khi uống dạng bào chế giải phóng ngay. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được 1

- 3 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng của Glipizid đạt khoảng 100% sau khi uống

liều đơn trên bệnh nhân tiểu đường týp 2 vì khơng chuyển hóa qua gan lần đầu. Sự

tái hấp thu trong đường tiêu hóa cũng hầu như hồn tồn. Tuy nhiên sự hấp thu

khơng đều trên các bệnh nhân tiểu đường do tác động của nhu động dạ dày và tốc

độ tháo rỗng dạ dày. Với trường hợp Glipizid giải phóng kéo dài, thức ăn khơng ảnh

hưởng đến thời gian tiềm tàng của dạng thuốc trong đường tiêu hóa, nhưng ảnh

hưởng đến tốc độ hấp thu Glipizid [2], [57].

- Phân bố: Glipizid khơng tích lũy trong huyết tương khi dùng liều nhắc lại.

Liên kết với protein - huyết tương cả đường uống và tiêm 1 giờ sau khi dùng thuốc

là 98 - 99%, Glipizid liên kết chủ yếu với albumin. Glipizid được phân bố nhanh và

có thể tích phân bố biểu kiến nhỏ, khoảng 0,14 kg/lít với dao động 0,07- 0,19 kg/lít.

Thể tích phân bố là 11 lít sau khi tiêm tĩnh mạch [2].

- Chuyển hóa: Glipizid chuyển hóa mạnh chủ yếu ở gan. Các chất chuyển hóa

ban đầu là các chất hydroxyl hóa khơng hoạt tính và các chất liên hợp phân cực. Hai



20



sản phẩm chuyển hóa là trans- 4- hydroxyGlipizid và cis- 3- hydroxyGlipizid. Các

chất chuyển hóa chính của Glipizid là các sản phẩm của hydroxyl hóa nhân thơm và

khơng có tác dụng dược lý. Chuyển hóa lượng nhỏ, ít hơn 2% liều uống, là một dẫn

chất acetylamino" ethylbenzen có từ 1/10- 1/3 tác dụng dược lý của chất gốc [57].

- Thải trừ: Nửa đời thải trừ của Glipizid khoảng 2 - 4 giờ (cả đường uống và

tiêm tĩnh mạch). Thải trừ chủ yếu qua nước tiểu (khoảng < 10% thải trừ qua nước

tiểu dưới dạng không đổi) [2].

1.2.4. Tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng

Glipizid là sulfonyl urê dùng đường uống, có tác dụng làm giảm glucose huyết

tới mức bình thường ở người đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Cơ chế tác

dụng của Glipizid là kích thích tiết insulin từ tế bào beta của tuyến tụy, làm giảm

lưu lượng glucose từ gan ra huyết thanh, thuốc làm tăng tác dụng của insulin ở tế

bào đích ngoại biên. Glipizid làm giảm glucose máu bằng cách kích thích giải

phóng insulin từ tế bào beta của tuyến tụy. Giống như các sulfunyl urê khác,

Glipizid tương tác với receptor của tế bào beta tuyến tụy và khóa kênh kali nhạy

cảm với adenosin triphosphat, dẫn tới mở kênh calci nhạy cảm điện thế, tạo ra dòng

ion calci liên hợp calci-calmodulin, kích hoạt kinase và sự giải phóng insulin chứa

các hạt exocytosis. Cơ chế khác: làm tăng độ nhạy cảm của các mô ngoại biên để

insulin tác dụng, tăng số lượng receptor và tăng liên kết của insulin với receptor [2],

[57].

Tác dụng ngồi tuyến tụy cũng có thể đóng vai trò chính trong tác dụng dược

lý của các thuốc hạ đường huyết sulfunyl urê đường uống. Trong trường hợp của

Glipizid, hai tác dụng quan trọng ngoài tuyến tụy là làm tăng sự nhạy cảm với

insulin và làm giảm sản suất glucose ở gan. Glipizid cũng làm tăng nồng độ insulin

trong máu bằng cách làm giảm hấp thu glucose trong ruột, có thể do kích thích giải

phóng somatostatin. Thêm vào tác dụng giải phóng insulin trực tiếp, liệu pháp làm

tăng chức năng tế bào beta thứ cấp như là hậu quả của giảm hiện tượng tăng đường

huyết, Glipizid cũng cho thấy có ảnh hưởng trên lipid máu, tiểu cầu và có tác dụng

lợi tiểu nhẹ [2], [57].

1.2.5. Chỉ định, liều lượng, cách dùng



21



Người bệnh tiểu đường tuýp 2 không phụ thuộc insulin, mà khơng kiểm sốt

được bằng điều chỉnh chế độ ăn đơn độc [2], [57].

Xác định liều Glipizid dựa trên đáp ứng trên từng bệnh nhân và kết quả kiểm

tra nồng độ glucose trong máu và nước tiểu.

* Với viên qui ước:

Liều khởi đầu: ở người lớn uống 2,5- 5 mg/ngày, 30 phút trước bữa ăn sáng.

(người bệnh gan và người cao tuổi uống liều 2,5mg/ngày)

Liều duy trì: tủy theo theo đáp ứng điều trị của người bệnh. Liều có thể tăng

lên 15-40 mg phải chia nhiều lần trong ngày, uống 30 phút trước bữa ăn có hàm

lượng calo đầy đủ.

* Với viên GPKD:

Liều khởi đầu: uống 5 mg/ngày, 30 phút trước bữa ăn sáng.

Liều duy trì: 5 -10 mg/ngày.

Người bệnh đang dùng insulin: Ðối với người có nhu cầu insulin hàng ngày 20

đơn vị hoặc ít hơn, có thể ngừng insulin và bắt đầu điều trị Glipizid với liều thơng

thường. Ðối với người có nhu cầu insulin hàng ngày lớn hơn 20 đơn vị, phải giảm 50%

liều insulin và có thể bắt đầu điều trị Glipizid với liều thông thường [2], [57].

1.2.6. Tác dụng không mong muốn

Tác dụng không mong muốn thýờng gặp: Ðau đầu, chán ăn, buồn nơn, nơn,

ỉa chảy, cảm giác đầy bụng, táo bón, nóng rát ngực, ban đỏ, mày đay, mẫn cảm ánh

sáng.

Tác dụng khơng mong muốn ít gặp: Phù, hạ glucose huyết, hạ natri huyết,

hội chứng tiết hormon kháng niệu khơng thích hợp, rối loạn tạo máu, thiếu máu bất

sản, thiếu máu tan máu, suy tủy, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hạt, vàng da, ứ mật.



1.2.7. Chống chỉ định

Người đái tháo đường nhiễm toan thể ceton hôn mê hoặc không hôn mê hoặc

bị bệnh nặng, suy gan, phẫu thuật, mang thai, cho con bú, khi đó phải dùng insulin

thay thế. Mẫn cảm với Glipizid hoặc đái tháo đường phụ thuộc insulin (đái tháo



22



đường thiếu niên) [2], [57].

1.2.8. Một số chế phẩm Glipizid trên thị trường

Bảng 1.1. Một số chế phẩm Glipizid trên thị trường

Dạng bào

chế



Viên nén

thường



Viên GPKD



Tên biệt dược



Nhà sản xuất



Savi Glipizid 5

Glipizid 5mg

Glipizid 5mg

Glipizid AQP



Savipharm

Domesco

Cty CP DP Cửu Long

Affordable

Quality

Pharmaceuticals Inc (Mỹ)

Stada Việt Nam

Industria Farmaceutica Nova

(Argentia)

Pfizer (Mỹ)

Pfizer (Mỹ)

Pfizer (Mỹ)

Pfizer (Pháp)



Stadipizid10

Novanazid

Glucotrol

Glucotrol XL

Glipizid XL

Ozidia



Hàm

lượng

(mg)

5

5

5

5

10

5

2,5

2,5;5; 10

2,5;5; 10

2,5;5; 10



Glipizid ER



Patheon Pharmaceutical inc. 5; 10

(Mỹ)



Glynase XL

Glupin CR



USV (Ấn độ)

Vellpharm (Việt Nam)



23



Cấu trúc



5, 10

5



Bơm

thẩm thấu

Viên cốt

bao màng

KSGP

Viên cốt

Bơm

thẩm thấu



1.2.9. Các phương pháp định lượng Glipizid

Các phương pháp định lượng Glipizid từ dạng bào chế: Glipizid là một acid

yếu có pKa 5,9 có bề mặt sơ nước nên ít tan trong nước (độ tan 32,7 mg/lit) và môi

trường có pH acid và dễ tan hơn trong mơi trường trung tính, mơi trường kiềm và

methanol, methylen clorid nên trong các phương pháp định lượng thường sử dụng

dung môi methanol hoặc chuyển về pH trung tính và kiềm để hòa tan Glipizid trước

khi sử dụng các các phương pháp hóa lý để định lượng Glipizid trong mẫu thử như

quang phổ tử ngoại ở bước sóng 223 nm hoặc 275 nm, máy sắc ký lỏng hiệu năng

cao với detector tử ngoại ở bước sóng 223 nm hoặc 275 nm, hoặc sắc ký lỏng khối

phổ, sắc ký lỏng siêu hiệu năng (HPLC), phương pháp miễn dịch phóng xạ [13],

[15], [45], [71], [77], [69].

Phương pháp quang phổ tử ngoại thường được sử dụng trong khảo sát sàng lọc

các công thức ban đầu và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố công thức và tối ưu

công thức. Phương pháp HPLC UV, LC MS, UPLC, phương pháp miễn dịch phóng

xạ thường được sử dụng để định lượng Glipizid có trong huyết tương, nước tiểu,…

trong nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng in vivo [13], [15], [45], [71], [77].

Theo USP 34, Glipizid được định lượng bằng phương pháp HPLC, detector

UV ở bước sóng 225nm. Pha động: dung dịch đệm phosphat pH 6,0:

acetonitril:methanol (70:20:10), thể tích tiêm 10 µl [69].

1.2.10. Một số nghiên cứu về hệ thuốc chứa Glipizid giải phóng kéo dài

1.2.10.1 Viên nén dạng cốt GPKD

Gidwani và cộng sự (2000) đã nghiên cứu bào chế viên nén Glipizid dạng

cốt GPKD sử dụng tá dược tạo cốt là các polyme thân nước như HPC, NaCMC,

HPMC và hỗn hợp của chúng với tỷ lệ 1: 12 đến 12: 1 để kiểm sốt giải phóng dược

chất; phối hợp với các tá dược khác như lactose, Avicel, dicalci phosphat, gôm

Acacia, HPMC, NaCMC, silicon dioxyd, talc, tinh bột, magnesi stearat,.. Viên nén

được bào chế bằng phương pháp dập viên qua tạo hạt ướt. Sau đó được thử giải

phóng trong 24 giờ theo USP trong môi trường dịch ruột ở pH 1,2 trong 1 giờ đầu

tiên và pH 6,8 ở các giờ tiếp theo. Kết quả cho thấy viên GPKD sau 1 giờ giải

phóng từ 2- 4%, sau 2 giờ: 9- 13%; sau 8 giờ: 28- 48%; sau 12 giờ: 72- 85%. Viên



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.4: Sơ đồ biểu diễn công nghệ RingCap [75], [76] (Trong đó, 1,12,30,32,34, 50, 52,56 là cốt chứa dược chất; 20, 22,24, 60, 62,64,66 là các đai hoặc vòng).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×