Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

(a)



(c)



(b)



Hình 3.1. Mối tương quan giữa mật độ quang và nồng độ dung dịch Glipizid trong

các môi trường khác nhau

Kết quả ở hình 3.1 cho thấy mật độ quang có quan hệ tuyến tính với nồng độ

glipizid trong các mơi trường pH 1,2 (a); pH 4,5 (b) và đệm phosphat pH 6,8 (c) ở

khoảng nồng độ từ 2 µg/ml đến 15 µg/ml với hệ số tương quan R 2 ≈ 1. Như vậy, có

sự tương quan tuyến tính giữa mật độ quang và nồng độ glipizid trong khoảng khảo

sát. Do đó, có thể sử dụng phương pháp quang phổ hấp thụ UV tại bước sóng 223

nm để định lượng glipizid giải phóng trong q trình hòa tan.



3.1.2. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao



Điều kiện sắc ký như trong mục 2.2.2



63



3.1.2.1. Khảo sát tính tương thích của hệ thống

Tiến hành tiêm lặp lại 6 lần dung dịch glipizid chuẩn có nồng độ 10µg/ml và

ghi lại các giá trị về thời gian lưu (t R), diện tích pic, hệ số bất đối xứng. Độ lặp lại

của hệ thống được biểu thị bằng độ lệch chuẩn tương đối RSD. Kết quả được ghi

trong bảng 3.2.

Bảng 3.2. Kết quả kiểm tra sự phù hợp của phương pháp sắc ký

STT

Thông số

Giá trị

1

Thời gian lưu tR (phút)

3,78

2

RSD của tR (%)

0,40

3

RSD của diện tích pic trung bình (%)

0,48

5297946

4

Diện tích pic TB (mAU)

5

Hệ số bất đối xứng

1,31

Từ kết quả bảng 3.2 cho thấy, RSD của thời gian lưu và diện tích pic đều nhỏ

hơn 2%. Điều kiện HPLC cho độ lặp lại tốt về thời gian lưu, diện tích pic và hệ số

bất đối xứng đối với cả 2 thành phần phân tích. Hệ thống tương thích với quy trình

định lượng.

3.1.2.2. Thẩm định quy trình phân tích

a. Tính đặc hiệu

Để chứng minh sự có mặt của tá dược và dung môi pha động không ảnh

hưởng đến phương pháp phân tích. Khảo sát trên mẫu tự tạo gồm: mẫu placebo (hỗn

hợp tá dược có thành phần như cơng thức viên), mẫu thử (Gli), ghi lại diện tích pic

và thời gian lưu của các pic của glipizid, kết quả được trình bày ở hình 3.2.

Trên sắc ký đồ hình 3.2 (b), pic của glipizid xuất hiện sau 3,77 phút. Trên sắc

ký đồ của mẫu trắng, không thấy xuất hiện pic lạ tại vị trí pic của glipizid. Điều đó

chứng tỏ tá dược và dung mơi pha động khơng làm ảnh hưởng đến kết quả định

lượng glipizid bằng phương pháp HPLC.



64



a.



b.



c.



Hình 3.2. Sắc ký đồ: a – mẫu trắng, b- mẫu chuẩn, c – mẫu thử

b. Tính tuyến tính

Khảo sát sự phụ thuộc tuyến tính giữa diện tích pic và nồng độ Glipizid bằng

cách pha dãy dung dịch chuẩn Glipizid có nồng độ lần lượt là 0,5; 1; 2; 4; 6; 8; 10;

12; 15; 20 µg/ml. Tiến hành sắc ký. Kết quả được trình bày ở bảng 3.3 và hình 3.3.



Bảng 3.3. Sự phụ thuộc tuyến tính giữa nồng độ glipizid và diện tích pic

Nồng độ

(µg/ml)



Diện tích pic

(mAU.s)



Nồng độ

(µg/ml)



65



Diện tích pic

(mAU.s)



0,5



300159,3



8



4332575,7



1



555935,0



10



5297945,7



2



1087499,3



12



6292494,3



4



2131288,3



15



8190341,0



6



3167359,3



20



10687658,3



Phương trình hồi qui: Y=535,069x + 4,0371

Hệ số tương quan: R2= 0,9995



Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa diện tích pic và nồng độ của glipizid

Kết quả của bảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy, trong khoảng nồng độ từ 0,5 µg/ml

đến 20 µg/ml, có sự tương quan tuyến tính giữa diện tích pic và nồng độ glipizid

với hệ số tương quan R2 = 0,9995. Trên cơ sở đó, lựa chọn nồng độ khoảng 10

µg/ml để định lượng glipizid trong chế phẩm.

c. Độ lặp lại

Độ lặp lại được đánh giá dựa trên độ lặp lại của 6 thí nghiệm riêng biệt. Kết

quả được trình bày trong bảng 3.4:



Bảng 3.4. Khảo sát độ lặp lại của của phương pháp định lượng HPLC



% Hàm lư



66



Từ kết quả ở bảng 3.4 cho thấy, với quy trình sắc ký đã chọn, phương pháp

định lượng Glipizid có độ chính xác cao, độ lệch chuẩn tương đối là 0,39% (<2%),

đạt tiêu chuẩn theo qui định.

d. Tính đúng

Tiến hành xác định độ đúng bằng phương pháp thêm chuẩn. Thêm một lượng

Glipizid chuẩn khoảng 5,0 mg vào mẫu thử sao cho nồng độ vẫn nằm trong khoảng

tuyến tính đã khảo sát, thêm lần lượt 80%, 100%, 120% lượng mẫu chuẩn vào 3

mẫu tương ứng. Kết quả được trình bày ở bảng 3.5.

Bảng 3.5. Khảo sát độ đúng của phương pháp HPLC

STT



Tỷ lệ chuẩn

thêm



1

2

3

4

5

6

7

8

9



80%

80%

80%

100%

100%

100%

120%

120%

120%



Lượng

thêm

Vào (mg)

4

4

4

5

5

5

6

6

6



Hàm lượng

mẫu (mg)



Lượng tìm

lại (mg)



5

5

5

5

5

5

5

5

5

Trung bình

RSD

Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy phương pháp có tỷ



% Tìm

lại



3,965

3,948

4,023

4,949

4,964

4,958

6,034

5,975

5,982



99,13%

98,70%

100,58%

98,98%

99,28%

99,16%

100,57%

99,58%

99,70%

99,52%

0,67%

lệ tìm lại là 99,52% (từ



98,70% đến 100,58%) và độ lệch chuẩn tương đối là 0,67% (<2%). Điều đó chứng

tỏ phương pháp có độ đúng cao, đạt yêu cầu. Như vậy, phương pháp HPLC đã xây

dựng có khoảng tuyến tính thích hợp, độ đúng, độ lặp lại cao. Có thể ứng dụng

phương pháp HPLC này để định lượng Glipizid trong các mẫu phân tích.

3.2. THỬ HÒA TAN VIÊN ĐỐI CHIẾU



Glucotrol XL (Pfizer- Mỹ) là dạng viên giải phóng kéo dài theo cơ chế bơm

thẩm thấu với các hàm lượng 2,5; 5; 10mg. Hiện nay sản phẩm này được nhượng



67



quyền cho các nước hoặc sản xuất ở các nước dưới các tên biệt dược khác nhau và

thuốc generic. Ví dụ như Ozidia (Pfizer – Pháp), Glipizide XL (Sandoz).

Trong nghiên cứu này, lựa chọn viên nén Ozidia 10mg (Pfizer – Pháp) để làm

viên đối chiếu trong nghiên cứu với số lô Z341304 hạn sử dụng tháng 10/2017. Tiến

hành đánh giá độ hòa tan của viên Ozidia 10 mg theo các phương pháp trình bày ở

mục 2.2.2. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.6, hình 3.4.

Bảng 3.6. Tỷ lệ % Glipizid giải phóng từ viên đối chiếu Ozidia 10 mg trong

môi trường đệm phosphat pH 6,8 (n= 12)

Thời gian (giờ)



1



2



3



4



5



6



8



10



12



16



Ozidia (%)



0,33



2,01



8,70



17,1



25,9



35,0



51,5



69,7



86,3



109,3



Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ % Glipizid giải phóng từ viên đối chiếu Ozidia

10mg trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 (n= 12)

Khi thử hòa tan viên Ozidia 10mg trong mơi trường đệm pH 6,8, trong 2 giờ

đầu tiên dược chất chỉ giải phóng được 2,01%. Giai đoạn từ 2 giờ đến 16 giờ, dược

chất được giải phóng đều đặn gần như tuyến tính theo phương trình y = 8,8812x –

16,4103 (với hệ số tương quan R 2= 0,9995) với tốc độ khoảng 8,4 %/giờ (từ 6,67

%- 9,07 %). Sau đó từ 12 giờ đến 16 giờ, dược chất được giải phóng với tốc độ

chậm hơn (khoảng 5,74 %/giờ) và viên đã giải phóng hết dược chất (hàm lượng

viên định lượng được 109,2).

Như vậy, q trình giải phóng dược chất Glipizid từ viên Ozidia giải phóng

kéo dài chứa Glipizid 10 mg, có sự trì hỗn giải phóng ở 2 giờ đầu tiên. Do viên



68



Ozidia cấu tạo viên nén dạng bơm thẩm thấu gồm viên nhân có cấu tạo 2 lớp kéođẩy và màng bao CA có khoan lỗ.

3.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG THỨC VIÊN NÉN GLIPIZID

DẠNG CỐT

3.3.1. Kết quả xây dựng cơng thức viên nén Glipizid dạng cốt qui mơ phòng thí

nghiệm

Trên cơ sở đồ thị giải phóng của viên đối chiếu Ozidia và kết quả khảo sát sơ

bộ lựa chọn thành phần viên nén Glipizid giải phóng kéo dài dạng cốt thân nước

chứa dược chất Glipizid 10 mg/viên. Do Glipizid ít tan và sơ nước, lựa chọn các

polyme tạo cốt là các polyme thân nước gồm: HPMC K100M, HPMC K15M,

HPMC K4M, HPMC K100LV. Để đánh giá ảnh hưởng của tá dược tới tính chất

viên và khả năng giải phóng dược chất, thành phần công thức viên nén Glipizid

được lựa chọn như sau:

Glipizid



10 mg



HPMC (K4M, K15M, K100M, K100LV)

Lactose monohydrat



Vừa đủ



Mg stearat, Aerosil



Vừa đủ



Dung dịch tá dược dính PVP 10%/ethanol

3.3.1.1. Ảnh hưởng của loại polyme



Vừa đủ

Vừa đủ



Để đánh giá ảnh hưởng của loại polyme tới đặc tính của viên cốt và khả năng

giải phóng dược chất từ viên. Cố định tỷ lệ polyme: dược chất (5:1) và tỷ lệ các

thành phần khác trong viên (magnesi stearat : Aerosil (2:1), lactose, PVP 10%), thay

đổi loại polyme HPMC K4M (CT1), HPMC K15M (CT2), HPMC K100M (CT3),

HPMC K100LV (CT4)).

Tiến hành bào chế các công thức như ở bảng 3.7 và theo phương pháp mô tả ở

mục 2.2.1 qui mô 200 viên/mẻ và đánh giá khả năng giải phóng dược chất theo

phương pháp ghi ở mục 2.2.2. Kết quả độ hòa tan được trình bày ở hình 3.5.

Bảng 3.7. Cơng thức viên nén Glipizid GPKD có loại polyme thân nước khác nhau

CT1

10



69



50



113

2

1

10



Hình 3.5. Tỷ lệ % dược chất giải phóng từ viên có loại polyme khác nhau (n= 6)

Kết quả ở hình 3.5 cho thấy khi sử dụng cùng tỷ lệ polyme tạo cốt (tỷ lệ

polyme: dược chất 5:1), các viên bào chế từ loại polyme khác nhau có tốc độ giải

phóng dược chất từ viên khác nhau. Tốc độ giải phóng tăng dần theo thứ tự HPMC

K100M < HPMC K15M < HPMC K4M < HPMC K100LV, tỷ lệ nghịch với độ nhớt

của polyme.

Với công thức sử dụng HPMC K100LV (CT4), dược chất được giải phóng

nhanh nhất, cụ thể sau 6 giờ đã giải phóng trên 80% dược chất (87,56%). Có thể là

do HPMC K100LV là polyme thân nước có độ nhớt thấp, dễ trương nở và hòa tan

nhanh trong nước, nên khi viên cốt tiếp xúc với mơi trường hòa tan nước dễ dàng

thấm vào và hòa tan nhanh polyme, lactose và dược chất trên bề mặt viên, viên cốt

nhanh chóng bị ăn mòn từ bề mặt viên vào trong lòng cốt do polyme HPMC

K100LV tạo thành lớp gel có độ nhớt thấp, lỏng lẻo và mòn nhanh trong mơi trường

thử hòa tan.

Với viên cốt bào chế sử dụng HPMC K4M, HPMC K15M và HPMC K100M



70



thì dược chất giải phóng từ viên chậm hơn, đặc biệt là cơng thức viên có cốt là

HPMC K100M (sau 10 giờ chỉ giải phóng được 5,60 %). Điều này có thể giải thích

là do HPMC K100M có khối lượng phân tử lớn và độ nhớt cao nhất, nên trương nở

chậm và hòa tan chậm trong nước. Khi viên tiếp xúc với mơi trường hòa tan, các

polyme này trương nở chậm tạo thành lớp gel có độ nhớt cao, chính lớp gel này tạo

thành hàng rào cản trở quá trình thấm của nước từ môi trường và đồng thời cản trở

quá trình dược chất khuếch tán từ trong cốt ra ngồi. Kết quả là dẫn tới làm chậm

q trình hòa tan dược chất từ viên cốt. Độ nhớt càng cao thì polyme càng làm giảm

tốc độ giải phóng dược chất từ cốt.

Trong các công thức trên, công thức CT1 (chứa HPMC K4M) có tốc độ giải

phóng dược chất đều đặn và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu được lựa chọn cho

các nghiên cứu tiếp theo.

3.3.1.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ Glipizid- HPMC K4M (tỷ lệ %polyme/viên)

Để đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ polyme: dược chất, thay đổi tỷ lệ dược chất:

HPMC K4M là 1:2 (CT5), 1:5 (CT1), 1:10 (CT6) và cố định các thành phần khác

trong viên như ở bảng 3.8. Viên được bào chế theo phương pháp 2.2.1 và đánh giá

khả năng giải phóng theo phương pháp 2.2.2. Kết quả được trình bày ở hình 3.6.



Bảng 3.8. Cơng thức viên Glipizid GPKD có tỷ lệ HPMC K4M- Glipizid khác nhau

CT5

10

20

143

2

1

10



71



Hình 3.6. Tỷ lệ % dược chất giải phóng từ viên nén Glipizid GPKD có tỷ lệ dược

chất: HPMC K4M khác nhau (n = 6)

Từ kết quả hình 3.6 cho thấy, khi tăng tỷ lệ polyme HPMC K4M trong viên

cốt thì tốc độ giải phóng dược chất từ viên càng giảm. Điều này chứng minh vai trò

kiểm sốt giải phóng của polyme tạo cốt có ảnh hưởng mạnh tới khả năng giải

phóng dược chất từ dạng cốt.

Ở tỷ lệ Glipizid: HPMC K4M là 1:2, trong 1 giờ Glipizid đã giải phóng hơn

50% (53,88%), điều này là do lượng HPMC K4M chưa đủ để tạo nên hàng rào gel

kiểm sốt giải phóng dược chất.

Tiếp tục tăng tỷ lệ polyme trong viên thì khả năng kiểm sốt q trình hòa tan

dược chất càng tăng lên. Tại thời điểm 5 giờ, viên cốt CT5 (tỷ lệ Glipizid: HPMC

K4M =1:2) giải phóng 56,04% dược chất. Trong khi đó, tỷ lệ Glipizid: HPMC K4M

=1: 5 giải phóng 16,59% và 8,54% với viên có tỷ lệ Glipizid: polyme =1:10 ở cùng

thời điểm.

Có thể giải thích là do khi viên cốt tiếp xúc với mơi trường hòa tan, HPMC

K4M hút nước trương nở tạo ra hàng rào gel có độ nhớt cao bao quanh viên cốt, có

vai trò kiểm sốt lượng nước đi vào viên từ mơi trường và kiểm sốt tốc độ giải

phóng Glipizid từ trong viên ra. Chính vì vậy, khi lượng polyme càng tăng, tạo lớp

gel càng dày, dẫn tới nước thấm qua lớp gel vào viên và tốc độ hòa tan Glipizid từ

viên cốt càng chậm lại.

Khi tăng lượng polyme trong viên đồng thời cũng giảm lượng tá dược độn

lactose, và ngược lại. Do lactose là tá dược độn dễ tan trong nước, nên dễ hòa tan

tạo thành các kênh có vai trò kéo nước từ ngồi vào trong viên và khuếch tán dược



72



chất ra ngồi. Vì vậy, khi tăng lượng HPMC K4M, lượng lactose giảm đồng nghĩa

với sự giảm đi của số lượng kênh khuếch tán được tạo thành, nên cũng hiệp đồng

với sự tăng lên của bề dày lớp gel làm cho tốc độ khuếch tán của dược chất qua lớp

gel càng chậm. Ngược lại, khi giảm lượng polyme, tăng lượng lactose cũng làm

tăng số lượng tăng kênh khuếch tán và giảm bề dày lớp gel nên dược chất khuếch

tán dễ dàng và nhanh hơn ra khỏi viên. Như vậy, ngồi vai trò chính của polyme

kiểm sốt giải phóng HPMC K4M, thì tá dược độn lactose cũng góp 1 phần vào q

trình giải phóng dược chất.

Khi so sánh với viên đối chiếu, viên cốt có tỷ lệ dược chất: HPMC K4M 1:5

có tốc độ giải phóng chậm hơn khoảng 4,61%/giờ (trong giai đoạn từ 3-16 giờ) và

đến 16 giờ chưa giải phóng hết dược chất (chỉ giải phóng được 66,60%).

Do vậy để tăng tốc độ giải phóng dược chất từ viên cốt, cần phối hợp HPMC

K4M với một polyme thân nước có độ nhớt thấp hơn. Từ kết quả nghiên cứu ở trên,

HPMC K100LV có độ nhớt thấp và dễ ăn mòn hơn nên được lựa chọn để phối hợp với

HPMC K4M làm tá dược kiểm sốt giải phóng dược chất để tiếp tục nghiên cứu.

3.3.1.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ HPMC K100LV- HPMC K4M

Để lựa đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ polyme HPMC K100LV phối hợp, thay

đổi tỷ lệ HPMC 100LV:HPMC 4M với các tỷ lệ lần lượt như sau 1:3 (CT7),

1:1(CT8), 3:1 (CT9) và cố định tỷ lệ polyme:dược chất là 10:1 và các thành phần

khác trong viên như ở bảng 3.9. Viên được bào chế theo phương pháp 2.2.1 được

đánh giá khả năng giải phóng theo phương pháp 2.2.2. Kết quả thử hòa tan được

trình bày ở hình 3.7.

Bảng 3.9. Cơng thức viên Glipizid GPKD có tỷ lệ HPMC K4M- 100LV khác nhau

Thành phần

(mg/viên)



CT7



CT8



CT9



Glipizid



10



10



10



HPMC K4M



75



50



25



HPMC K100LV



25



50



75



Lactose



63



63



63



Mg stearat



2



2



2



73



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×