Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phương pháp định lượng Glipizid từ dạng bào chế: Glipizid là một acid yếu có pKa 5,9 có bề mặt sơ nước nên ít tan trong nước (độ tan 32,7 mg/lit) và môi trường có pH acid và dễ tan hơn trong môi trường trung tính, môi trường kiềm và methanol, methylen

Các phương pháp định lượng Glipizid từ dạng bào chế: Glipizid là một acid yếu có pKa 5,9 có bề mặt sơ nước nên ít tan trong nước (độ tan 32,7 mg/lit) và môi trường có pH acid và dễ tan hơn trong môi trường trung tính, môi trường kiềm và methanol, methylen

Tải bản đầy đủ - 0trang

nén 5mg GPKD được đánh giá sinh khả dụng trên 12 người tình nguyện, kết quả

thu được nồng độ dược chất trong máu sau 24 giờ là 50- 60 ng/ml [27].

Jolly M. Sankalia và cộng sự (2008), đã đánh giá khả năng giải phóng và

tương quan IVIVC của viên nén Glipizid giải phóng kéo dài dạng cốt thân nước.

Nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của EC, cellulose vi tinh thể, HPMC, gôm

Xanthan, gôm guar, tinh bột, lactose tới khả năng giải phóng và mơ hình giải phóng

dược chất từ viên nén. Tương quan IVIVC được thiết lập dựa trên so sánh các thông

số dược động học của viên nén tối ưu M24 với viên Glytop 2,5SR sau khi nghiên

cứu liều đơn trên chuột nhắt trắng. Kết quả cho thấy tỷ lệ polyme kiểm sốt giải

phóng và tỷ lệ tá dược quyết định đến cơ chế, thời gian và đồ thị giải phóng dược

chất từ viên nén [34].

Parasuram Rajam Radhika (2009) đã nghiên cứu thiết kế và tối ưu hóa công

thức viên nén Glipizid GPKD dạng cốt bằng phương pháp phân tích mặt đáp. Viên

nén được bào chế phương pháp tạo hạt ướt sử dụng HPMC K100 và Eudragit L 100

để tạo cốt. Biến độc lập là HPMC K100 và Eudragit L 100. Các biến phụ thuộc là %

thuốc được giải phóng trong 2 giờ, 8 giờ và 12 giờ. Nghiên cứu đã giúp cho việc

xây dựng tối ưu với dạng thuốc giải phóng kéo dài [53]. Hindustan Abdul Ahad và

cộng sự đã nghiên cứu bào chế viên nén Glipizid GPKD dạng cốt bằng cách kết hợp

chất nhầy của lá cối xay và povidon [31].

Đối với hệ cốt Glipizid, Jamzad và cộng sự đã nghiên cứu sử dụng các tá

dược kiểm sốt giải phóng dược chất từ cốt như HPMC K15M, HPMC K100M,

HPMC K100LV, PEO và các tá dược độn để dập thẳng thành viên nén. Viên bơm

thẩm thấu Glucotrol XL 10mg được lựa chọn làm viên đối chiếu. Thông qua đánh

giá tương quan giữa mức độ hydrat hóa hệ cốt, sự ăn mòn và các đặc tính của cấu

trúc để lựa chọn công thức tối ưu cho khả năng giải phóng tương tự như Glucotrol

XL (f2> 50). Nghiên cứu cho thấy khi sử dụng PEO làm tá dược tạo cốt ăn mòn thì

mức độ hydrat hóa và trương nở thấp hơn so với sử dụng các HPMC và bắt đầu bị

ăn mòn bề mặt ngay từ những giờ đầu tiên của thử nghiệm hòa tan. Ngồi ra, PEO

có độ bền kéo thấp nên sử dụng MCC như một chất trợ nén trong dập thẳng, đồng

thời chất này có khả năng hút nước, do đó khi phối hợp có thể cải thiện độ hút nước



25



và cải thiện các đặc tính khiếm khuyết của hệ, kết quả khi thử nghiệm hòa tan cho

f2= 58,16 khi dùng hệ cốt HMPC K15M và HPMC K100LV cho f 2= 58,02. Động

học của quá trình giải phóng liên quan trực tiếp tới sự đồng đều giữa q trình

trương nở, ăn mòn và giải phóng [33].

Timilsina đã nghiên cứu bào chế viên Glipizid GPKD dạng cốt thân nước sử

dụng phương pháp tạo hạt ướt với tá dược tạo cốt là hydroxypropylmethyl cellulose

(loại HPMC 5 cps và HPMC 15 cps) và tá dược độn là lactose. Sử dụng viên đối

chiếu là Glynase. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ giải phóng Glipizid từ viên

giảm khi tăng tỷ lệ polyme hoặc tăng độ nhớt của polyme, tác giả giải thích điều

này có thể là do làm tăng sự trương nở và giảm tốc độ ăn mòn của viên cốt [124].

Nazir đã nghiên cứu bào chế viên Glipzid GPKD dạng cốt khác nhau và so

sánh khi sử dụng phương pháp tạo hạt ướt với tá dược EC 45cps, HPMC K15M.

Kết quả thử hòa tan trong 450 ml dung dịch NaOH 0.1M trong 12h cho thấy: tốc độ

giải phóng Glipizid từ viên giảm khi tăng lượng polyme trong viên. Hiệu quả kéo

dài giải phóng từ viên bào chế với HPMC tốt hơn so với EC. Công thức chứa %

Glipizid, 50% HPMC, 39% lactose, 1.0% magnesi stearat cho đồ thị giải phóng

tuyến tính hơn khi so sánh với viên Glipizid XL [115].

1.2.10. 2. Một số nghiên cứu về bao màng KSGP cho viên cốt thân nước chứa

glipizid và một số dược chất khác

Raxit Y.Mehta và cộng sự đã nghiên cứu áp dụng bao màng Ethylcellulose cho

cốt thân nýớc nhằm ðiều chỉnh ðồ thị giải phóng thuốc và làm giảm sự biến ðổi giải

phóng thuốc. Viên cốt chứa dýợc chất ít tan hydrochlorothiazid, HPMC K100LV,

lactose hoặc tinh bột biến tính (Starch 1500), silicon dioxyd, magnesi stearat ðýợc

bào chế bằng phýõng pháp dập thẳng. ðánh giá giải phóng in vitro ở tốc ðộ khuấy

cao hõn (150 vòng/phút). Viên cốt thu được có độ cứng > 15kp được bao màng

kiểm sốt giải phóng với polyme EC (Surelease®) với tá dược tạo kênh HPMC

6cps, triacetin, talc (Opadry®), nước. Viên cốt chứa lactose được bao màng kiểm

soát chứa EC (ETHOCEL™Standard 20 Premium) và tá dược tạo kênh

hypromellose (METHOCEL E5LV) ở tỷ lệ 85:15 và 6:40 trong hỗn hợp isopropanol

and water, 90:10 (klg/klg). Viên cốt và viên bao được thử hòa tan với máy thử hòa



26



tan, thiết bị cánh khuấy, trong 900ml môi trường đệm acetat pH 4,5 trong 4 giờ và

sau đó trong đệm phosphat pH 6,8 hoặc môi trường mô phỏng sinh học, với tốc độ

khuấy 50, 100, 150 vòng/phút. Định lượng dược chất bằng phương pháp quang phổ

UV VIS ở bước sóng 272nm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự giải phóng dược chất

từ viên cốt không bao bị ảnh hưởng nhiều bởi tốc độ khuấy, khi tăng tốc độ khuấy

từ 50 lên 150 vòng/phút, tốc độ giải phóng dược chất tăng. Tác động in vitro như

vậy có thể dẫn tới sự biến động/khác nhau (variable) của tốc độ giải phóng in vivo

và có tiểm năng ảnh hưởng của sau ăn. Viên cốt khơng bao với tá dược độn ít tan

Starch 1500 cho thấy giá trị độ lệch chuẩn thấp hơn so với viên cốt chứa lactose.

Với viên cốt bao đều có thời gian tiềm tàng 2 giờ, sau đó giải phóng tuyến tính và

có tác dụng làm giảm khả năng biến đổi của đồ thị giải phóng từ viên. Khi tăng

lượng chất tạo kênh HPMC trong màng bao từ 15% lên 40% dẫn tới loại bỏ thời

gian tiềm tàng bằng động học giải phóng bậc 1. Khi tăng lượng chất tạo kênh càng

tăng tốc độ khuấy thì càng làm tăng sự biến động SD của giải phóng dược chất. Khi

tăng tốc độ khuấy, viên cốt khơng bao chứa lactose có hằng số tốc độ giải phóng

tăng nhanh hơn so với viên cốt chứa Starch 1500 [48].

R.Arora và cộng sự đã nghiên cứu bào chế viên nén cốt thẩm thấu (osmotic

matrix tablets) kiểm sốt giải phóng chứa ketorolac tromethamin (KT) kết hợp hệ

cốt và hệ màng bao bằng cách bao một phần viên nén cốt trương nở với màng bao

phim cellulose acetat. Viên bào chế được đánh giá về đặc tính vật lý và giải phóng

in vitro. Kết quả nghiên cứu cho thấy đồ thị giải phóng từ viên có kiểm sốt hơn và

tuyến tính hơn và ít phụ thuộc vào điều kiện thủy động lực học của mơi trường thử

hòa tan hơn so với viên nén dạng cốt. Tác giả cho rằng hiệu ứng thẩm thấu của phần

bao thẩm thấu hệ cốt góp phần tích cực tới kết quả thu được là đồ thị giải phóng

tuyến tính hơn khi so sánh với viên nén dạng cốt trương nở [88]. Viên nén cốt chứa

KT và HPMC tỷ lệ 1:5, với 1% magnesi stearat được bào chế bằng phương pháp

dập thẳng. Viên cốt được bao màng bán thấm chứa CA, tá dược tạo kênh PEG 400,

triacetin trong hỗn hợp dung môi methylen chlorid: ethyl acetat: 2 ethoxy ethanol

(3:1:1). Tác giả sử dụng phương pháp nhúng viên vào dịch bao để bao từng phần

màng bao nên 2 bề mặt viên, sấy viên ở 30oC trong 48 giờ. Viên cốt và viên bao



27



được đánh giá giải phóng sử dụng thiết bị hòa tan cánh khuấy trong 900ml nước

trong 8 giờ, tốc độ khuấy 100 và 150 vòng/phút. sử dụng mơi trường thử là dung

dịch natri clorid 0,05M và 0,5M để đánh giá ảnh hưởng của phần thẩm thấu trong

động học giải phóng thuốc và mơi trường pH 1,2 trong 2 giờ và sau đó pH 6,8 trong

6 giờ đề đánh giá ảnh hưởng của đường tiêu hóa. Sử dung tốc độ khuấy 150

vòng/phút để đánh giá ảnh hưởng của nhu động ruột. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

màng bao với chất hóa dẻo triacetin có bề mặt mịn màng hơn so với khi sử dụng

PEG400 nhưng kết quả quan sát sau khi thử hòa tan cho thấy màng bao chứa

PEG400 tạo nhiều kênh/lỗ (pores) trên màng hơn, do thân nước hơn nên PEG 400

hòa tan dễ dàng trong môi trường và tạo thành nhiều kênh hơn so với triacetin. Viên

cốt thẩm thấu bao với màng bao chứa PEG 400 có tốc độ và mức độ giải phóng cao

hơn viên bao sử dung triacetin. Sự thay đổi động học giải phóng thuốc từ các viên

cốt thẩm thấu một phần là do sự thay đỏi của khả năng thấm của màng phim hình

thành cốc bao quanh một nửa viên nén, tủy thuộc vào sự có mặt của các loại chất

tạo kênh khác nhau với lượng khác nhau. Cơ chế giải phóng dược chất chủ yếu từ

viên cốt thẩm thấu là do sự khuếch tán qua lớp gel không bao, qua lớp gel tùy theo

áp suất thẩm thấu trong viên và qua các kênh/lỗ trên màng bao phim hình thành

trong q trình hòa tan PEG 400 và triacetin kết hợp. Tốc độ khuấy ít ảnh hưởng tới

giải phóng thuốc từ viên bao hơn so với viên dạng cốt [88].

S. Vidyadhara và cộng sự đã nghiên cứu bào chế kết hợp viên nén cốt thân

nước (chứa verapamil hydroclorid hoặc losartan kali, polyme tạo cốt HPMC K15M,

tá dược thẩm thấu manitol, bào chế bằng phương pháp dập thẳng) bao màng kiểm

soát giải phóng chứa EC 7cps, PEG 6000 có khoan lỗ 0,5 µm trên 1 mặt viên (bằng

microdrill). Thử hòa tan sử dụng thiêt bị cánh khuấy trong môi trường đệm

phosphat pH 6,8. Kết quả nghiên cứu cho thấy viên bao giải phóng hằng định bậc 0

đến 12 giờ [121], [126].

Với mục đích giảm liều dùng cho dược chất ít tan nifedipin, Zaara Majeed

đã nghiên cứu kết hợp bao màng kiểm sốt giải phóng chứa CAP (cellulose acetat

phthalat), tá dược tạo kênh PEG cho viên nén dạng cốt chứa nifedipin với các tá

dược tạo cốt PEO, HPMCK15M, EC và tá dược tạo áp suất thẩm thấu manitol. Kết



28



quả nghiên cứu cho thấy, tốc độ giải phóng dược chất giảm khi tăng lượng polyme

trong viên và đã lựa chọn được công thức tốt nhất là công thức F4(nifedipin, HPMC

K15M, manitol với tỷ lệ 30:10:177), giải phóng theo động học bậc 0 [129].

Meena Raniv và cộng sự đã nghiên cứu so sánh đánh giá in vitro và in vivo

của viên nén dạng cốt (chứa HPMC K4M đơn độc hoặc kết hợp với EC), dạng cốt

thẩm thấu (osmotic matrix-chứa HPMC K4M, talc và dược bao màng KSGP chứa

CA và tá dược tạo kênh PEG 400, triacetin) và viên bơm thẩm thấu (viên nhân chứa

DC, KCl, KHCO3, NaLS, avicel, talc bào chế bằng phương pháp tạo hạt ướt, sau đó

bao màng bán thấm chứa CA, casteroil trong aceton và khoan lỗ 500 µm trên một

mặt viên) nhằm kiểm sốt giải phóng chứa natri diclofenac. Đánh giá thử hòa tan sử

dụng thiết bị thử hòa tan cánh khuấy trong môi trường đệm pH 7,4 và nước. Nghiên

cứu in vivo được thử trên 6 người tình nguyện, định lượng dược chất trong huyết

tương bằng phương pháp HPLC và xác định một số các thông số DĐH như Cmax,

Tmax, AUC0-24..Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ và mức độ giải phóng từ viên

nén dạng cốt chỉ chứa HPMC K4M khác biệt đáng kể so với viên cốt có kết hợp

HPMC K4M với EC. Loại tá dược tạo kênh và tá dược tạo thẩm thấu cũng ảnh

hưởng đến giải phóng dược chất. Kết quả phân tích số liệu in vitro bằng phương

pháp phân tích hệ số hồi quy cho thấy viên cốt thẩm thấu và viên bơm thẩm thấu

tuân theo động học giải phóng bậc 0 trong khi viên nén dạng cốt theo mơ hình động

Higuchi. Kết quả đánh giá in vivo cho thấy nồng độ máu được duy trì kéo dài và

sinh khả dụng của viên chế tạo được cải thiện so với viên thương mại. Tác giả cho

rằng viên dạng cốt thẩm thấu và viên bơm thẩm thấu có thể giúp kéo dài có kiểm

sốt sự giải phóng dược chất độc lập với mơi trường trong đường tiêu hóa, do vậy

làm tăng hiệu quả điều trị [113].

Rathnanand và cộng sự đã nghiên cứu thiết kế viên nén GPKD chứa

carbamazepin bằng kỹ thuật kiểm sốt ăn mòn. Viên nhân được bào chế bằng

phương pháp tạo hạt ướt sử dụng HPMC E5 là polyme tạo cốt thân nước, tá dược

dính PVP K30 trong ethanol, NaCl, NaLS, MgSt, talc. Viên nhân được đánh giá về

độ cứng, độ mài mòn, độ dày, độ đồng đều khối lượng và hàm lượng. Màng bao

kiểm sốt ăn mòn sử dụng polyme CA, tá dược tạo kênh HPMC E5, chất hóa dẻo



29



PEG 400. Nghiên cứu hòa tan in vitro sử dụng thiết bị cánh khuấy với viên nhân và

viên bao trong 12 giờ. Sự có mặt của NaCl trong viên nhân làm giải phóng dược

chất nhanh hơn. Màng bao kiểm sốt ăn mòn giúp kéo dài giải phóng dược chất có

hiệu quả đến 12 giờ [119].

Shah Nihar đã nghiên cứu bào chế viên thẩm thấu gồm viên nhân chứa dược

chất, NaLS, tromethamin, manitol, lactose, PVP K30 và bao màng kiểm soát kênh

khuếch tán chứa CA và tá dược tạo kênh sorbitol, PEG 400. Kết quả nghiên cứu đã

lựa chọn được cơng thức kiểm sốt tốt nhất chứa 60% manitol trong viên nhân và

10% sorbitol trong màng bán thấm. Tác giả cho rằng áp suất thẩm thấu tạo bởi tá

dược thẩm thấu trong viên nhân và lượng tá dược tạo kênh trên màng ban thấm đã

kiểm sốt giải phóng [123].

Yin và cộng sự đã định lượng sự trương nở và ăn mòn trong viên cốt kiểm sốt

giải phóng chứa dược chất ít tan felodipin và HPMC bằng siêu âm điện toán tia X.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự ăn mòn của lớp hydrat hóa của cốt thân nước cùng

với sự trương nở là những yếu tố kiểm sốt tốc độ giải phóng felodipin [128].

Mahalaxmi.R và cộng sự đã nghiên cứu bao màng kiểm soát giải phóng bằng

màng bán thấm CA với chất hóa dẻo PEG 400 cho viên nhân chứa 10mg Glipizid,

lượng chất hóa dẻo PEG 400 là 10% khối lượng so với CA và lượng chất tạo vi lỗ

sorbitol thay đổi (từ 10%; 30%; 50% khối lượng so với CA). Kết quả cho thấy

lượng chất tạo vi lỗ càng lớn thì tốc độ giải phóng dược chất càng nhanh [111].

Rajan K. Verma đã nghiên cứu ảnh hưởng của viên nhân, độ dày màng bao

(12%; 13%; 15%), tỷ lệ khối lượng chất tạo kênh PVP K30 (24,8%; 50% so với

CA). Kết quả cho thấy khả năng giải phóng dược chất tỷ lệ nghịch với độ dày màng

bao, tỷ lệ thuận với tỷ lệ chất tạo kênh PVP K30 trong màng. Q trình giải phóng

thuốc độc lập với pH nhưng lại phụ thuộc vào áp suất thẩm thấu của mơi trường giải

phóng [55].

Ritesh B. Patel và cộng sự đã nghiên cứu kiểm sốt giải phóng GLI bằng cách

tạo phức với HP-β-CD rồi bào chế dưới dạng bơm thẩm thấu. Trong phức hệ, tác

giả đã khảo sát các tỷ lệ khác nhau GL: HP- β- CD (1:1; 1:2; 2:1), sau đó phức hệ

được tạo hạt, rồi dập viên với một số tá dược khác. Trong viên nhân, tá giả đã khảo



30



sát ảnh hưởng của KCl, NaCl, HPMC K4M đến khả năng giải phóng dược chất.

Bên cạnh đó, tác giả khảo sát độ dày màng bao (150µm; 200µm; 300µm), đường

kính miệng giải phóng (500µm; 1000µm; 500µm với 2 miệng giải phóng), loại và

hàm lượng chất hóa dẻo (dầu thầu dầu hoặc PEG 400 với hàm lượng 20%; 40%).

Từ đó tác giả chọn ra cơng thức phù hợp để tiếp tục nghiên cứu [85].

Mangukia Dhruv K đã nghiên cứu bao màng tự tạo lỗ xốp nhẳm kiểm soát

giải phóng cho viên chứa Glipizid với polyme tạo màng là celullose acetat, chất hóa

dẻo PEG 400 và tá dược tạo lỗ xốp là kaliclorid. Kết quả cho thấy khi tăng tỷ lệ KCl

trong màng làm cho tốc độ giải phóng dược chất tăng [107].

Mahalaxmi.R đã đánh giá ảnh hưởng của màng bao CA tự tạo lỗ xốp sử dụng

sorbitol là tá dược tạo lỗ xốp. Kết quả cho thấy khả năng giải phóng Glipizid từ viên

bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tá dược tạo lỗ xốp và áp suất thẩm thấu của mơi trường

hòa tan, nhưng độc lập với pH [111].

S. C. Patil và cộng sự đã bao màng kiểm sốt giải phóng cho viên nén chứa

glipizid, PVP với màng bao CA và tá dược tạo kênh PVP, sorbitol, PEG 400,

triacetin. Kết quả nghiên cứu cho thấy giải phóng dược chất không chỉ bị ảnh hưởng

bởi lượng chất làm tăng độ tan có trong viên nhân, mà còn bị ảnh hưởng bởi khối

lượng màng bao và lượng chất tạo kênh trên màng. Giải phóng dược chất tăng khi

lượng chất tạo kênh trên màng tăng và nhanh hơn khi sử dụng PVP so với khi dùng

sorbitol. Ngược lại, giải phóng dược chất giảm khi tăng tỷ lệ màng bao [120].

1.3. NGHIÊN CỨU SINH KHẢ DỤNG VIÊN GLIPIZID

1.3.1. Một số nghiên cứu đánh giá khả năng giải phóng in vitro viên Glipizid

Để đánh giá khả năng giải phóng in vitro viên Glipizid giải phóng kéo dài, có

thể sử dụng thiết bị giỏ quay [38], [62] , hoặc cánh khuấy [34], [36], [52], [64], [70]

với tốc độ khuấy từ 50, 75 hoặc 100 vòng/phút tùy theo từng nghiên cứu cụ thể.

Mơi trường thử hòa tan các viên Glipizid GPKD thường là một mơi trường

với pH không đổi (thường sử dụng môi trường đệm phosphat pH 6,8 [34], [36], [52]

hoặc pH 7,4 hoặc pH 7,5 [70] hoặc hai hoặc 3 môi trường mô phỏng theo bậc thang

pH của đường tiêu hóa: 900 ml HCl 0,1N trong 2 giờ đầu và đệm phosphat pH 6,8

từ 2- 12 giờ [38]. Thể tích mơi trường : 500, 750 hoặc 900 ml. Một số nghiên cứu

khác cũng được thiết kế sử dụng thể tích, pH mơi trường và tốc độ khuấy khác nhau



31



để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện thử hòa tan như Shahla Jamzad với mục tiêu

phát triển hệ cốt chứa Glipizid sử dụng phương pháp dập thẳng với HPMC K100M,

HPMC K15M, HPMC K100LV và PEO là polyme tạo cốt. Thử nghiệm hòa tan

được thực hiện với thiết bị cánh khuấy ở tốc độ khuấy 75 vòng/phút trong mơi

trường dung dịch đệm phosphat pH 6,8. Thêm vào đó, độ hòa tan của cơng thức

chứa HPMC được đánh giá ở hệ đệm phosphat pH 6,8 tốc độ khuấy 100 vòng/phút

và trong mơi trường hệ đệm HCl/KCl pH 2 và đệm acetat pH 4,4 ở tốc độ khuấy 75

vòng/phút [64]. Thời gian thử hòa tan thường được thực hiện trong 12 giờ hoặc 24

giờ tùy theo từng loại viên.

Thời điểm lấy mẫu có thể lấy 15 phút/lần hoặc 30 phút/lần trong 2 giờ đầu tiên

và 1 giờ một lần từ sau 2 giờ trở đi hoặc có thể lấy mẫu 30 phút hoặc 1 giờ/lần. Số

điểm lấy mẫu ít nhất là 6 điểm và có thể nhiều hơn tùy theo từng thiết kế nghiên

cứu sao cho có thể đánh giá được chính xác đồ thị hòa tan của viên Glipizid giải

phóng kéo dài. Thể tích mẫu thường lấy 2,0 ml và 5,0 ml. Mẫu sau khi lấy thường

được lọc qua màng lọc 0,45 µm hoặc 0,2 µm và pha lỗng (nếu cần) sau đó được

định lượng bằng phương pháp thích hợp như phương pháp quang phổ UV-VIS,

HPLC với detector UV hoặc LCMS. Mẫu có thể được pha trong pha động thích hợp

và lọc qua màng lọc 0,2 µm trước khi đưa vào phân tích. Trong các phương pháp

này pha động thường sử dụng một hỗn hợp dung môi gồm acetonitril hoặc methanol

kết hợp với dung dịch đệm phosphat hoặc acetat pH 3,5 với tỷ lệ thích hợp [62].

O. Defang đã nghiên cứu đánh giá khả năng giải phóng in vitro viên Glipizid

kết hợp metformin. Các tác giả đã định lượng Glipizid bằng phương pháp HPLC

detector UV ở bước sóng 275 nm, sử dụng cột C18 (5 µm, 250*4,6 mm), pha động

gồm acetonitril: methanol: đệm phosphat pH 7.0 (5:6:11) [52].

Jolly M. Sankalia đã sử dụng phương pháp đánh giá khả năng giải phóng in

vitro 6 cơng thức cốt thân nước GPKD chứa Glipizid để xác định mối tương quan

IVIVC và đánh giá ảnh hưởng của polyme EC, HPMC, gôm xanthan, gơm guar tới

đồ thị giải phóng thuốc. Thực nghiệm được thực hiện với thiết bị cánh khuấy trong

môi trường đệm phosphat pH 6,8, tốc độ khuấy 100 vòng/phút, nhiệt độ 37 0C± 0,5.

Lấy mẫu: 2ml ở các thời điểm 0; 0,25; 0,5, 0,75; 1; 1,5; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 11;



32



12 giờ, lọc và định lượng bằng quang phổ UV ở bước sóng 276 nm [34].

Nhằm mục tiêu phát triển hệ cốt chứa Glipizid, Shahla Jamzad và cộng sự đã

sử dụng phương pháp dập thẳng với polyme tạo cốt là HPMCK100M, HPMC

K15M, HPMC K100LV và PEO. Thử nghiệm hòa tan được thực hiện với thiết bị

USP27 máy 2 cánh khuấy ở tốc độ khuấy 75 vòng/phút trong mơi trường dung dịch

đệm phosphat pH 6,8. Mẫu được lấy tự động và lọc qua màng lọc 35 µm và được

đo quang phổ UV ở bước sóng 275 nm, so sánh với mẫu chuẩn. Phân tích số liệu

hòa tan bằng cách so sánh đồ thị hòa tan của các viên nén nghiên cứu với Glucotrol

XL 10mg bằng chỉ số f1 và f2 và % giải phóng (t25%, t50%, t75%).Lấy mẫu 30 phút/lần

tới khi 85% hàm lượng dược chất được giải phóng [64].

Lakshamana Murthy G đã đánh giá hòa tan in vitro viên nén dạng cốt Glipizid

GPKD bằng cách sử dụng thiết bị hòa tan thiết bị giỏ quay, tốc độ khuấy 50

vòng/phút, nhiệt độ 370C± 0,5. Mơi trường 900 ml HCl 0,1N trong 2 giờ đầu và

trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 từ 2- 12 giờ. Phân tích mẫu bằng phương

pháp quang phổ ở bước sóng 274 nm [38].

S.Dhawan đã sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao để đánh giá khả

năng giải phóng in vitro và sinh khả dụng in vivo. Thử nghiệm hòa tan thiết bị giỏ

quay trong 900 ml đệm phosphat pH 7,5 ở 37 ± 0,50C. Tốc độ khuấy 100 vòng/phút.

Lấy 5ml ở các thời điểm từ 1- 24 giờ và thay 5ml môi trường và định lượng bằng

HPLC ở 275 nm, cột C18, 5 µm. pha động acetonitril – đệm phosphat pH 3,5 (50:

50). Với phương pháp LCMS sử dụng đệm 50 mM amoni acetat pH 3,5 [62].

Velmurugan đã bào chế viên nén cốt Glipizid sử dụng các polyme thân nước

như HPMC (K4M, K15M, K100M, E15), NaCMC với tỷ lệ khác nhau là tá dược

kéo dài giải phóng. Thử nghiệm giải phóng in vitro của viên nghiên cứu bằng thiết

bị thử hòa tan cánh khuấy, 500 ml đệm phosphat pH 7,4 trong 12 giờ, tốc độ khuấy

50 vòng/phút ở 37± 0,50C. Mẫu được lọc, pha loãng, đo quang phổ UV ở bước sóng

276 nm [70].

Kambham Venkateswarlu đã đánh giá giải phóng in vitro của viên cốt Glipizid

kết hợp Eudragid L và EC bào chế bằng phương pháp dập thẳng. Sử dụng thiết bị

cánh khuấy, 50 vòng/phút, đệm phosphat pH 6,8 trong 12 giờ, 37± 0,50C. Mẫu được



33



lọc và đo quang phổ ở bước sóng 223 nm [36].

O. Defang đã đánh giá khả năng giải phóng in vitro và sinh khả dụng in vivo

của của viên nén bơm thẩm thấu và viên cốt thân nước 2 lớp chứa Glipizid. Thử

nghiệm hòa tan bằng thiết bị USP cánh khuấy trong 500 ml mơi trường đệm

phosphat pH 6,8; tốc độ khuấy 50 vòng/phút, ở 37 oC; thể tích mẫu 5 ml mẫu được

lấy ở 1, 2, 3, 4, 6, 8, 10 giờ. Lọc qua màng lọc 0,45 µm và định lượng metfomin

bằng quang phổ UV ở bước sóng 233 nm và Glipizid ở 275 nm bằng phương pháp

HPLC cột C18 (5µm, 250*46 mm), pha động gồm acetonitril/methanol/đệm

phosphat pH 7,0 (5:6:11) [52].

1.3.2. Một số phương pháp định lượng Glipizid trong dịch sinh học

Do hàm lượng của Glipizid trong viên thấp thường chỉ 5 mg hoặc 10 mg nên

yêu cầu các phương pháp định lượng Glipizid trong huyết tương phải xác định được

Glipizid ở nồng độ rất thấp khoảng vài chục nanogam/ml và phải có độ lặp lại, độ

nhạy cao. Yêu cầu giới hạn định lượng dưới của phương pháp khoảng 1/30 đến 1/20

lần Cmax. Một số phương pháp đã được sử dụng để định lượng Glipizid trong dịch

sinh học huyết tương hoặc nước tiểu gồm các phương pháp như: miễn dịch phóng

xạ, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao và phương pháp sắc ký lỏng khối phổ

được trình bày ở bảng 1.2.

Bảng 1.2. Một số phương pháp định lượng Glipizid trong dịch sinh học

Phương

pháp định

lượng



Phương pháp

xử lý mẫu



Dung môi



Kết quả LOD, LOQ



acetonitril [39]

hoặc methanol,

100 ng/ml [39]

như acid

percloric

Sắc ký lỏng

Phương pháp chiết dicloromethan,

hiệu năng cao

LOD =15 ng/ml và

bằng dung môi hữu n-hexan [71],

LOQ=45 ng/ml [71];



benzen [52]

Phương pháp

LOD =5 ng/0,5ml và

methanol [46].

chiết/cột

LOQ=10 ng/0,5ml [71];

Sắc ký lỏng

Phương pháp kết

methanol[77]

LLOQ = 10 ng/ml

khối phổ

tủa

khoảng tuyến tính 10–

Phương pháp kết

tủa



34



Phương pháp chiết hỗn hợp

bằng dung môi hữu diethylethercơ

cloroform [5]

Miễn dịch

phóng xạ



1,500 ng/ml

LOD=10 ng/ml, khoảng

tuyến tính = 10- 2000

ng/ml [5]

1 ng/ml; 1- 500 ng/ml

[44].



Phương pháp xử lý mẫu huyết tương thường được sử dụng như phương pháp

kết tủa protein, phương pháp chiết bằng dung môi hữu cơ và phương pháp chiết qua

cột trao đổi ion [46]. Phương pháp kết tủa protein có ưu điểm là đơn giản và thường

sử dụng dung môi hữu cơ như acetonitril hoặc methanol [77] hoặc acid mạnh như

acid percloric để kết tủa protein trong huyết tương, sau đó ly tâm, gạn lấy dịch, đem

phân tích. Tuy nhiên, phương pháp kết tủa protein sử dụng methanol hoặc

acetonitril thường phải sử dụng một lượng lớn dung mơi chiết gấp 2-10 lần thể tích

huyết tương nên nồng độ Glipizid trong huyết tương tiếp tục bị pha loãng trong q

trình xử lý mẫu và làm khó khăn hơn cho định lượng Glipizid, dẫn tới sai số phép

định lượng cao. Khi kết tủa với acid mạnh có thể tránh được việc làm pha loãng

nồng độ Glipizid trong huyết tương nhưng lại làm thay đổi pH của huyết tương về

pH acid dẫn tới làm giảm độ tan của Glipizid vì Glipizid là acid yếu có pKa khoảng

5,9 và có thể dẫn tới kết tủa Glipizid cùng với protein, làm giảm hiệu suất chiết và

cũng kéo theo làm giảm nồng độ Glipizid còn lại trong huyết tương [71].

Phương pháp chiết bằng dung mơi hữu cơ có ưu điểm là khơng làm pha lỗng

nồng độ Glipizid trong huyết tương nên có độ chính xác cao hơn. Phương pháp này

thường sử dụng một dung môi hữu cơ (như dicloromethan, n-hexan [71], benzen

[52]) hoặc hỗn hợp dung môi (như hỗn hợp gồm ethyl acetat, dichloromethan,

cloroform, isopropyl alcol ở tỷ lệ (2.5:2.5:3:2) [13] hoặc hỗn hợp diethyl ethercloroform [5]. Sau đó lắc xốy, ly tâm. Lấy lớp dung môi hữu cơ, bốc hơi dung môi

ở 40oC trong dòng nitơ, hòa tan cắn trong pha động hoặc methanol, lọc và định

lượng bằng phương pháp thích hợp.

Venkata Rayanam đã sử dụng phương pháp HPLC với detector UV ở bước

sóng 270 nm để định lượng Glipizid trong dạng bào chế và trong huyết tương. Tác

giả sử dụng cột C18 (250 x 4,6 mm; 5µm), pha động:methanol: nước: DD KH 2PO4



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phương pháp định lượng Glipizid từ dạng bào chế: Glipizid là một acid yếu có pKa 5,9 có bề mặt sơ nước nên ít tan trong nước (độ tan 32,7 mg/lit) và môi trường có pH acid và dễ tan hơn trong môi trường trung tính, môi trường kiềm và methanol, methylen

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×