Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Từ 6 tới 12 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng 1 mm. Nhưng chiều dài cung răng dưới giảm 1,12 mm.

- Từ 6 tới 12 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng 1 mm. Nhưng chiều dài cung răng dưới giảm 1,12 mm.

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



tuổi, đỉnh cao tăng trưởng vào giai đoạn đầu dậy thì, đến 17-18 tuổi có sự

giảm nhẹ rồi đi đến ổn định ở người trưởng thành. Ở hàm trên, chiều rộng

vùng răng nanh của nam lúc 3 tuổi là 28,6 mm, đến 18 tuổi là 33,7 mm; của

nữ lúc 3 tuổi là 27,7mm, lúc 18 tuổi là 32,0 mm. Chiều rộng vùng răng hàm

lớn I của nam lúc 6 tuổi là 36,7 mm, lúc 18 tuổi là 41,7mm. Ở hàm dưới của

nam, chiều rộng vùng răng nanh lúc 3 tuổi là 22,2 mm, lúc 18 tuổi là 25,6

mm; vùng răng hàm lớn I lúc 6 tuổi là 33,06 mm, lúc 18 tuổi là 35,4 mm.

Như vậy có sự gia tăng kích thước chiều rộng cung răng cho đến 17-18 tuổi.

Hàm trên của nữ cũng có sự gia tăng về kích thước tương tự như trên.

Đặc biệt có sự liên quan giữa gia tăng về kích thước với sự mọc răng vĩnh

viễn ở lứa tuổi trước và trong giai đoạn đầu dậy thì.

- Về chiều dài (chiều trước sau) cung răng (mốc đo từ điểm giữa hai

răng cửa giữa đến đường nối các mốc đo ở răng nanh, răng hàm lớn I): Chiều

dài cung răng hàm trên và hàm dưới chủ yếu giảm vào hai đợt, đợt 1 từ 4 đến

6 tuổi, đợt 2 từ 10 đến 14 tuổi.

Năm 1996, Bishara [5] thực hiên nghiên cứu trên nhóm đối tượng thuộc

đại học Iowa để đánh giá những thay đổi của chiều dài cung răng từ tuần 6

đến 45 tuổi. một nghiên cứu gồm 2 nhóm, nhóm thứ nhất gồm 15 nữ và 15

nam đã được lấy dấu vào lúc 3 tuổi, 8 tuổi, 13 tuổi, 25 tuổi, 45 tuổi; nhóm thứ

2 gồm 33 nam và 28 nữ sơ sinh được lấy dấu lúc 6 tuần tuổi, 1 tuổi và 2 tuổi.

Tác giả kết luận mức độ tăng chiều dài cung hàm trên và dưới mạnh nhất vào

hai năm đầu tiên, chiều dài cung răng tiếp tục tăng cho đến khoảng 8 đến 13

tuổi, sau đó giảm dần và tương đối ổn định sau tuổi dậy thì.

Carter [11] nghiên cứu dọc về sự thay đổi chiều dài và chiều rộng cung

răng ở người trưởng thành. Trong nhóm chuẩn (khơng điều trị chỉnh hình)

gồm 27 nam và 26 nữ lứa tuổi 14, 16 và 47 ở Michigan. Nhóm 14 tuổi gồm có



8



22 nữ, 24 nam; Nhóm 16 tuổi và nhóm 47 tuổi có cùng số đối tượng, gồm có

26 nữ, 27 nam cho mỡi nhóm. Những đối tượng này đều chưa được can thiệp

về điều trị chỉnh hình. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tính ổn định của

kích thước cung răng ở bệnh nhân có điều trị chỉnh hình, ơng đã kết luận việc

chỉnh nha phải được điều trị duy trì sau tuổi thanh niên (18 tuổi) vì sau thời

gian này kích thước cung răng ổn định trong suốt thời gian trưởng thành (kết

luận này rút ra từ so sánh kết quả với nghiên cứu trên mẫu khơng chỉnh hình).

Sự bất thường của răng và cung răng xảy ra ở hàm dưới nhiều hơn hàm trên,

có sự thay đổi kích thước sau tuổi trưởng thành của hàm dưới nhiều hơn hàm

trên, khác nhau giữa nam và nữ. Ông đã thống kê những nhận xét của các bác

sỹ chỉnh hình răng mặt: Đa số bệnh nhân than phiền các răng không đều ở

hàm dưới nhiều hơn hàm trên, nhưng tác giả không nêu ngun nhân gây ra

tình trạng đó mà chỉ giải thích là bất kỳ sự giảm kích thước nào của hàm cũng

nhỏ hơn 3 mm, và đó là một trong những ngun nhân làm gia tăng tình trạng

khơng đều của cung răng. Qua phân tích so sánh bằng t-test và Anova, ơng đã

kết luận kích thước chiều rộng, chiều dài và chu vi cung răng đều giảm ít hơn

3 mm từ 14 đến 47 tuổi. Giai đoạn từ 18 đến 50 tuổi các kích thước cung răng

giảm nhiều hơn và giảm có ý nghĩa thống kê so với giai đoạn từ 14 đến 18

tuổi. Tác giả đưa ra lý do giảm kích thước cung răng là do răng xoay, răng di

gần và mòn răng.

Như vậy, nhiều nghiên cứu dọc và cắt ngang của các tác giả Carter,

Sillman, Moorrees, Barrow, Bishara… đều có nhận xét:

- Kích thước chiều rộng cung răng đo trên mốc răng nanh, răng hàm nhỏ

thứ hai, răng hàm lớn thứ nhất có sự tăng trưởng nhiều trước tuổi dậy thì; tăng

trưởng chậm ở tuổi dậy thì và ổn định ở 16 - 18 tuổi đối với nữ, 18 - 20 tuổi

đối với nam.



9



Kích thước chiều dài cung răng theo chiều trước sau được đo theo mốc

các răng trên cho thấy có sự giảm dần từ khi xuất hiện răng vĩnh viễn trên

cung hàm và ổn định ở tuổi 17 đến 18 đối với nữ và 19 đến 20 đối vớinam.

Giảm chiều dài cung răng chủ yếu là do răng có xu hướng di gần, xoay răng,

răng bị mòn… Hàm trên giảm khoảng 1,3 mm và hàm dưới khoảng 1,6 mm.



10



1.2.Khái niệm về khớp cắn

1.2.1. Tương quan các răng giữa hàm trên và hàm dưới

1.2.1.1. Đường cắn



Hàm trên



Hàm dưới



Hình 1.1. Đường cắn [17]

Hàm trên: Đường cắn là một đường cong liên tục đi qua hố trung tâm

của mỗi răng hàm và ngang qua gót răng nanh, răng cửa hàm trên.

Hàm dưới: Đường cắn là một đường cong liên tục qua núm ngồi và rìa

cắn của răng cửa hàm dưới.

Đường cắn khớp là một đường cong đốixứng, liên tục và đều đặn. Khi

hai hàm cắn khớp với nhau, đường cắn của hàm trên và hàm dưới chồng khít

lên nhau.

Khi hàm trên và hàm dưới cắn khớp, mỗi răng trên hai hàm sẽ khớp với

hai răng ở hàm đối diện. Ngoại trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng hàm lớn

thứ ba hàm trên chỉ khớp với một răng ở hàm đối diện.

Mối tương quan một răng ăn khớp với hai răng giúp phân tán lực nhai

lên nhiều răng và duy trì sự cắn khớp giữa hai hàm.

1.2.1.2. Độ cắn chìa



11



Độ cắn chìa là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và răng cửa dưới

theo chiều trước sau khi hai hàm cắn khớp.

1.2.1.3. Độ cắn chùm

Độ cắn chùm là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và dưới theo

chiều đứng khi hai hàm cắn khớp.

1.2.2. Quan niệm khớp cắn bình thường của Andrew

Nghiên cứu của LawrenceF. Andrews [18] từ 1960-1964 dựa trên việc

quan sát 120 mẫu hàm có khớp cắn bình thường. Các mẫu hàm được lựa

chọntheo tiêu chuẩn:

- Chưa qua điều trị chỉnh nha.

- Các răng mọc đều đặn và thẩm mỹ.

- Khớp cắn có vẻ đúng.

- Có thể khơng cần đến điều trị chỉnh nha sau này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các mẫu hàm này đều có chung sáu

đặc tính khớp cắn

*Đặc tính I: Tương quan ở vùng răng hàm

- Gờ bên xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm

trên tiếp xúc với gờ bên gần của múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn

thứ hai hàm dưới.

- Múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với

rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.

- Múi trong gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với

trũng giữa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.

* Đặc tính II: Độ nghiêng gần xa của thân răng

- Độ nghiêng gần xa của thân răng là góctạo bởi đường thẳngvng góc

với mặt phẳng nhai và trục thân răng. Góc độ (+) khi phần nướu của trục răng

ở về phía xa so với phần bờ cắn hay mặt nhai. Ngược lại là góc độ (-).



12



- Bình thường, các răng có góc độ (+) và độ nghiêng này thayđổi theo

từng răng.

* Đặc tính III: Độ nghiêng trong ngoài của thân răng

- Độ nghiêng trong ngoài của thân răng là góc tạo bởi đường thẳng

vng góc với mặt phẳng nhai và đường tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngồi

thân răng. Góc độ (+) khi phần phía nướu của đường tiếp tuyến (hay của thân

răng) ở về phía trong so với phần bờ cắn hay mặt nhai. Ngược lại là góc độ (-).

Độ nghiêng ngồi trong của thân răng cửa trên và dưới tương quan nhau

và ảnhhưởngđángkể đến độ cắn phủ và khớp cắn của các răng sau. Các răng

sau hàm trên (từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai) có phần bờ cắn hay mặt

nhai ở về phía trong so với phần nướu của thân răng. Ở hàm trên, góc độ (-)

khơng thay đổi từ răng nanh đến răng cối nhỏ thứ hai và tăng nhẹ ở răng hàm

lớn thứ nhất và thứ hai. Đối với răng hàm dưới, góc độ (-) tăng dần từ răng

nanh đến răng hàm lớn thứ hai.

* Đặc tính IV: Khơng có răng xoay

Khơng có răng xoay hiện diện trên cung răng. Vì nếu có, chúng sẽ chiếm

chỡ nhiều hoặc ít hơn răng bình thường.

* Đặc tính V: Khơng có khe hở giữa các răng

Các răng phải tiếp xúc chặtchẽ với nhau ở phìa gần và xa ở mỡi răng, trừ

các răng hàm lớn thứ ba chỉ tiếp xúc ở phía gần.

Khe hở trên cung răng thường do bấthàihòa kích thước răng-hàm.

* Đặc tính VI: Đường cong Spee phẳng hay cong ít

- Khớp cắn bình thường có đường cong Spee khơng sâu quá 1,5mm.

Đường cong Spee sâu quá sẽ gây thiếu chỗ cho răng hàm trên.

1.2.3. Phân loại lệch lạc khớp cắn

Vào thập niên 1900, Edward H. Angle (1855-1930) đã đưa ra phân loại

khớp cắn [19]. Đây là một cách phân loại đầu tiên và rất hữu dụng quan trọng



13



cho đến ngày nay. Ông dựa vào răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất (răng số 6) và

sự sắp xếp của các răng theo đường cắn để phân loại khớp cắn thành 4 loại.

+ Phân loại theo Angle: Có 4 nhóm

- Khớp cắn bình thường (trung tính)



Hình 1.2. Khớp cắn trung tính [19]

Quan hệ trung tính giữa răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên:

Đỉnh núm ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất trên khớp với rãnh giữa ngoài của

răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Các răng sắp xếp theo đường cắn.

- Sai khớp cắn loại I



Hình 1.3. Sai khớp cắn loại I [19]

Núm ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh

ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắn khớp

không đúng do các răng trước mọc sai chỗ, răng xoay hoặc do những nguyên

nhân khác.

- Sai khớp cắn loại II



14



Hình 1.4. Sai khớp cắn loại II [19]

Múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiến về phía gần

so với rãnh ngồi gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới (một bên

hoặc 2 bên). Quan hệ với các răng khác là đường cắn khơng đúng.

Loại này có 2 tiểu loại:

Tiểu loại 1: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhơ ra trước với răng

cửa trên nghiêng về phía mơi (hơ), độ cắn chìa tăng, mơi dưới thường chạm

mặt trong răng cửa trên.

Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong nhiều trong

khi các răng cửa bên hàm trên nghiêng ra phía ngồi khỏi răng cửa giữa, độ

cắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở răng nanh thường rộng hơn bình thường.

- Sai khớp cắn loại III



Hình 1.5. Sai khớp cắn loại III [19]

Múi ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp về phía xa so với

rãnh ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới, cắn ngược vùng răng cửa

(một bên hoặc hai bên). Quan hệ với các răng khác là đường cắn không đúng.

Ưu nhược điểm của cách phân loại này:



15



Ưu điểm:

- Phân loại của Angle là một bước tiến quan trọng. Ơng khơng chỉ phân

loại một cách có trật tự các loại khớp cắn sai mà ơng còn là người đầu tiên

định nghĩa một khớp cắn bình thường và bằng cách này đã phân biệt được

một khớp cắn bình thường với sai khớp cắn.

Nhược điểm:

- Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất mọc sai vị trí, thiếu hay đã nhổ thì

khơng phân loại được.

- Cách phân loại này chỉ quan tâm quan hệ răng theo chiều trước sau.

1.3. Hình dạng và kích thước cung răng

1.3.1. Hình dạng cung răng

Nhìn từ phía mặt nhai các răng được sắp xếp thành một cung (cung

răng). Vì cấu trúc hình cung được xem là sự sắp xếp tạo nên tính ổn định và

vững chắc.

Một bộ răng vĩnh viễn đầy đủ gồm 32 chiếc, chia đều cho 2 cung răng:

cung răng trên và cung răng dưới. Do răng hàm lớn thứ 3 thường có hoặc

khơng (khơng có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sử

dụng trên lâm sàng.

Năm 1920, Williams [3] đã nêu lên sự đồng dạng giữa hình dạng của

răng cửa và hình dạng của cung răng. Nếu răng có hình dạng hình vng sẽ

kèm theo mặt hình vng và cung răng cũng có dạng hình vng. Các tác giả

đã phân biệt ba dạng cung răng là hình vng, hình ơ van và hình tam giác.

Năm 1971, Brader [20] đưa ra một mẫu cung răng. Mẫu này dựa trên

một ê líp 3 tiêu điểm và đã làm thay đổi quan niệm về hình dạng cung răng.

Đường cong cung răng rất giống với đường cong của ê líp, các răng sắp xếp

chỉ một phần ở cực nhỏ của tồn bộ đường cong. Ơng cho rằng cấu trúc của

cung răng có 4 đặc trưng chủ yếu:



16



- Hình dạng của cung răng.

- Kích thước của cung răng

- Sự đối xứng hai bên.

- Sự thay đổi của các cấu trúc xung quanh dẫn đến sự biến đổi hình thể

của cung răng.

Rickett đã tiến hành một loạt nghiên cứu về hình dạng cung răng và đã

đưa ra kết luận:

- Hình dạng cung răng hàm trên đồng dạng với hình dạng cung răng hàm dưới.

- Cung răng hàm trên ở phía trước hơn so với cung răng hàm dưới.

- Có 5 dạng cung răng: Dạng hình thn dài, dạng hình thn dài hẹp,

dạng hình trứng, dạng hình trứng hẹp, dạng hình vng.

Nhưng trên thực tế, hiện nay sự phân loại hình dạng cung răng chủ yếu

được sử dụng trong chẩn đốn và điều trị chỉnh hình răng mặt là phương pháp

phân loại của Chuck và Williams [3] là: Dạng hình vng, dạng hình tam giác

(hình thn dài), hình ơ van (hình trứng).

1.3.2. Kích thước cung răng

Các tác giả Cretot (1938), Granat (1974), Izard (1943): Đưa ra phương

pháp đo đạc kích thước cung răng và cung xương ổ răng theo chiều ngang và

chiều trước – sau. Phương pháp đo đạc được đưa ra phụ thuộc chủ yếu vào

mục tiêu nghiên cứu, mục đích điều trị [21].

Năm 1979, Engle [22] đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định các

yếu tố của hình dạng và kích thước cung răng. Ơng cùng với Lestrel đã rút ra

4 kích thước chủ yếu của cung răng là:

- Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): là khoảng cách từ điểm

giữa hai răng cửa giữa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh.

- Chiều rộng trước (chiều rộng vùng răng nanh): là khoảng cách giữa

hai đỉnh của hai răng nanh.



17



- Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): là khoảng cách từ điểm giữa

hai răng cửa giữa tới đường nối hai đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm

lớn thứ nhất.

- Chiều rộng sau (chiều rộng vùng răng hàm): là khoảng cách giữa hai

đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất.

Kích thước của cung răng có sự khác biệt theo giới tính và các dạng

cung răng hình vng, hình ơ van, hình tam giác.

+ Kích thước cung răng ở nam lớn hơn nữ.

+ Chiều rộng cung răng ở vùng răng nanh và vùng răng hàm ở cung răng

hình vng là lớn nhất, rồi đến dạng cung răng hình ơ van, hẹp nhất là cung

răng dạng hình tam giác.

+ Ngược lại chiều dài cung răng ở dạng cung răng hình tam giác là lớn

nhất, rồi đến cung răng dạng ô van, ngắn nhất là cung răng dạng hình vng.

Năm 1991,Huang S. T., Miura F., Soma K [23] đã nghiên cứu trên mẫu

hàm của người Trung Quốc và đã rút ra rằng kích thước cung răng ở nam lớn

hơn nữ, và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Năm 1992, Hồng Tử Hùng và Huỳnh Thị Kim Khang [13] nghiên cứu

kích thước chiều dài và chiều rộng cung răng hàm trên ở người Việt trưởng

thành. Kết quả cho thấy cung răng hàm trên người Việt trưởng thành có dạng

ê líp, kích thước cung răng ở nam lớn hơn ở nữ.

Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J. L. [24] khoa chỉnh nha

của trường nha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao

của người Pháp trưởng thành chưa được can thiệp chỉnh nha. Các tác giả đã

rút ra kết luận rằng khơng có sự khác biệt về tỷ lệ các dạng cung răng ở nam

cũng như ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn cung răng ở nữ cả về chiều rộng

và chiều dài.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Từ 6 tới 12 tuổi: Chiều dài cung răng hàm trên tăng 1 mm. Nhưng chiều dài cung răng dưới giảm 1,12 mm.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×