Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giai đoạn phân cắt: Các phôi bào chưa hoặc ít biệt hóa. Nếu bị tác động, có 3 khả năng xảy ra: Toàn bộ hoặc phần lớn phôi bào tổn thương, gây chết phôi hoặc sẩy; hoặc số phôi bào không bị tổn thương phát triển thay thế số phôi bào bị hại, phôi sẽ phát tri

Giai đoạn phân cắt: Các phôi bào chưa hoặc ít biệt hóa. Nếu bị tác động, có 3 khả năng xảy ra: Toàn bộ hoặc phần lớn phôi bào tổn thương, gây chết phôi hoặc sẩy; hoặc số phôi bào không bị tổn thương phát triển thay thế số phôi bào bị hại, phôi sẽ phát tri

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



Đột biến đơn gen: những đột biến gen này làm rối loạn sự tổng hợp các

protein được mã hóa bởi các gen đột biến, có thể là protein cấu trúc hoặc các

protein chức năng quan trọng trong việc truyền tín hiệu cảm ứng, tăng sinh, di

cư, biệt hóa phơi bào, nảy mầm các mô, cơ quan .

1.4.2. Yếu tố môi trường

Có thể chia các tác nhân mơi trường thành các nhóm: các tác nhân vật

lý, các yếu tố hóa học, các yếu tố sinh học và các nguyên nhân khác ở cha mẹ.

Các tác nhân vật lý: Tia X và chất phóng xạ tác động trực tiếp trên phơi

thai, gây chết tế bào; tác động gián tiếp lên tế bào sinh dục, gây đột biến

nhiễm sắc thể. Mẹ điều trị tia X liều cao trong thời kỳ mang thai có thể sinh

con bị dị tật não nhỏ, hở hàm ếch, nứt đốt sống, mù bẩm sinh...

Tác nhân hóa học: Hóa chất sử dụng trong chiến tranh, trong sản xuất

(chất diệt cỏ, hóa chất bảo vệ thực vật), hố chất chống ung thư, lượng kim

loại nặng cao hơn bình thường (chì, thuỷ ngân, lithium …) có thể gây quái

thai, các DTBS, sảy thai, thai chết lưu, đẻ non .

Thuốc: Thalidomide có thể gây các dị tật như tịt ống ruột, DTBS tim và

đặc biệt là tật thiếu chi toàn bộ hay một phần . Salicylat có thể gây sứt mơi,

hở hàm ếch, tim bẩm sinh. Theo tác giả Ross L. (1995), các con của hai người

phụ nữ được dự phòng γ-globulin ở 50 và 54 ngày sau kỳ kinh cuối cùng, có

hẹp tá tràng bẩm sinh và gián đoạn, thốt vị thực quản. Cho đến nay vai trò

của γ-globulin trong việc hình thành và phát triển các dị tật bẩm sinh còn

đang tranh cãi. Sử dụng vitamin A liều cao cho phụ nữ có thai dễ gây DTTH,

bởi vì chất chuyển hóa của nó là acid retinoic, đóng một vai trò quan trọng

như một phân tử tín hiệu trong sự phát triển của nhiều mơ và cơ quan. Những

phụ nữ có thai bổ sung Vitamin A > 10.000 UI/ ngày tỉ lệ sinh con bị DTBS

khoảng 1/57 trong đó có 7,1% là trẻ có dị tật ống tiêu hóa .



16



Các tác nhân vi khuẩn (xoắn khuẩn giang mai) hoặc virus (Rubella,

CMV, Herpes) có thể gây các dị tật bẩm sinh chung và dị tật tiêu hoá nếu bà

mẹ bị nhiễm các tác nhân này trong thời kỳ đầu mang thai .

Tuổi của bố mẹ cao làm gia tăng nguy cơ sinh con mắc DTBS. Mẹ quá

trẻ cơ thể chưa hoàn thiện cũng có nguy cơ sinh con bị DTBS. Khoảng 20%

trẻ có hội chứng Down sinh ra từ bà mẹ > 35 tuổi. Một số ngành nghề của cha

liên quan đến dị tật bẩm sinh ở con như: lao công, thợ sơn, máy in, và các

ngành nghề tiếp xúc với dung môi .

Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng của mẹ khi có thai đặc biệt là tình trạng

thiếu một số vitamin như: A, B, C, D, E, calci, sắt, phospho có thể ảnh hưởng

đến tần suất sinh con DTBS. Nhiều tác giả cho rằng thiếu những chất kể trên,

các quá trình chuyển hóa trong phơi bị kìm hãm do đó có ảnh hưởng trực tiếp

tới sự phát triển và biệt hóa các mô của phôi. Mẹ bị bệnh đái tháo đường thể

phụ thuộc insulin, phenylxeton niệu (PKU), động kinh hay mẹ nghiện rượu,

thuốc lá, ma túy là yếu tố nguy cơ làm gia tăng tần suất con bị DTBS. Theo

nghiên cứu của Aberg A cho thấy ở các bà mẹ bệnh tiểu đường, tổng tỷ lệ sinh

con dị tật là 9,5%, các dị tật thường gặp là: khe hở miệng-mũi, dị tật tim

mạch, hẹp thực quản/ruột, thiếu hụt chi, dị tật cột sống và dị tật thừa ngón

Yếu tố tâm lý, tinh thần: có thể có tác hại đến sự phát triển của phôi

thai, sự tăng tiết các hormon như cortison, thyroxin ở mẹ làm tăng tính dễ xúc

động của mẹ cũng có nguy cơ sinh con bị dị tật bẩm sinh.

1.5. Teo ruột bẩm sinh

1.5.1. Dịch tễ học teo ruột bẩm sinh

Tần suất gặp teo hỗng – hồi tràng dao động trong khoảng 1 : 1500 –

12000 trẻ sơ sinh sống. Tỷ lệ teo ruột non bẩm sinh đoạn hỗng tràng và hồi

tràng chiếm tỷ lệ gần tương đương và lần lượt là 51% và 49% trong đó 31%

là teo ở phần đầu của hỗng tràng, 20% ở đoạn cuối hỗng tràng, 13% là ở đoạn



17



đầu hồi tràng và 36% là ở đoạn cuối hồi tràng .Đa số các trường hợp là teo

một nơi, teo nhiều nơi chỉ chiếm từ 6-10%. Teo nhiều nơi thường xảy ra ở

phần đầu của hỗng tràng . Các quay ruột trên chỗ teo thường giãn to gấp

nhiều lần các quai ruột dưới chỗ teo, thành dày, nhu động kém. Vi khuẩn phát

triển nhanh chóng và có thể gây hoại tử hoặc thủng túi cùng trên do sự ứ

đọng ở đầu trên. Ngược lại các quai ruột phía dưới chỗ teo thành mỏng, trong

lòng chứa nhiều kết thể phân su. Đa số là các trường hợ teo ruột đơn thuần

nhưng cũng có một só trường hợp trong mổ có thể thấy tổn thương phối hợp.

Về mặt mô bệnh học, ở đoạn ruột giãn trên chỗ teo, lớp cơ trơn thành

ruột có sự tăng sản và phì đại, các tế bào cơ trải rộng ra, làm cho ruột co bóp

rất kém. Các sợi thần kinh ở đoạn ruột giãn cũng dầy và to lên đáng kể.

Gabella trong một nghiên cứu trên lợn thấy rằng thể tích tổ chức hạch - thần

kinh thành ruột ở đoạn ruột giãn chỉ chiếm 0,6% thể tích của cơ so với 3% ở

ruột bình thường và cho rằng ở đoạn ruột giãn trên chỗ teo sự phì đại của lớp

cơ trơn nhiều hơn gấp nhiều lần so với sự phì của thần kinh ruột. Masumoto,

Watanabe, với kết quả tương tự trên người đã kết luận rằng đây chính là

nguyên nhân làm cho có ít tổ chức hạch thần kinh thành ruột ở đoạn ruột giãn

trên chỗ teo, đặc biệt là ở đỉnh của túi cùng trên.

Ở đoạn ruột dưới chỗ teo, nhiều nghiên cứu thấy rằng mặc dù cơ trơn

thành ruột tương đối bình thường, nhưng nhiều trường hợp đám rối thần kinh

thành ruột có biểu hiện chưa trưởng thành.

1.5.2. Nguyên nhân

Có hai giả thuyết về nguyên nhân gây teo ruột bẩm sinh. Năm 1990,

Tandler đưa ra giả thuyết teo ruột bẩm sinh là do ruột khơng thơng nòng trở

lại sau q trình phát triển đặc lòng . Theo thuyết này, ruột nguyên thuỷ là

một ống rỗng, từ tuần thứ tư do sự phát triển của nút liên bào biến ruột thành

một ống đặc, rồi từ tuần thứ chín trong khối liên bào bít nút ấy sẽ hình thành

những xoang rỗng. Các xoang nối liền nhau làm ruột thơng nòng trở lại từ



18



tuần thứ mười hai trở đi. Teo ruột xảy ra ở những nơi mà nút liên bào không

tiêu đi. Tuy nhiên một số tác giả lại phủ định giả thuyết này vì đã tìm thấy dấu

vết của lơng tơ, vảy da và mật ở phía dưới chỗ ruột teo, mặt khác mật được

bài tiết sau khi ruột được thông nòng trở lại .

Một cơ chế khác của teo ruột bẩm sinh là có thể do sự ngừng cung cấp máu

dẫn đến hoại tử ruột cục bộ. Louw và Barnard đã chứng minh bằng thực nghiệm

trên chó rằng teo ruột là do các tai biến của mạch máu mạc treo. Bằng cách thắt

mạch máu mạc treo và gây nghẹt ruột ở giai đoạn cuối của thời kỳ thai nghén,

kiểm tra ruột sau 10-14 ngày các tác giả đã thấy ruột teo với các hình thái khác

nhau tương tự như những quan sát thấy được ở người . Các tác giả khác như

Santulli, Abrams, Koga, Tovar, Lopez De Torre cũng xác nhận thấy kết quả

tương tự những ghi nhận của Louw và Barnard khi thực nghiệm trên thỏ, cừu,

chó và gà. Vì ruột thai nhi vơ khuẩn, các mơ hoại tử được hấp thu, dẫn đến gián

đoạn giữa đầu gần và đầu xa của ruột. Nguyên nhân của sự ngừng cấp máu cho

ruột thai nhi có thể do xoắn ruột, lồng ruột, thoát vị trong, mẹ sử dụng thuốc co

mạch . De Lorimier thấy nhồi máu ruột gặp với tỷ lệ 42% trong 619 trường hợp

teo ruột. Nixon và Tawes mô tả trên đại thể và vi thể viêm phúc mạc phân su ở

61 trong số 127 bệnh nhi teo ruột với bằng chứng xoắn ruột rõ ràng là 44%.

Santulli, Nixon, Okmian đã miêu tả mối liên quan giữa teo ruột với nghẹt ruột ở

trẻ có thốt vị vùng rốn bẩm sinh (omphalocele). Vassy và Boles đã báo cáo các

trường hợp teo hồi tràng sau đẻ do kẹp rốn ở bệnh nhi có omphalocele tiềm ẩn .

Teo ruột do khe hở thành bụng bẩm sinh (gastroschisis) chiếm từ 12 đến 22%

các trường hợp khe hở thành bụng bẩm sinh .

Những phân tích di truyền của Johnson và Meyers gần đây cho thấy rằng

sự đột biến của gen mã hoá yếu tố V và yếu tố VII - hai thể phổ biến nhất của

bệnh tăng đông di truyền, gia tăng đáng kể ở bệnh nhi teo ruột, điều này gợi ý

rằng bệnh tăng đơng di truyền có thể là một trong những nguyên nhân gây tắc



19



mạch mạc treo ruột trong tử cung ở bệnh nhi teo ruột. Bệnh tăng đông di truyền

như đột biến yếu tố V Leiden có thể là nguyên nhân teo ruột trong một vài

trường hợp . Teo ruột typ IIIB (hình vỏ táo gọt) đã được báo cáo có tính chất

gia đình. Trong một báo cáo loạt bệnh, 10 trong số 83 trẻ sơ sinh bị tắc hỗng

tràng hoặc hồi tràng bị mắc bệnh xơ nang. Ở những trẻ bị xơ nang, phân su bị

cô đặc lại và có thể gây xoắn, hoại tử ruột và dẫn đến teo ruột.

1.5.3. Phân loại

Teo ruột non được chia thành 4 typ dựa trên bất thường giải phẫu. Typ III

thường gặp nhất, typ I ít gặp nhất .

Typ I: Teo thể màng ngăn, nhìn bên ngồi thanh mạc khơng gián đoạn,

chỉ khác về kích thước, mạc treo bình thường.

Typ II: Teo thể dây xơ, đoạn gần và đoạn xa được nối với nhau bằng 1

dây xơ, mạc treo không gián đoạn.

Typ IIIA: Teo ruột gián đoạn hoàn toàn, hai đầu ruột khơng nối với

nhau, mạc treo bị gián đoạn như hình chữ V.

Typ IIIB: Teo ruột gián đoạn hình “vỏ táo”. Teo ruột thường ở vị trí gần

góc Treizt, mạc treo bị khuyết 1 khoảng rộng. Ruột dưới chỗ teo quấn quanh

trục mạch máu trơng giống hình vỏ táo gọt.

Typ IV: Teo ruột ở nhiều vị trí khác nhau.



Hình 1.10: Phân loại các typ teo ruột



20



1.5.4. Triệu chứng lâm sàng

Biểu hiện chủ yếu của teo ruột là nôn dịch mật, bụng trướng, quai ruột

nổi và không ỉa phân su ngay từ ngày đầu sau đẻ. Nôn dịch mật vàng hoặc

xanh là triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm nhất, thường xuất hiện trong

24-48 giờ sau đẻ, sớm hơn trong teo hỗng tràng và muộn hơn trong teo hồi

tràng. Phân su có thể vẫn có ở đoạn ruột xa chỗ tắc nên trẻ vẫn có thể đi ngồi

phân su.

Bụng trướng là dấu hiệu trung thành trong chẩn đoán teo ruột ở trẻ em.

Mức độ chướng khác nhau tuỳ theo vị trí teo, bụng trướng đều và trướng nhiều

nếu teo ở vị trí hồi tràng; bụng chỉ trướng trên rốn nếu teo ruột cao gần góc

Treitz. Khi kích thích thành bụng thường thấy các sóng nhu động của ruột.

Bệnh nhân khơng đi ngồi phân su hoặc có thể đại tiện ra một ít kết thể

nhầy trắng, chắc lổn nhổn hoặc các thể kết này có thể được tống ra khi đặt

sonde hậu môn và bơm thụt bằng nước muối sinh lý. Thăm trực tràng có thể

thấy trực tràng nhỏ hẹp và khơng có phân su.

Khai thác tiền sử sản khoa có thể có đa ối, đây là dấu hiệu có giá trị gợi

ý chẩn đoán teo ruột. Theo nghiên cứu của De Lorimier, 24% các trường hợp

teo ruột ở vị trí quai hỗng tràng có tình trạng đa ối. Cũng trong nghiên cứu

này tác giả ghi nhận thấy 32% bệnh nhi teo hỗng tràng và 20% bệnh nhi teo

hồi tràng có kèm theo biểu hiện vàng da .

1.5.5. Cận lâm sàng

Chụp bụng không chuẩn bị tư thế đứng đủ cho phép chẩn đốn teo ruột

với độ chính xác cao. Trường hợp teo ruột ở vị trí thấp thường thấy hình ảnh

các mức nước hơi trên phim. Vị trí của các quai ruột giãn có hình mức nước

hơi lớn nhất tương ứng với vị trí teo ruột. Teo ruột cao có mức nước hơi tập

trung ở vùng trên rốn với số lượng ít, còn vùng dưới rốn khơng có hơi trong

ruột. Hình ảnh ba mức nước hơi (một ở dạ dày, một ở tá tràng và một ở ruột



21



non) thường gặp trong teo ruột sát góc Treitz. Ngồi ra có thể thấy hình ảnh

các đám vơi hố, dấu hiệu của viêm phúc mạc phân su do thủng ruột từ thời

kỳ bào thai.

Khơng có chỉ định chụp lưu thơng ruột có cản quan cho các trường hợp

nghi ngờ teo ruột. Chụp lưu thông ruột chỉ áp dụng cho các trường hợp hẹp

ruột hoặc các triệu chứng khơng điển hình trên lâm sang và chụp bụng khong

chuẩn bị.

Một số trường hợp có thể chụp đại tràng cản quang để phân biệt vị trí tắc

ruột (tắc ruột non hay đại tràng), đánh giá tình trạng của đại tràng (trong teo

ruột non đại tràng thường theo nhỏ) và xác định vị trí của manh tràng để phát

hiện sự bất thường về quay và cố định của ruột.

1.5.6. Chẩn đốn

1.5.6.1. Chẩn đốn trước sinh

Lòng ruột xẹp trong 3 tháng đầu của thai. Sau tuần thứ 13 và trước tuần

thứ 20 có thể nhìn thấy dịch trong lòng ruột. Nhu động ruột có thể quan sát

lúc 18 tuần và có thể phân biệt các quai ruột non với nhau sau 28 tuần. Đại

tràng được nhìn rõ nhất sau tuần 24. Lúc mới sinh, đại tràng chứa đầy phân

su, tăng âm và đường kính có thể lên tới 28 mm. Ruột tăng âm quá mức có

thể là dấu hiệu của xơ nang tụy, trisomy 21, nhiễm CMV bẩm sinh hoặc suy

dinh dưỡng bào thai nặng .

Siêu âm có giá trị chẩn đốn tắc nghẽn ống tiêu hóa. Dấu hiệu trên siêu

âm gợi ý tắc nghẽn là các quai ruột giãn từ đầu gần cho đến vị trí tắc, có thể

thấy tăng nhu động ruột. Các nghiên cứu cho thấy bình thường đường kính

của quai ruột non thường khơng q 7mm, chiều dài thường khơng q

15mm, đường kính đại tràng tăng dần và đạt 23mm lúc đủ tháng .

Chẩn đoán trước sinh có thể đặt ra trong đầu quý 2 của thai kỳ nhưng

thường vào quý 3 khi tá tràng giãn to hơn. Các dấu hiệu gợi ý teo ruột bao



22



gồm đa ối, giãn các quai ruột, ruột tăng âm và dịch ổ bụng. Đa ối thường đi

kèm với tắc ruột phần gần với tỉ lệ gặp ở 50% trường hợp tắc tá tràng , tuy

nhiên đa ối thường chỉ thấy ở khoảng giữa – cuối của quý 2 .

Các dị tật phối hợp hay gặp nhất là trisomy 21, gặp ở 30% trường hợp.

Ngoài ra tắc và hẹp tá tràng có thể nằm trong hội chứng VACTERL. Theo

nghiên cứu của Haeusler và cộng sự về giá trị chẩn đoán trước sinh của siêu

âm, tỷ lệ tắc nghẽn ống tiêu hóa được chẩn đốn trước sinh là 34%, trong đó

40% phát hiện trước 24 tuần tuổi. Tỷ lệ phát hiện là 52% với tắc tá tràng, 40%

với tắc ruột non, 29% với tắc ruột già, 25% với teo thực quản .

Đối với teo hỗng tràng và hồi tràng, vị trí tắc được phát hiện thường ở

đoạn gần hỗng tràng vì nó gây giãn phần gần của ruột nhiều hơn, trẻ uống

nước ối nhiều hơn lượng hấp thu ở ruột.



Hình 1.11: Hình ảnh siêu âm của tắc hỗng tràng lúc thai 27 tuần cho thấy

một số quai ruột giãn chứa đầy dịch

1.5.6.2. Chẩn đốn xác định

Lâm sàng: nơn dịch mật, bụng trướng, quai ruột nổi và không ỉa phân

su ngay từ ngay sau sinh

Cận lâm sàng: Hình ảnh mức nước hơi trên phim chụp bụng thẳng

khơng chuẩn bị.



23



1.5.6.3. Chẩn đốn phân biệt

Tắc ruột phân su: Biểu hiện lâm sàng gần giống teo ruột nhưng:

Triệu chứng xuất hiện muộn hơn

Sờ bụng vùng hố chậu phải có thể thấy một quai ruột giãn chứa phân su

Xquang bụng không chuẩn bị thấy mức nước hơi khơng điển hình, mức

nước hơi thường lõm xuống thay vì nằm ngang

Hố chậu phải có hình ảnh lỗ chỗ, cản quan không đều tương ứng với

qua ruột tắc, giãn, chứa phân su

Phình đại tràng bẩm sinh: cần đặt ra chẩn đốn phân biệt với vơ hạch tồn

bộ đại tràng và một phần hội tràng với teo ruột. Cần thăm trực tràng để phân

biệt. Sau khi thăm trực tràng thấy nhiều phân su và bụng bệnh nhi đỡ chướng

sau khi số lượng lớn phân su tống ra ngoài.

Tắc ruột do nguyên nhân khác:

Tắc ruột do xoắn trung tràng: thường kèm theo tắc tá tràng do dây

chứng Ladd, trẻ có tình trạng tắc ruột kèm theo ỉa máu và chụp đại tràng cản

quan thấy manh tràng ở vị trí bất thường.

Tắc ruột do dính và dây chằng là hậu quả của viêm phúc mạc phân su

gây thủng ruột ở thai nhi. Lâm sàng có biểu hiện tắc ruột kèm thao hình ảnh

vơi hố trên phim Xquang.

Teo trực tràng: bệnh nhi có biểu hiện tắc ruột thấp. Thăm trực tràng

bằng ngón tay út có thể thấy trực tràng teo nhỏ

1.5.7. Điều trị

1.5.7.1. Chuẩn bị trước mổ

Bệnh nhi cần được ủ ấm trong quá trình vận chuyển để tránh hạ thân nhiệt.

Đặt sonde dạ dày và hút dịch để tránh trào ngược dịch dạ dày vào

đường hô hấp gây viêm phổi do trào ngược.

Làm các xét nghiệm cơ bản phục vụ cho phẫu thuật và hồi sức như

công thức máu, điện giải đồ, chức năng gan thận, phân tích khí máu.



24



Cho kháng sinh dự phòng trước mổ

Bồi phụ nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan

1.5.7.2. Cắt và nối ruột ngay thì đầu

Chỉ định cho các trường hợp teo ruột khơng có biến chứng hoặc hẹp ruột.

Kỹ thuật mổ thường đơn giản, cắt bổ đoạn ruột hẹp và nối hai đầu ruộtt

heo kỹ thuật nối tận – tận.

Teo ruột thì kỹ thuật mổ phức tạp hơn do phải nối hai đoạn ruột có kích

thước chênh lệch nhau vì vậy thường sử dụng kỹ thuật nối tận – bên để hạn

chế các biến chứng bục miệng nối.

1.5.7.3. Dẫn lưu ruột tạm thời

Chỉ định cho các trường hợp teo ruột có kè theo xoắn ruột, tắc ruột

phân su hoặc có di chứng nặng nề của viêm phúc mạc phân su cũ.

Kỹ thuật dẫn lưu ruột là dẫn lưu hai đầu ruột theo kiểu nòng sung sau

khi cắt bỏ đoạn ruột giãn phía trên. Ngày thứ 7 sau dẫn lưu cần đặt sonde hậu

môn và bơm nước muối sinh lý vào lòng ruột để ruột giãn nở tốt hơn. Nếu

bệnh nhi chịu đựng được có thể phẫu thuật nối ruột sau 3 tháng. Phẫu thuật

sớm hơn nếu bệnh nhi khơng chịu đựng được.

1.5.7.4. Chăm sóc sau mổ

Sau mổ bệnh nhi cần tiêp tục được ủ ấm để duy trì thân nhiệt.

Làm lại các xét nghiệm cơ bản phục vụ cho hồi sức như công thức máu,

điện giải đồ, chức năng gan thận, phân tích khí máu và điều chỉnh nếu có rối

loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan.

Lưu sonde dạ dày và hút dịch cách quãng cho đến khi dịch dạ dày

trong.

Nhịn ăn và nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn trong 5 ngày đầu đảm bảo

nhu cầu calo 120Kcal/kg/ngày. Cho ăn trở lại sữa mẹ khi dịch dạ dày trong.



25



1.5.8. Biến chứng

1.5.8.1. Biến chứng sớm

Viêm phế quản phổi do hít phải dịch dạ dày – thức ăn trào ngược là biến

chứng nặng nhất gây tử vong đặc biệt là ở bệnh nhi thiếu tháng, cân nặng

thấp. Nơn và trào ngược vào phổi có thể xảy ra trước mổ, những ngày đầu sau

mổ, thậm chí là 7 – 10 ngày sau mổ khi lưu thơng tiêu hóa đã trở về bình

thường, đang ni dưỡng đường miệng.

Những biến chứng có liên quan đến miệng nối như hẹp miệng nối, rò

miệng nối, viêm phúc mạc do bục miệng nối, xảy ra với tỉ lệ thay đổi từ 515%. Tất cả các trường hợp hẹp miệng nối hoặc viêm phúc mạc do bục miệng

nối đều được mổ lại. Các trường hợp rò miệng nối được điều trị nội khoa kết

hợp ni dưỡng tĩnh mạch, phẫu thuật lại khi tình trạng rò khơng cải thiện.

Hồi tràng kém hoạt động kéo dài sau mổ cũng là một biến chứng tương

đối phổ biến. Nuôi dưỡng tĩnh mạch hỗ trợ kéo dài cho đến khi chức năng

ruột trở lại bình thường là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, ni dưỡng tĩnh mạch

cũng có những biến chứng của nó: ngồi nhiễm trùng do tiêm truyền thì vàng

da ứ mật cũng xuất hiện khi ni dưỡng tĩnh mạch toàn bộ trên 2-4 tuần.

Tử vong sau khi mổ: hầu hết các trường hợp tử vong sau mổ đều do biến

chứng của phẫu thuật, bệnh nhi thiếu tháng và có dị tật hoặc bệnh phối hợp.

Nghiên cứu của các tác giả trong nước và trên thế giới cho thấy các yếu tố

làm gia tăng tỷ lệ biến chứng ở trẻ sơ sinh sau mổ teo ruột bẩm sinh là cân

nặng lúc đẻ thấp, sinh non, tình trạng viêm phổi trước mổ và đa dị tật. Theo

nghiên cứu của Nixon và cộng sự, tỷ lệ sống sau phẫu thuật teo ruột ở nhóm

trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 1800 gam và kèm theo các dị tật bẩm sinh

nghiêm trọng khác là 32% trong khi tỷ lệ này đạt tới 81% ở nhóm trẻ có cân

nặng trên 2500 gam và không kèm dị tật quan trọng .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giai đoạn phân cắt: Các phôi bào chưa hoặc ít biệt hóa. Nếu bị tác động, có 3 khả năng xảy ra: Toàn bộ hoặc phần lớn phôi bào tổn thương, gây chết phôi hoặc sẩy; hoặc số phôi bào không bị tổn thương phát triển thay thế số phôi bào bị hại, phôi sẽ phát tri

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×