Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



1.1.1. Sự phát triển của ruột trước

1.1.1.1. Sự hình thành thực quản

Sự hình thành thực quản gắn liền sự phát triển của khí phế quản. Vách

khí thực quản ngăn đơi đoạn sau của ruột trước thành hai ống: ống phía bụng

là ống thanh – khí quản, ống phía lưng là thực quản. Thực quản có chiều dài

8-10 cm khi mới sinh, sau đó sẽ dài ra do lồng ngực hạ thấp và đạt 25 cm ở

người trưởng thành .



Rt tríc



V¸ch thanh

-khí quản

Thanh quản

Khí quản

Nụ phổi

Thực quản



Mần hệ hô

hấp



Hỡnh 1.2: S phân chia khí – thực quản trong thời kỳ phơi

Biểu mơ phủ niêm mạc thực quản có nguồn gốc từ nội bì ruột trước,

mơ liên kết và cơ có nguồn gốc từ trung bì.

1.1.1.2. Sự hình thành dạ dày

Vào tuần thứ 4 của phôi, dạ dày là một đoạn nở to hình thoi ở ruột

trước ở dưới vách ngang. Trong quá trình phát triển, dạ dày xoay theo 2 trục.

Theo trục dọc (vào tuần thứ 4), dạ dày xoay 90 độ theo chiều kim đồng hồ, do

đó bờ trước trở thành bờ phải, bờ sau thành bờ trái, mặt trái thành mặt trước,

mặt phải thành mặt sau. Dạ dày xoay theo trục trước sau vào tuần thứ 7, tâm



5



vị quay sang trái, xuống dưới và ra trước, môn vị sang phải, ra sau và lên trên.

Dạ dày giãn nở không đều, bờ sau phát triển nhanh hơn tạo bờ cong lớn, bờ

trước phát triển chậm hơn tạo bờ cong nhỏ. Hình dạng đặc trưng của dạ dày

gồm tâm vị, phình vị và môn vị sẽ quan sát được khi thai 14 tuần .



Hình 1.3: Sự phát triển của dạ dày

1.1.1.3. Sự phát triển của tá tràng

Tá tràng được tạo bởi đoạn cuối của ruột trước và đoạn đầu của ruột

giữa. Chỗ nối của hai đoạn này nằm ở nơi phát sinh ra mầm gan. Tá tràng có

hình chữ U cong về phía bên phải .

1.1.2. Sự tạo cơ quan của ruột giữa

Tạo quai ruột nguyên thủy: Ruột giữa dài ra rất nhanh, đỉnh của quai

ruột nguyên thủy thông với túi nỗn hồng qua trung gian cuống nỗn hồng.

Thốt vị sinh lý của quai ruột vào dây rốn: Do bụng chật hẹp, gan to ra

và ruột dài thêm, dẫn đến sự thoát vị sinh lý của quai ruột vào dây rốn.

Sự xoay của quai ruột nguyên thủy: Quai ruột xoay 270 độ ngược chiều

kim đồng hồ (90 độ trong dây rốn và 180 độ trong khoang màng bụng).



6



Quai ruột thụt vào khoang màng bụng: Quai ruột nguyên thủy thụt vào

khoang màng bụng, kết quả là hỗng tràng được xếp vào bên trái khoang bụng,

manh tràng ban đầu ở góc trên phải ổ bụng, sau đó hạ xuống hố chậu phải, tạo

ra ruột thừa (tuần 11) .



Hình 1.4 : Sự quay của quai ruột nguyên thủy

Sự thụt vào trong khoang bụng của các quai ruột đã thoát vị xảy ra vào

cuối tháng thứ ba của thai kỳ. Cho đến nay cơ chế của hiện tượng này chưa rõ

ràng. Đầu tiên, đoạn gần của hỗng tràng thụt vào và được sắp xếp ở bên trái của

khoang bụng. Sau đó các quai ruột tiếp theo được xếp lần lượt về phía bên phải.

Nụ manh tràng xuất hiện ở giai đoạn phôi dài 12mm dưới dạng một chỗ phình

hình nón ở phía đi của quai ruột nguyên thuỷ và là đoạn thụt vào sau cùng.

Đầu tiên, nụ manh tràng nằm tạm thời ở góc trên bên phải khoang màng bụng,

ngay dưới thuỳ phải của gan, sau đó nó dần dần hạ thấp xuống hố chậu phải tạo

lên đại tràng lên và đại tràng góc gan được tạo ra. Đồng thời ở đầu xa của manh

tràng phát sinh một túi thừa hẹp tức là mầm ruột thừa. Mầm này phát triển thành

ruột thừa khi đại tràng lên dần dần hạ thấp xuống hố chậu phải .



7



Quá trình cố định ruột bắt đầu xảy ra từ tuần thứ 12 và kéo dài cho tới

khi sinh. Quá trình ống tiêu hóa hồn thành và sắp xếp, đặt vào đúng vị trí khi

thai 20 tuần . Trong q trình phát triển ruột dài ra rất nhanh, chiều dài của

ruột lúc thai 15 tuần gấp đôi so với chiều dài ruột lúc 5 tuần và dài gấp 1000

lần khi thai đạt 40 tuần tuổi .

1.1.3. Sự phát triển của ruột sau



Tuần 4



Tuần 6



Tuần 7



Hình 1.5 : Sự phát triển của ruột sau



8



Ruột sau tạo ra biểu mô đoạn 1/3 xa đại tràng ngang, đại tràng xuống,

trực tràng và đoạn trên ống hậu môn và các cấu trúc thuộc xoang niệu – dục.

Đoạn cuối ruột sau thông với ổ nhớp. Một phần của nội bì ổ nhớp tiếp xúc với

ngoại bì tạo ra màng nhớp. Vào tuần thứ 4-6, vách niệu trực tràng chia ổ nhớp

thành xoang niệu dục ở phía trước và ống hậu mơn - trực tràng ở phía sau.

Màng nhớp cũng bị chia thành 2 phần: phần trước là màng niệu sinh dục và

phần sau là màng hậu môn bịt ống hậu môn. Trong tuần thứ 8, màng hậu mơn

nằm trong lõm hậu mơn, phủ ngồi bởi ngoại bì. Tuần thứ 9, màng hậu mơn

rách ra và trực tràng thơng với bên ngồi.

1.1.4. Sự tạo mơ của ống tiêu hóa



Hình 1.6: Q trình hình thành lòng ống của ruột

Các tế bào biểu mơ của nội bì ruột ngun thủy tích cực tăng sinh, trở

thành biểu mơ tầng, dày lên, làm cho lòng ống bị bịt kín. Trong tháng thứ 3, ở

biểu mô ấy xuất hiện các không bào dần dần hợp lại với nhau, do đó lòng ống

tiêu hóa được tái tạo và biểu mơ nội bì ống tiêu hóa tính từ dạ dày là biểu mơ

đơn . Biểu mô lõm xuống trung mô để tạo thành các tuyến nằm trong thành

ống tiêu hóa. Các nhung mao được hình thành khi thai 16 tuần ở cả ruột non

và ruột già, nhưng nhung mao ruột già sẽ thoái biến khi thai 29 tuần.

1.2. Cơ chế phân tử của sự phát triển ống tiêu hóa

Ruột phát triển theo 4 trục chính: Trước sau (AP), lưng – bụng (DV),

trái - phải (LR) và hướng tâm (RAD). Hai bước chính trong quá trình phát

triển ống tiêu hóa là q trình tạo ống tiêu hóa và q trình hình thành chức

năng riêng biệt của mỗi bộ phận mà mỗi quá trình này được điều khiển bằng



9



các gen đặc hiệu. Ruột gồm hai loại mơ sắp xếp theo hình ống, lớp trên bên

ngồi của ống chủ yếu là cơ trơn có nguồn gốc từ trung bì, lớp lót bên trong

là biểu mơ. Phần lớn biểu mơ ruột có nguồn gốc từ nội bì, miệng hậu mơn có

nguồn góc từ ngoại bì. Đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành ruột là

việc lồng ghép hồn tồn nội bì và sau đó là sự phát triển và biệt hóa trung

bì phía dưới .

1.2.1. Sự tương tác giữa nội bì – trung bì trong phát triển ống tiêu hóa



Hình 1.7. Phát triển mơ hình trước - sau (AP) trong ruột. Sơ đồ bên trái là cửa

ruột trước (AIP), cửa ruột sau (CIP) và các cực đối lập của phơi. Hình giữa là

khu vực hóa sớm AP thành ruột trước, ruột giữa và ruột sau kèm biệt hóa

(xun tâm) biểu mơ gần trưởng thành của các vùng cụ thể ở bên phải sơ đồ

Nội bì ở giai đoạn sớm khá đồng nhất về hình thái dọc theo chiều dài

AP của ống ruột ngun thủy. Khơng có sự khác biệt hình thái giữa các phần

ống được hình thành nhờ kéo dài AIP hoặc CIP, và khơng có sự phân biệt ở

những vùng cuối nơi sẽ hình thành các phần AP của ruột: ruột trước, ruột

giữa, ruột sau và các hình thái trưởng thành của chúng thực quản/dạ dày, ruột,

và đại tràng. Ống ruột nguyên thủy được lót bằng một lớp nội bì/biểu mơ hình

khối/hình trụ và được bao quanh bằng một lớp mỏng trung bì nội tạng. Do



10



trung bì phát triển và biệt hóa thành cơ trơn, nên ống ruột thay đổi hình thái,

tạo ra các đường giới hạn rõ ràng giữa ruột trước, ruột giữa, và ruột sau được

xác định bởi sự khác biệt về hình thái học, chức năng của các đoạn ruột. Hình

thái của các tế bào biểu mơ ruột biệt hóa chậm hơn so với tồn bộ cấu trúc mơ

ruột do đó ở một số số động vật có xương sống biểu mơ ruột tiếp tục hình

thành và hồn thiện về chức năng sau sinh . Các tế bào ruột có khả năng tăng

trưởng và biệt hoá trong suốt cuộc đời của con người dọc theo trục xuyên tâm

(RAD) .

1.2.2. Trục trước sau (AP)

Trong q trình phát triển, trục trước sau có hình thái học rõ ràng ngay

từ thời điểm đầu của phôi vị. Ở thời điểm này lớp tế bào thượng bì ở sau cuối

của phơi thai hình thành đường ngun thủy. Các tế bào đường này phân lớp

và dịch chuyển về phía trước và hai bên để tạo thành trung bì và nội bì. Các

vùng AP của ruột được nội bào hóa vào khoang cơ thể gồm: ruột trước trong

lồng ngực, ruột giữa trong ổ bụng, ruột sau ở trong khung chậu .

1.2.3. Trục lưng bụng

Vào giai đoạn phát triển sớm của ruột, khơng có sự phân cực trong trục

lưng bụng, ruột là một ống tròn đối xứng. dấu hiệu sản sinh trục lưng bụng

đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các cơ quan phát sinh từ

ruột trước gồm: tuyến giáp, phổi, tụy, gan. Tế bào nội bì tiết hedgehog sonic

(shh), tác động lên các gen hox ở trung bì dẫn đến hình thành các vùng ruột

có những đặc thù riêng biệt. Shh hiện diện lan tỏa sớm trong ống ruột trên trục

DV. Sau đó, khi cực phát triển, có thay đổi về mơ hình biểu thị Shh, khiến Shh

bị loại bỏ khỏi nội bì bụng ở những khu vực tạo hình thái hoạt động. Điều này

cho thấy tín hiệu bụng ức chế biểu hiện Shh ở cực này của nội bì. Tín hiệu sản

sinh ra cực bụng đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển các cơ quan phát

sinh từruột trước bao gồm: tuyến giáp, phổi, tuyến tụy và gan. Tạo phân cực



11



trong trục DV của ruột là một chức năng quan trọng của cả nội bì và trung bì

và hồn tồn cần thiết cho việc hình thành bình thường các cơ quan này .

1.2.4. Trục trái phải

Q trình phát triển của ống tiêu hố, các cơ quan nội tạng và hệ thống

mạch máu, đều thể hiện sự bất đối xứng ở tất cả các động vật có xương sống,

như một trái tim bên trái; lá lách, dạ dày bên trái và gan, túi mật bên phải.

Ngồi ra, phổi có sự khác biệt giữa thùy trái và thùy phải. Vòng lặp của ruột

đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bất đối xứng ở nhiều vị trí

nội tạng . Cơ chế phân tử hình thành bất đối xứng LR của Dạ dày được biết

rất rõ trong phát triển ruột. Dạ dày xoay 90 o, trở thành đặt ở phía trên bên trái

của bụng, buộc ruột giữa xoay 2700 trong một chiều kim đồng hồ để phù hợp

với chiều dài của nó vào bụng .

1.2.5. Trục hướng tâm

Biệt hóa tế bào biểu mơ ở trục RAD bị ảnh hưởng bởi sự tương tác với

trung bì bên dưới, protein màng nền và sự tiếp xúc với thực phẩm ở một số lồi

(ví dụ q trình phát triển enzyme chuyển hóa lactose của các tế bào biểu mô

khi tiếp xúc với sữa của một số động vật có vú). Biểu thị Shh trong nội bì đối

xứng dọc theo trục AP nhưng có biểu hiện cả hai cực DV và RAD. Do lớp

nhung mao và các tuyến phát triển xa lòng ruột, nên biểu thị Shh giới hạn trong

phạm vi các tế bào tiền sinh, các tế bào ít biệt hóa tế bào dọc theo trục RAD.

Biểu thị của nó giảm đi dọc theo trục RAD ở ống (lumen) hoặc ở tuyến dưới

niêm mạc do các tế bào có các tính năng biệt hóa cụ thể. Trong ruột non, Shh

hiện diện tại đáy lớp nhung mao và ở tiền dạ dày và Shh chỉ hiện diện trong

biểu mơ tuyến chưa được biệt hố và khơng hiện diện trong các tế bào tuyến đã

biệt hóa (tiết ra pepsinogen). Biểu thị Shh được duy trì ở tế bào nội bì chưa biệt

hóa, khơng hiện diện ở các tế bào nội bì trong những khu vực dịch chuyển hay

biệt hóa khỏi ống ngun thủy. Các lớp lót nội bì của ruột được rập khn theo



12



trung bì liên quan trong vùng của mình, nhìn chung các biểu mơ phát triển là

duy nhất và cụ thể cho vị trí của nó dọc theo trục hướng tâm của ruột. Nhìn vào

mặt cắt ngang ruột như một ống và có các tế bào biểu mơ và trung bì chứa một

trục hướng tâm theo khn mẫu từ ngồi đến trong .

1.2.6. Cơ chế q trình xoay của ruột



Hình 1.8. Mơ hình định hướng cho sự tạo vòng cả ống tiêu hóa

Mạc treo lưng là bộ phận của tấm trung bì bên được hình thành tuần

thứ 3 - 4 thai kỳ. Các yếu tố phiên mã forkhead Foxf1 đóng vai trò quan trọng

trong q trình hình thành mạc treo lưng. Gần đây, sự quay ruột đã được

chứng minh bởi những thay đổi siêu cấu trúc quan trọng trong mạc treo lưng.

Tế bào trung mơ ở phía bên phải của mạc treo trở nên thưa thớt hơn và trở

thành hình hộp, trong khi những trung mơ ở bên trái trở nên dày đặc hơn trở

thành hình trụ. Như vậy, mạc treo lưng sẽ nghiêng sang bên trái. Quá trình

này diễn ra từ tuần thứ 5- 10 cùng với sự phát triển nhanh, thụt vào và xoay

của ruột. Như vậy, mạc treo lưng có độ nghiêng ở bên trái. Sau khi nghiêng

của vây lưng, sự kéo dài nhanh ruột sau tuần 5 kết hợp với sự phát triển nhanh

và sự mở rộng của gan dẫn đến thoát vị tạm thời các tuyến ruột của tuyến giữa

thành dây chằng . Trùng hợp với sự phát triển này, ruột non quay xung quanh



13



một trục được hình thành bởi động mạch mạc treo tràng trên, tổng cộng là 270

° theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, q trình này được hồn thành vào

lúc trở lại của ruột đến khoang bụng trong tuần thứ 10 .



Hình 1.9. Quá trình quay của ruột non

1.3. Thời điểm thai nhi dễ bị mắc các dị tật bẩm sinh

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (1972), dị tật bẩm sinh là tất

cả những bất thường về cấu trúc, chức năng hoặc sinh hóa có mặt từ khi mới

sinh cho dù chúng có được phát hiện ở thời điểm đó hay khơng .

1.3.1. Giai đoạn tạo giao tử

Tỷ lệ giao tử bất thường khá cao do các tế bào mầm sinh dục trong quá

trình biệt hóa rất mẫn cảm với các tác nhân gây đột biến. Tuy nhiên, các giao

tử bất thường ít hoặc khơng có khả năng tham gia thụ tinh nên tần suất dị tật

bẩm sinh của phôi do giao tử bất thường không cao .



14



1.3.2. Giai đoạn tiền phôi: gồm giai đoạn hợp tử và giai đoạn phân cắt

Giai đoạn hợp tử: Hợp tử tồn tại trong thời gian rất ngắn nên đột biến ít

xuất hiện. Nếu bị tác động, hợp tử chết sớm, người phụ nữ chỉ bị chậm kinh

hoặc không để ý.

Giai đoạn phân cắt: Các phôi bào chưa hoặc ít biệt hóa. Nếu bị tác động,

có 3 khả năng xảy ra: Tồn bộ hoặc phần lớn phơi bào tổn thương, gây chết phôi

hoặc sẩy; hoặc số phôi bào không bị tổn thương phát triển thay thế số phôi bào

bị hại, phơi sẽ phát triển bình thường; hoặc số phôi bào bị tổn thương nhẹ tồn tại

song song với những phơi bào phát triển bình thường, cá thể ở dạng khảm.

1.3.3. Giai đoạn phơi

Tính từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 8. Đây là giai đoạn chủ yếu xuất hiện dị

tật về hình thái do phơi bào đang tích cực biệt hóa, mầm cơ quan đang hình

thành, dễ nhạy cảm với các yếu tố gây đột biến.

1.3.4. Giai đoạn thai

Tính từ tuần thứ 9 đến trước khi trẻ ra đời. Phần lớn các cơ quan đã biệt

hóa về hình thái và hoàn thiện dần về chức năng nên cơ thể giảm cảm thụ với

các yếu tố gây hại. Nếu bị yếu tố có hại tác động sẽ ảnh hưởng đến chức năng

cơ quan, nặng có thể gây thai chết lưu.

1.4. Nguyên nhân gây DTBS và DTBS ống tiêu hóa

Chia làm ba nhóm: nhóm nguyên nhân di truyền bao gồm đột biến gen

và nhiễm sắc thể (18%), nhóm nguyên nhân do yếu tố mơi trường (7%), còn

lại phần lớn các trường hợp DTBS chưa biết rõ nguyên nhân (50%) .

1.4.1. Yếu tố di truyền

Đột biến NST: bao gồm những sai lệch về cấu trúc (đứt đoạn, mất đoạn,

chuyển đoạn, đảo đoạn…) và về số lượng (đa bội, lệch bội, …).

Trong hội chứng Down (trisomi 21), có 2-10% bệnh nhân phình đại

tràng bẩm sinh . Theo một nghiên cứu trên 133 trẻ tắc tá tràng, 24% trẻ có hội

chứng Down .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×