Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội soi phế quản [5]

Nội soi phế quản [5]

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



NSPQ ống mềm được chỉ định trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý

đường hô hấp và các bệnh liên quan tới hơ hấp. Chẩn đốn các tổn thương

trong lòng phế quản trung tâm là chỉ định thường gặp nhất của phương pháp.

Tiến hành thăm khám và nội soi phế quản trong các trường hợp nghi ngờ sau:

- Ho: là triệu chứng hàng đầu trong các bệnh lý đường hô hấp. Chỉ định

soi phế quản trong tất cả các trường hợp ho. Tuy nhiên, NSPQ thường được

chỉ định trong các trường hợp cụ thể sau:

+ Ho kéo dài trên 3 tuần

+ Ho kéo dài trên bệnh nhân mắc suy giảm miễn dịch (CD4 < 200 tế

bào/mm3)

+ Ho còn kéo dài sau điều trị đúng và đủ phác đồ trên bệnh nhân hen

phế quản, hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản.

+ Ho kèm theo tổn thương khu trú trên phim Xquang hoặc CT, MRI phổi

+ Ho máu với bất kỳ mức độ hoặc tính chất máu.

+ Ho kèm theo tiếng rít khu trú

- Thở cò cứ

Mặc dù thở cò cứ là triệu chứng thường gặp trong hen phế quản, bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính, tuy nhiên cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số

trường hợp khác, đặc biệt trong các trường hợp có tổn thương trong lòng khí

phế quản gây chít hẹp lòng khí phế quản.

+ Tiếng cò cứ khơng phải hen phế quản hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

+ Thở cò cứ khơng đáp ứng hoặc đáp ứng kém với điều trị

Những trường hợp thở cò cứ nêu trên có thể do dị vật hay u khí phế

quản từ trong lòng hay chèn ép từ ngồi vào.

- Ho máu



26



Ngun nhân của ho máu có thể gặp do lao phổi, giãn phế quản hay

ung thư phế quản. Nên tiến hành soi phế quản cho những trường hợp ho máu

kéo dài, ho máu nhiều, ho máu có bằng chứng gợi ý bệnh lý ác tính.

- Xẹp thùy phổi

Trong số các dạng tổn thương trên phim Xquang phổi, NSPQ có vai trò

đặc biệt quan trọng trong trường hợp xẹp thùy phổi. Xẹp thùy phổi kéo dài

thường là biểu hiện của khối u trong lòng phế quản gây bít tắc, gây đơng đặc

thùy phổi sau vị trí bít tắc. NSPQ ngồi vai trò chẩn đốn còn có thể can thiệp

để loại bỏ ngun nhân gây bít tắc lòng phế quản như khối u hay dị vật.

- Chẩn đoán u phổi trung tâm qua NSPQ và sinh thiết khối u.

Ngoài các chỉ định trên, NSPQ còn được chỉ định trong các trường hợp:

nói khàn hay liệt dây thanh âm, tổn thương phế quản do hít phải, hội chứng

chèn ép tĩnh mạch chủ trên, u trung thất, bệnh phổi kẽ, nhiễm trùng đường hơ

hấp kéo dài, tràn dịch tràn khí màng phổi, chấn thương ngực, chụp phế quản

cản quang, sau điều trị phẫu thuật phổi, điều trị các bệnh lý liên quan tới

đường hô hấp…

 Chống chỉ định của phương pháp nội soi phế quản ống mềm

- Không cung cấp đủ oxy trong khi tiến hành làm thủ thuật

- Với nội soi phế quản ống cứng

+Cột sống cổ không ổn định

+Cứng cột sống cổ nặng

+Hạn chế vận động khớp thái dương hàm

- Dị ứng với các thuốc gây tê

- Chống chỉ định tương đối

+Rối loạn nhịp tim nặng

+Tình trạng tim khơng ổn định

+Giảm oxy máu nặng



27



+Rối loạn đông máu (nếu dự kiến phải sinh thiết)

- Các yếu tố làm tăng nguy cơ biến chứng

+Bệnh nhân không hợp tác

+Mắc bệnh lý tim mạch từ trước, đặc biệt cơn đau thắt ngực không ổn định

+Hen phế quản chưa được kiểm soát

+Giảm oxy máu từ nhẹ tới nặng

+Tăng CO2 máu

+Tăng Ure máu

+Tăng áp lực động mạch phổi

+Áp xe phổi

+Suy giảm miễn dịch

+Tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên

+Gày, yếu, tuổi cao

 Các phương pháp khác

Một số phương pháp thăm dò khác như sinh thiết xuyên thành ngực dưới

hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính lồng ngực, nội soi màng phổi

và sinh thiết màng phổi mở, nội soi trung thất giúp chẩn đốn tính chất các

khối u phế quản ngoại vi hoặc trung thất.

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Dựa trên một số mơ hình nghiên cứu đã thực hiện nhằm đánh giá các tổn

thương tiền ung thư phế quản [12],[13],[14],[54], chúng tôi thực hiện nghiên

cứu trên những bệnh nhân thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc ung thư

phế quản, đến khám và được nội soi phế quản tại bệnh viện 74 Trung Ương

trong hai năm 2016 – 2017. Các bệnh nhân được lấy vào nghiên cứu phải thỏa

mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ sau.



28



2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Các bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu thuộc nhóm đối tượng có nguy

cơ cao mắc ung thư phế quản, được nội soi phế quản tại bệnh viện 74 Trung

Ương trong hai năm 2016 – 2017, có triệu chứng lâm sàng và/hoặc xét nghiệm

tế bào đờm và/hoặc chẩn đốn hình ảnh (CT, MRI) nghi ngờ u phế quản.

- Nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc ung thư phế quản

+ Tiền sử nghiện hút thuốc lá (hiện còn hút hoặc đã bỏ thuốc)

+ Sinh sống hoặc làm việc tại các khu cơng nghiệp, nhà máy hoặc hầm

mỏ có mơi trường bị ơ nhiễm bởi khói bụi, hóa chất, chất phóng xạ.

+ Tiền sử mắc các bệnh phổi mạn tính: COPD, xơ phổi, lao phổi, bệnh

phổi kẽ đã được chẩn đoán và điều trị tại các trung tâm hô hấp.

+ Tiền sử gia đình có bố, mẹ, anh chị em ruột mắc ung thư phổi.

- Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng gợi ý u phế quản

Triệu chứng hô hấp gợi ý u phế quản:

+ Ho khan kéo dài trên 2 tuần (không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với

các thuốc giảm ho thông thường)

+ Ho máu: bất kỳ số lượng hoặc tính chất máu đều gợi ý u phổi

+ Đau ngực khu trú xuất hiện tự nhiên, không liên quan tới chấn thương

+ Khó thở, khám phổi có tiếng rít khu trú

+ Có thể kèm hoặc khơng kèm theo các triệu chứng tồn thân như mệt

mỏi, gày sút cân khơng rõ nguyên nhân, sốt dao động không rõ nguyên nhân.

- Bệnh nhân có xét nghiệm tế bào đờm bất thường mức độ từ vừa tới nặng.

- Các bệnh nhân nghi ngờ u phế quản trên phim CT hoặc MRI.

- Tất cả các bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên cứu phải có đầy đủ

khối nến và hồ sơ lưu trữ.

2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm chứng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội soi phế quản [5]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×