Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 3.10: Mối tương quan tuyến tính giữa nồng độ các cytokine với các mức độ nặng của bệnh nhân VLĐTTCM

Biểu đồ 3.10: Mối tương quan tuyến tính giữa nồng độ các cytokine với các mức độ nặng của bệnh nhân VLĐTTCM

Tải bản đầy đủ - 0trang

89



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ TNF-α, IL-1β, IL-6, IL8, IL-10 ở bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.

4.1.1.Đặc điểm lâm sàng

4.1.1.1. Tuổi và giới

Nghiên cứu của chúng tôi với 114 bệnh nhân, trong đó 84 bệnh nhân bị

VLĐTTCM và 30 người khỏe mạnh. Tuổi mắc bệnh thấp nhất là 16 tuổi và

cao nhất là 73 tuổi. Tỉ lệ bệnh nhân nữ /nam là 1/1,2 lần (biểu đồ 3.1 và 3.2).

Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Ajit Sood và CS , nghiên cứu tại

Trung Quốc (nam/nữ = 1,09) , Sudul Mananjala Senanayake và CS ghi nhận

tỷ lệ nam/nữ = 1 . Lê Thị Kim Liên (nam/nữ là 1/1,29) . Tuy nhiên, kết quả

này khác với với nghiên cứu Vũ Văn Khiên và CS (nam/nữ = 3/1) và cũng

như vài công trình nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy tỷ lệ nam gặp nhiều

hơn nữ. Chúng tôi nghĩ rằng nghiên cứu của Vũ Văn Khiên và CS nghiên cứu

tại Bệnh viện Trung ương Quân đội nên tỷ lệ nam giới là cao. Hoặc do nghiên

cứu ngẫu nhiên tại một thời điểm xác định.

Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân VLĐTTCM là 45,3 ±13,6 tương

đương với nghiên cứu của Sudul Mananjala Senanayake và CS . Kết quả của

chúng tôi tương tự một số các nghiên cứu của những tác giả Nguyễn Thị Thu

Hiền (42,9  9,1), Lê Thị Kim Liên 42,9  10,6 , , Nguyễn Duy Thắng cho

thấy nhóm tuổi 50- 71 chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,5% . Trong khi đó, nghiên

cứu ở Trung Quốc là 40,7 , Maleki I và CS là 40,4 ± 14,28 . Siew C. Ng và

CS cho thấy tuổi trung bình mắc bệnh ở châu Á là 39,9 ±15,96 . Guidi L và

CS ghi nhận t̉i trung bình lúc chẩn đốn bệnh là 33 tuổi .

Ryan E. Childers và CS đã tập hợp 71 nghiên cứu với 86.824 bệnh

nhân cho thấy các nghiên cứu VLĐTTCM được chẩn đốn lúc 18 t̉i hoặc

trẻ hơn . Trong một nghiên cứu của Daniela và CS ghi nhận tuổi trung bình là



90



36 tuổi và dao động trong khoảng 16-88 tuổi. Hầu hết bệnh nhân được chẩn

đốn trong khoảng từ 20 đến 29 t̉i, khơng có sự khác biệt về giới tính. Tuy

nhiên, 22 bệnh nhân (3%) được chẩn đốn khi trên 60 t̉i. Tác giả cho rằng

trong 15 năm qua sự gia tăng liên tục về số bệnh nhân được chẩn đoán IBD đã

được quan sát và sự gia tăng có ý nghĩa thu được từ so sánh các giai đoạn

1971-1985, 1986-2000 và 2001-2015. Tần suất bệnh nhân IBD phân bố theo

năm cho thấy sự gia tăng các ca VLĐTTCM và Crohn mới theo thời gian .

Các công trình trên thế giới cũng nhận xét chung tỷ lệ nam giới mắc

bệnh VLĐTTCM chiếm ưu thế hơn và cho rằng tuổi thường bắt đầu trong độ

tuổi từ 15 - 30 tuổi nhưng cũng có một nhóm người bị bệnh lần đầu tiên ở độ

tuổi từ 50 - 70. Chúng tôi ghi nhận cũng có bệnh nhân của chúng tôi khởi phát

bệnh ở tuổi 60. Tuy nhiên, độ tuổi thường gặp nhất trong nghiên cứu của

chúng tôi là từ 30 - 59 tuổi là 57 bệnh nhân chiếm 67,8%, chúng tôi gặp duy

nhất 1 trường hợp 16 tuổi điều trị đáp ứng kém mặc dù bệnh nhân đã được

dùng kháng TNF-α và có tăng tiểu cầu. Trong khi đó nghiên cứu của Inger

Camilla Solberg và CS cho thấy lứa tuổi thấp nhất là 15 tuổi , nghiên cứu ở

Trung Quốc trên 1028 bệnh nhân, cho thấy tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ là 1,09.

Tuổi trung bình lúc chẩn đốn là 40,7 t̉i (dao đợng từ 6-80 t̉i và cao nhất

dao động từ 30-49 tuổi .

Một nghiên cứu tại bệnh viện Ankara ở Thổ Nhĩ Kỳ trên 507 bệnh nhân

VLĐTTCM. Kết quả cho thấy tuổi trung bình lúc chẩn đốn bệnh là 42,6 t̉i,

tỷ lệ nam/nữ là 1,2 . Năm 2015, nghiên cứu của Mustafa Qureshi và CS cho

thấy tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM là 1:1, độ tuổi trung bình lúc chẩn đốn bệnh

là 38 ± 11,8 t̉i (trung vị 36,5 tuổi mắc bệnh dao động 18 -64 tuổi)

Năm 2016, Sadiqul Islam và CS ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM ở

nam cao hơn nữ là 1,45:1, đại đa số bệnh nhân được chẩn đoán bệnh ở thời

điểm 20-39 tuổi chiếm 51,86% tổng số bệnh nhân . Cũng trong một nghiên



91



cứu khác của Ali Jabbar Eidan và CS cho thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,6 tuổi trung

bình 41±15,475, độ tuổi dao động từ 18 - 75 tuổi .

4.1.1.2. Triệu chứng lâm sàng

Tất cả các bệnh nhân VLĐTTCM trong nghiên cứu của chúng tôi đều

có đại tiện phân máu. Giải thích cho lý do này: đại tiện phân máu là một tiêu

chuẩn chính cho lựa chọn đối tượng nghiên cứu của chúng tôi. Đây là triệu

chứng chính của bệnh. Dấu hiệu đại tiện phân máu cũng cần được chẩn đoán

phân biệt với các bệnh khác như trĩ nội chảy máu, nứt kẽ hậu môn, lỵ trực

khuẩn, polyp chảy máu, ung thư...vì vậy nợi soi đại tràng tồn bợ là chỉ định

cần thiết cho các bệnh nhân VLĐTTCM

Bảng 3.4 và biểu đồ 3.4, đa số bệnh nhân có sụt cân chiếm tỷ lệ 67,9%,

triệu chứng sốt chiếm tỷ lệ 23,1%. Trong đó bệnh nhân sốt mức độ nặng

chiếm 16,7% và sút cân nặng là 9%. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với Yasemin

Ozin (6,0%) nhưng thấp hơn Pongprasobchai và CS bệnh nhân có biểu hiện

sốt (27,5%), Diefenbach (34%) Triệu chứng sốt là một trong những dấu hiệu

trong đợt tiến triển của bệnh hay phản ánh tình trạng viêm tiến triển. Tiếp theo

các dấu hiệu kèm theo là rối loạn phân 67(79,8%). Nghiên cứu của Yasemin

Ozin và CS cho thấy đại tiện phân máu là 91,2% . Mustafa Qureshi và CS gặp

phân máu là 77,8% .

Đa số bệnh nhân có số lần đại tiện từ >6 lần/ngày 52,5%. Có 32,1% bệnh

nhân đại tiện 4-6 lần/ngày và 15,4% đại tiện < 4 lần/ngày (biểu đồ 3.5). Số lần

đại tiện nhiều nhất là 20 lần/ngày, ít nhất là 2 lần/ngày. Hầu hết các bệnh nhân

có đại tiện phân lỏng nhày chiếm 76,9%, phân máu chiếm tỷ lệ 100% (bảng

3.1). Những trường hợp đại tiện phân máu đỏ tươi thường chỉ có tổn thương ở

đoạn thấp như ở trực tràng và đại tràng sigma. Những trường hợp phân máu

đỏ thẫm thường tổn thương lan rộng và lên cao. Khi đối chiếu với tổn thương

trên nội soi cho các bệnh nhân, chúng tôi thấy không phải chỉ tổn thương ở

đoạn thấp thì có triệu chứng phân máu đỏ tươi, các bệnh nhân của chúng tôi

có tởn thương tồn bợ đại tràng đa số đại tiện máu đỏ tươi và chỉ có 3 bệnh



92



nhân phân máu đỏ thẫm xen lẫn đợt phân máu đỏ tươi.

Về một số triệu chứng ngồi đường tiêu hóa, chúng tơi gặp 7,7% bệnh

nhân có triệu chứng viêm khớp (bảng 3.3). Các biểu hiện viêm khớp, đau

khớp chúng tôi gặp ở phụ nữ. Những bệnh nhân có biểu hiện ngoài đường tiêu

hóa thường có thời gian mắc bệnh VLĐTTCM kéo dài hơn những bệnh nhân

khác. Nghiên cứu của Mustafa Qureshi và CS cho thấy các biểu hiện viêm

khớp chỉ xảy ra 5/54 bệnh nhân . Nghiên cứu của Biljana Radovanović-Dinić

và CS cho thấy viêm khớp ngoại vi được xác định là 13(56,52%) bệnh nhân .

Nghiên cứu Mohammad A Al-Mofarreh và CS thấy viêm khớp/đau khớp

(14%) .

4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.1.2.1. Các xét nghiệm hút học và sinh hóa

Cơng thức máu là một xét nghiệm quan trọng cung cấp thông tin hữu

ích cho bác sĩ lâm sàng đánh giá về tình trạng bệnh và mức độ mất máu của

bệnh nhân VLĐTTCM. Để đánh giá mức độ mất máu trên lâm sàng người ta

dựa vào nồng độ Hb. Biểu đồ 3.6 cho thấy số bệnh nhân có thiếu máu mức độ

nhẹ (51,3%), mức độ vừa (20,5,3%) và mức độ nặng (28,2%). Chúng tôi đã

gặp 1 trường thiếu máu nặng huyết sắc tố 50 g/l, phải truyền khối hồng cầu

cùng nhóm cấp. Đây là bệnh nhân có tởn thương tồn bợ đại tràng trên hình

ảnh nội soi, trên lâm sàng có tình trạng đại tiện phân máu số lượng 8 lần trong

ngày. Trong tất cả các dấu hiệu cận lâm sàng thì dấu hiệu thiếu máu thường

thể hiện rõ nhất. Chảy máu có thể được coi là một biến chứng của bệnh nếu

như tình trạng mất máu nhiều kéo dài không cải thiện sau điều trị. Tuy nhiên,

trường hợp thiếu máu nặng nêu trên sau khi điều trị bằng Methylprednisolon

tiêm tĩnh mạch kết hợp Pentasa đường uống có đáp ứng tốt trên lâm sàng. Có

rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân VLĐTTCM.

Mất máu rỉ rả kéo dài qua đường tiêu hố dẫn tới thiếu máu thiếu sắt. Mợt số

các cytokine viêm có thể ức chế tổng hợp erythropoietin cũng dẫn tới tình

trạng thiếu máu và đã có nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa TNF-α



93



với thiếu máu, nghĩa là TNF-α tham gia vào cơ chế bệnh sinh của thiếu máu

trong VLĐTTCM và điều trị bằng thuốc kháng TNF-α có thể làm cải thiện

tình trạng thiếu máu của bệnh nhân . Ngoài ra, sự thiếu hụt acid folic do chế

độ ăn kiêng, do các tác dụng phụ của thuốc điều trị tranh chấp receptor với

acid folic dẫn tới thiếu máu hồng cầu to do thiếu acid folic.

Về kết quả xét nghiệm các yếu tố viêm, chúng tôi thấy có 34,7% bệnh

nhân tăng số lượng bạch cầu, bệnh nhân có máu lắng tăng ≥20 mm/h là

67,9%, CRP >1 mg/dl là 42,3% (bảng 3.4 + 3.5). Trong nghiên cứu của Iril

Monstad và CS cho thấy ghi nhận số bệnh nhân có máu lắng tăng ≥30 mm/h

là 21% . Người ta cho rằng, IL-1β có thể gây sốt và sản xuất CRP vì sự xâm

nhập các tế bào viêm vào mô ruột là đặc tính của viêm ruột, hơn nữa sự xâm

nhiễm của BCĐNTT và sự bài tiết của các loại oxy phản ứng gây độc trong

niêm mạc đại tràng có liên quan đến tổn thương mô. Tuy nhiên, tình trạng

nhiễm trùng kèm theo cũng gây nên tình trạng sốt, tăng bạch cầu và tăng máu

lắng.

Kết quả này tương tự với nghiên cứu Mai Đình Minh, Lê Thị Kim

Liên, Phạm Văn Dũng đều cho thấy nồng độ CRP tăng cao trong huyết thanh

ở bệnh nhân VLĐTTCM , , . Mihai Virgil Boldeanu và CS ghi nhận nồng độ

CRP có sự khác biệt rõ rệt ở các mức độ nhẹ vừa nặng .

Mức độ giảm kali phản ánh tình trạng nặng của bệnh. Kali huyết càng

giảm thì bệnh càng nặng. Khi kali huyết giảm gây chướng bụng, rối loạn nhịp

tim và có thể tạo điều kiện thuận lợi để dẫn tới biến chứng phình giãn đại

tràng nhiễm độc. Tình trạng mất máu qua đường tiêu hoá, đại tiện phân nhày,

phân lỏng số lượng nhiều hoặc bệnh nhân sử dụng thuốc corticoid gây giảm

kali huyết. Tại bảng 3.6, chúng tôi gặp mức kali huyết trung bình là 3,41 ±

0,41 và có 2(2,6%) bệnh nhân có hạ kali nặng tương ứng với các biểu hiện

lâm sàng là đại tiện phân nhày máu số lượng nhiều và nhiều lần trong ngày 15

- 20 lần/ngày, trong đó có hai bệnh nhân tổn thương đại tràng tồn bợ và mợt

bệnh nhân tởn thương trực tràng và đại tràng sigma. Tỷ lệ này cao hơn của tác



94



giả Vũ Văn Khiên và CS (37,5 %) . Chúng tôi đã đối chiếu 2 trường hợp có

kali huyết ≤ 2,5 mm/l trên hình ảnh nội soi và đặc điểm lâm sàng cho thấy

đều tổn thương rất nặng và phải bù kali theo dõi thường xuyên.

Nồng độ albumin trong máu có giá trị tiên lượng bệnh, phản ánh mức

độ nặng của bệnh. Trong bệnh VLĐTTCM, albumin huyết thanh thường

giảm, nguyên nhân có thể do tình trạng mất máu, mất albumin qua niêm mạc

ruột tổn thương, đặc biệt là với những trường hợp có tổn thương lan rộng

hoặc bệnh nhân bị ỉa lỏng kéo dài, chế độ dinh dưỡng kém do nhiều bệnh

nhân tự ý ăn kiêng khi thấy xuất hiện đại tiện phân lỏng hoặc nhày máu dẫn

tới tình trạng giảm albumin. Khi nồng độ albumin trong máu thấp là tiên

lượng xấu. Mợt số nghiên cứu ngồi nước người ta sử dụng albumin huyết

thanh để đánh giá sự đáp ứng điều trị VLĐTTCM bằng IFX và nó được coi là

yếu tố dự báo quan trọng của đáp ứng giúp duy trì nồng độ IFX trong huyết

thanh. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khi điện di protein huyết thanh cho

thấy có 12,8 % bệnh nhân có chỉ số albumin máu thấp, số bệnh nhân có

albumin < 30 g/l là 6,4% (bảng 3.6).

4.1.2.2.Đặc điểm miễn dịch

* Đặc điểm các globulin miễn dịch và điện di protein

Khi có yếu tố gây viêm, các globulin miễn dịch được tiết ra từ các tế

bào T, B hoạt hóa, monocyte, đại thực bào hoặc các cytokine bài tiết để đáp

ứng với tình trạng viêm. Đặc biệt, IgE tiết ra từ niêm mạc đường tiêu hóa,

chúng có đặc tính cố định trên các tương bào (tế bào mastocyte và bạch cầu

ưa base - là các tế bào có khả năng giải phóng các chất trung gian hóa học gây

giãn mạch như histamin và serotonin). Có thể nói, IgE là kháng thể tham gia

vào phản ứng quá mẫn tức khắc như phản ứng mẫn cảm.

Từ những năm 50 và 60 đã có các công trình nghiên cứu chứng minh

tăng các globulin miễn dịch trong huyết thanh ở bệnh nhân VLĐTTCM .

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy chủ yếu tăng nồng độ IgE gặp



95



70,5% bệnh nhân và chỉ có 5,1% bệnh nhân có tăng IgA, IgG và IgM (bảng

3.12). Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Levo Y khi đánh giá

nồng độ IgE trong huyết thanh và các lớp globulin miễn dịch khác ở bệnh nhân

VLĐTTCM và tác giả ghi nhận nồng độ IgE trong huyết thanh tăng đáng kể .

Nghiên cứu của F.T. de Dombal cho thấy γ-globulin tăng nhẹ ở lúc

nhập viện ở nhóm bệnh nhân đáp ứng với điều trị và ở những bệnh nhân

không đáp ứng với điều trị thì γ-globulin ở dưới mức bình thường.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận hầu hết các bệnh nhân có tăng các

phần protein sau khi điện di bằng phương pháp miễn dịch cố định. Trong đó,

α1, α2, β và γ chiếm tỷ lệ lần lượt là 82,1% - 88,5% - 57,7%-89,7% (bảng

3.13). Kết quả về điện di protein của chúng tôi là phù hợp với nghiên cứu của

Dombal ,, là đều ghi nhận nồng độ các phần protein đều tăng, đặc biệt là α và

γ. Lý giải cho kết quả này là do niêm mạc đại tràng viêm và các yêu tố gây

viêm tác đợng lên hệ thống miễn dịch tồn thân của cơ thể làm tăng cường

sản xuất các phần protein và các phần protein đi vào hệ tuần hoàn. Một số

nghiên cứu khác cũng cho thấy trong cơn kịch phát bệnh VLĐTTCM đều

giảm nồng độ albumin huyết thanh nhưng lại bắt đầu bằng sự gia tăng nồng độ

α2 globulin (Bicks,Kirsner vaf Palmer - 1959; Brooke vaf Walker - 1961;

Soergel vaf Ingelfinger - 1961) - trích dẫn . Đối với bệnh nhân không đáp ứng

điều trị thường γ giảm ở dưới mức bình thường hoặc tăng ở những bệnh nhân

đáp ứng với điều trị và những bệnh nhân tái phát bệnh có gia tăng nồng độ α2globulin ở thời điểm bắt đầu nhập viện . Như vậy, chúng ta có thể sử dụng xét

nghiệm albumin và điện di protein bằng phương pháp miễn dịch cố định để hô

trợ cho chẩn đoán lâm sàng theo dõi và tiên lượng bệnh trong giai đoạn hoạt

động của bệnh VLĐTTCM đối với mức độ nặng, thể kháng thuốc hoặc tiên

lượng thời gian tái phát của bệnh.

4.1.2.3. Hình ảnh nội soi đại tràng toàn bộ và mơ bệnh học



96



Nợi soi đại tràng tồn bợ rất quan trọng trong chẩn đốn xác định, đánh

giá mức đợ và phạm vi tổn thương, giúp phát hiện các tổn thương ác tính hoặc

biến chứng, giúp tiên lượng và theo dõi bệnh.

Các bệnh nhân có tởn thương đại tràng tồn bộ hầu hết trên lâm sàng có

triệu chứng rầm rộ và mất máu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tổn thương ở trực

tràng và đại tràng sigma có các triệu chứng nặng và thiếu máu. Như vậy, mức độ

biểu hiện các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh VLĐTTCM phụ thuộc

vào mức độ tổn thương tại vị trí bệnh và mức độ lan rộng của tổn thương.

Vị trí tổn thương đại trực tràng qua nội soi, chúng tôi gặp có tởn thương

đại tràng tồn bợ chiếm tỷ lệ cao nhất (35,9%). Tổn thương đại tràng phải

(16,7%), đại tràng trái (14,1%). Tổn thương ở trực tràng và đại tràng sigma

(21,8). Tổn thương đơn độc ở trực tràng (14,1%) (bảng 3.7).

Nghiên cứu của Sadiqul Islam và CS gặp viêm đại tràng phải là

44,44%, viêm đại tràng trái là 37.04%, viêm trực tràng và đại tràng sigma là

18.52%, không gặp viêm trực tràng đơn đợc và viêm đại tràng tồn bợ .

Mustafa Qureshi và CS cho thấy viêm đại tràng toàn bộ chiếm 27,8%,

viêm đại tràng trái là 42,6%, viêm đại tràng phải là 20,4%, viêm trực tràng

9,2% .

Gabriela Fonseca và CS cũng cho thấy gặp 60 % bị viêm toàn bộ đại

tràng, 37 % bị viêm đại tràng trái và 3% bị viêm trực tràng . Về tỷ lệ tổn

thương đại tràng tồn bợ là cao hơn nghiên cứu của chúng tôi và một số

nghiên cứu khác.

So với nghiên cứu trong nước, tởn thương đại tràng tồn bợ chúng tơi gặp

35,7%. Tỷ lệ này cao hơn nghiên cứu của Mai Đình Minh là 27,5%, tương

đương với Lê Thị Kim Liên là 35,9% và thấp hơn nghiên cứu của Phạm Văn

Dũng là 42,9% , , .

Nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên, các bệnh nhân đều có tổn thương

trực tràng, trong đó chỉ có 15,5% bệnh nhân có tổn thương đơn độc ở trực

tràng còn lại là tổn thương kết hợp, có 35,9% trường hợp có tởn thương đại



97



tràng tồn bợ.

Nghiên cứu của Diana Hoang-Ngoc Tran và CS cho thấy viêm loét đại

trực tràng bên trái gặp 38%, phải gặp 24% và tồn bợ gặp 59% .

Hầu hết các tác giả trên thế giới đều cho rằng trong VLĐTTCM tổn

thương thường gặp và nặng nhất là ở trực tràng, càng lên cao tổn thương càng

nhẹ. Bệnh VLĐTTCM chỉ có tổn thương ở đại tràng mà không có tổn thương

ở ruột non như Crohn, trừ trường hợp “viêm hồi tràng xoáy ngược” trong

viêm lt đại tràng tồn bợ. Tuy nhiên, khi lựa chọn bệnh nhân những trường

hợp có tổn thương hồi tràng đều bị loại bỏ để tránh nhầm lẫn với Crohn hoặc

lao hồi manh tràng. Viêm lt đại tràng tồn bợ ở đây được định nghĩa là:

bệnh có tổn thương liên tục từ trực tràng lên đến manh tràng. Viêm loét đại

tràng khơng tồn bợ là những trường hợp còn lại (gồm: viêm loét trực tràng,

viêm loét trực tràng và đại tràng sigma, viêm loét đại tràng trái, viêm loét đại

tràng phải). Những khái niệm này được định nghĩa trong chương 2.

100% bệnh nhân có mất cấu trúc mạch máu dưới niêm mạc và niêm

mạc phù nề xung huyết. Loét nông và giả mạc gặp ở hầu hết các trường hợp

chiếm tỷ lệ cao (97,4%), giả polyp (38,5%) (bảng 3.7). Tuy nhiên, trong

nghiên cứu này chúng tôi gặp tổn thương dạng đá lát đường (3,6% ) và gặp 2

trường hợp tổn thương tạo khối. Đối chiếu trên lâm sàng, chúng tôi thấy 2

bệnh nhân có tổn thương tạo khối có biểu hiện mức độ bệnh nặng, mất máu

nhiều và phải truyền máu. Tuy nhiên, kết quả mô bệnh học sinh thiết vùng có

tổn thương tạo khối không thấy loạn sản hoặc ung thư hóa. Giả polyp được

hình thành do quá trình tái tạo lại tổ chức cùng với quá trình viêm mạn tính.

Khi có giả polyp, chứng tỏ bệnh đã trải qua một quá trình bệnh lâu dài. Chúng

tôi gặp một trường hợp được chẩn đoán lần đầu tiên bệnh VLĐTTCM 3 năm.

Tại thời điểm bệnh nhân tham gia vào đối tượng nghiên cứu nội soi có hình

ảnh nhiều giả polyp kích thước to nhỏ khác nhau, sau khi ra viện được 1 năm

bệnh nhân nhập viện điều trị, kết quả nội soi có hình ảnh cầu polyp.

Một số nghiên cứu trên thế giới cho rằng liền vết loét niêm mạc đại trực



98



tràng được coi như là một mục tiêu điều trị mới đối với bệnh nhân

VLĐTTCM vì nó liên quan đến cải thiện các chỉ tiêu lâm sàng. Bouguen và

CS đánh giá tính khả thi của việc điều trị tập trung vào lành vết loét niêm mạc

theo kết quả nội soi để đạt được mục đích chữa lành niêm mạc và lành vết

loét về mặt mô học. Tác giả đã chứng minh được rằng việc điều trị hướng tới

đích chữa lành niêm mạc đại tràng là có tính khả thi trong thực hành lâm sàng

và có thể mang nhiều lợi ích và việc đánh giá theo dõi vết loét niêm mạc trên

nội soi trước và sau điều trị là rất cần thiết . Danese và CS nghiên cứu thông

qua việc theo dõi chữa lành niêm mạc, sự thuyên giảm lâm sàng bằng

adalimumab, golimumab, infliximab, vedolizumab, kết quả phân tích cho thấy

infliximab hiệu quả hơn để tạo đáp ứng lâm sàng và hồi phục niêm mạc .

Về phân loại mức độ tổn thương trên nội soi chúng tối dựa theo tiêu chí

của Baron. Tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu đều ở giai đoạn 2 và 3.

Trong đó, bệnh nhân ở giai đoạn 3 chiếm tỷ lệ cao nhất (84,6%). Các bệnh

nhân ở giai đoạn 2 chiếm tỷ lệ thấp hơn (15,4%) (bảng 3.8). Kết quả của

chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên là 82% bệnh

nhân nghiên cứu ở giai đoạn 3, 18% bệnh nhân ở giai đoạn 2 và không có

bệnh nhân giai đoạn 0 và giai đoạn 1 . Có thể do các bệnh nhân nghiên cứu

của chúng tôi đều là những bệnh nhân đã mắc bệnh lâu và đến viện điều trị

trong đợt tiến triển của bệnh nên hình ảnh nội soi đều ở vào giai đoạn 2 và 3

của bệnh.

Hình ảnh tổn thương mô bệnh học không chỉ là một trong những tiêu

chuẩn bắt ḅc để chẩn đốn xác định bệnh VLĐTTCM mà nó còn giúp các

bác sỹ lâm sàng có cơ sở khoa học để phân loại mức độ bệnh. Đã có nghiên

cứu cho thấy các điểm số mô bệnh học có tương quan điểm số hoạt động nội

soi ở bệnh VLĐTTCM (Spearman's ρ = 0,65; P <0,001) .

Trong bảng thống kê (bảng 3.10) của chúng tôi đã mô tả đầy đủ, cụ thể

sự thay đổi của tế bào niêm mạc và dưới niêm mạc đại trực tràng ở các bệnh



99



nhân VLĐTTCM chúng tôi so sánh với các nghiên cứu như sau:

Bảng 4.1. So sánh kết quả mô bệnh học của nghiên cứu với kết quả

nghiên cứu của một số tác giả

Các nghiên cứu

Hình ảnh mơ bệnh học (%)



Ngơ

Th





Lê Thị

Kim

Liên



Nguyễn

Văn

Hưng



Mai

Đình

Minh



6,7



8,1



2,9



3,9



89,7



83,7



97,1



94,1



96,2

91,9

Viêm mạn

9,3

86,5



100



98,0



16,2



5,9



Cấu trúc

Không đều, chia nhánh khe

tuyến khu trú

Không đều, chia nhánh khe

tuyến lan tỏa

Giảm số lượng khe tuyến/teo

Khu trú hoặc chắp vá:

Tương bào, lympho bào nằm

ở vùng đáy khe tuyến

Viêm nông lan tỏa:

Viêm xuyên niêm mạc lan tỏa

U hạt

Bạch cầu đa nhân

Trong mô đệm niêm mạc

Khu trú (1 hoặc 2 ổ) trong

biểu mô khe tuyến

Lan tỏa trong biểu mô khe

tuyến

Áp xe khe tuyến

Dịch rỉ bạch cầu đa nhân

Thay đổi biểu mô

Bị bào mòn (trợt)/loét

Mất chất mucin

Dị sản TB Paneth

Thay đổi phối hợp biểu mô

Tăng lympho nội biểu mô

Tăng colagen dưới biểu mô



96,2



91,9



100



100



1,3

88,0

0,0



0,0

0,0

0,0



88,2

76,5

0,0



90,2

0,0

0,0



93,3



89,2



16,2



98,0



54,7



59,4



8,8



47,1



10,7



2,7



0,0



15,7



20,0

33,3



27,0

35,1



4,4

30,9



25,5

31,4



93,3

96,2

0,0



89,2

89,2

0,0



100

75

47,1



90,2

98,0

0,0



1,3

1,3



83,7

8,1



0,0

0,0



5,9

0,0



Đa số bệnh nhân bị giảm số lượng/teo khe tuyến (96,2%) và cấu trúc

khe tuyến không đều, chia nhánh lan tỏa (89,7%). Tỷ lệ này tương đương với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 3.10: Mối tương quan tuyến tính giữa nồng độ các cytokine với các mức độ nặng của bệnh nhân VLĐTTCM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×