Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các triệu chứng của bệnh Parkinson là do sự bất thường của hệ thống ngoại tháp mà chủ yếu là hệ thống nhân xám trung ương. Một số nhân xám chính có liên quan tới cơ chế bệnh sinh của bệnh là liềm đen và thể vân.

Các triệu chứng của bệnh Parkinson là do sự bất thường của hệ thống ngoại tháp mà chủ yếu là hệ thống nhân xám trung ương. Một số nhân xám chính có liên quan tới cơ chế bệnh sinh của bệnh là liềm đen và thể vân.

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Lewy (1913), Tretiakoff (1919) trong nghiên cứu đã cho rằng có vai trò

của liềm đen (locus niger) trong sự xuất hiện của bệnh Parkinson.

Sau đó nhiều tác giả như Nicolesco (1925), Hassler (1928), Escourolle

và Tray (1971) đã khẳng định và chỉ ra tổn thương ở liềm đen [15].

Ngày nay người ta thấy các tổn thương cụ thể bao gồm:

- Liềm đen: ln ln có sự tổn thương ở hai bên với hiện tượng mất các

sắc tố, sự thối hóa liềm đen ưu thế ở vùng đặc (zona compacta) và thấy rõ hơn

ở giai đoạn muộn của bệnh. Sự biến mất của các quần thể tế bào thần kinh đôi

khi rất rõ rệt kèm theo sự mất sắc tố của các tế bào chứa hắc tố melamin.

- Nhân xám: Thường xuyên cũng bị tổn thương do thối hóa tế bào thần

kinh và cũng có hiện tượng mất hắc tố.

- Tổn thương các hạch giao cảm: Các nhân giao cảm này cũng bị tổn

thương tương tự như liềm đen và thể vân. Điều này giải thích hiện tượng rối loạn

thần kinh thực vật như rối loạn nhu động dạ dày, thực quản và các tạng nói chung.

- Chất lưới ở thân não: Rất ít khi tổn thương.

- Các nhân xám: Các nhân xám ở nền não bị tổn thương ở mức độ ít

nhiều, nhưng tại nhân nhợt và nhân bèo (Pretamen) có hiện tượng mất sắc tố

rõ. Ngồi ra, người ta còn quan sát thấy hiện tượng giảm các tế bào thần kinh

liên quan đến tuổi tác. Trong bệnh Parkinson, thể vân bị giảm rõ rệt số lượng

tế bào thần kinh cùng hàm lượng Dopamin. Hàm lượng Dopamin lại liên quan

mật thiết và tỷ lệ với hiện tượng mất sắc tố ở liềm đen [15],[16].



15



B



A



Hình 1.1. Đặc điểm giải phẫu bệnh ở bệnh nhân Parkinson

Hình ảnh liềm đen nhạt màu ở bệnh nhân Parkinson (A)

so với người bình thường(B)

- Các hạch giao cảm cũng có những tổn thương tương tự như ở liềm đen,

thể vân.

1.5.3. Các thể Lewy: Thể Lewy là chất vùi trong bào tương của tế bào thần kinh.

Sự xuất hiện của thể Lewy là chất vùi bào tương của tế bào thần kinh

thấy ở 26.1% bệnh nhân Parkinson [17]. Ngày nay các tác giả cho rằng một

protein tiền synap là Synuclein khi lắng đọng trong tế bào liềm đen là

thành phần chính của tiểu thể Lewy. Sự có mặt của tiểu thể Lewy ở những

người khơng có triệu chứng gợi ý rằng họ có tiền triệu lâm sàng của bệnh

Parkinson [8].

1.6. Cơ sở bệnh nguyên, bệnh sinh của bệnh Parkinson

Những nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy sự chết của tếbào

thần kinh thuộc hệ thống tiết Dopamin có vai trò quan trọng trong việc gây ra

bệnh này.

Khi xem xét hình ảnh giải phẫu bệnh của liềm đen ở người bình thường

và người mắc bệnh Parkinson, người ta thấy ở người mắc bệnh Parkinson liềm

đen có mầu nhợt do mất sắc tố. Các tác giả cũng thống nhất rằng các dấu hiệu



16



của bệnh Parkinson như run, tăng trương lực cơ... xuất hiện khi các tế bào thần

kinh tiết Dopamin mất tới một mức độ nào đó (khoảng trên 70%) [18].

Trong lâm sàng cũng như trong nghiên cứu, khó xác định chính xác đã

mất bao nhiêu phần trăm của q trình tiết Dopamin vì khơng thể sinh thiết

não ở người còn sống để đánh giá chính xác mức độ tổn thương. Sự đánh giá

mất bao nhiêu phần trăm chỉ có thể thực hiện được thơng qua các phương

pháp như chụp cắt lớp phát photon đơn (SPECT), chụp cắt lớp phát điện tử

dương (PET) [19],[20]. Tuy vậy, sự tiển triển từ từ, nặng dần lên của bệnh nói

lên được sự hủy hoại của các tế bào thần kinh chức năng. Gần đây một số

cơng trình nghiên cứu về diễn biến lâm sàng và q trình dẫn truyền Dopamin

cho thấy có lẽ vùng đuôi và bụng trên của phần đặc của liềm đen bị tổn

thương trước tiên sau đó đến các vùng mỏ, lưng và giữa của gian não. Hiện

tượng tổn thương lan tỏa của hệ tiết Dopamin cho thấy cơ chế chính của bệnh

là tổn thương tế bào thần kinh. Sự khơng đồng nhất của các tổn thương có

thể nói lên rằng còn có các cơ chế khác tham gia vào cơ chế bệnh sinh. Hiện

nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về cơ chế bệnh nguyên và bệnh sinh của

bệnh Parkinson.



17



1.6.1. Giả thuyết về q trình lão hóa

Có nhiều bằng chứng có thể cho thấy có rối loạn chức năng của hệ

thống Dopamin ở những người già: Lượng Dopamin ở thể vân giảm rõ ở

người già; càng già số lượng các khớp tận cùng thần kinh Dopamin lên thể

vân càng giảm; cứ sau 10 năm, số lượng các tế bào Dopamin ở liềm đen lại

giảm đi 5%. Như vậy, bệnh Parkinson có thể liên quan đến q trình lão hóa

“sinh lý”. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy nhiều triệu chứng

ngoại tháp ở người già không đỡ đi khi điều trị bằng L-dopa. Điều này có

nghĩa tổn thương ngoại tháp ở người già khơng hồn toàn giống người bệnh

Parkinson. Bằng kỹ thuật gắn huỳnh quang vào Dopamine của thể vân, người

ta thấy vị trí gắn của các dấu ấn (marker) không giống nhau giữa người bị

Parkinson với q trình lão hóa thơng thường ở người già: độ tập trung của

các chất đánh dấu giảm ở nhân đuôi trong khi ở người bệnh Parkinson lại

giảm ở nhân bèo. Như vậy, nguyên nhân của bệnh Parkinson không đơn thuần

do gia tăng q trình lão hóa, nhưng việc tham gia của yếu tố sinh lý vào cơ

chế bệnh sinh của bệnh này cũng không thể bỏ qua [3],[6],[21],[22], [23].

1.6.2. Vai trò của yếu tố mơi trường trong bệnh Parkinson

a. Các tác nhân nhiễm khuẩn.

Các cơng trình nghiên cứu đến nay cho thấy, chưa có bằng chứng về vai

trò của vi khuẩn, virus trong cơ chế gây bệnh Parkinson. Điều này cho thấy

giả thuyết về virus, vi khuẩn là chưa có cơ sở.

b. Các tác nhân nhiễm độc.

Các nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của MPTP (1-methyl 4phenyl –

1,2,3,6 – tetrahydropyridine) trong cơ chế bệnh sinh của bệnh Parkinson. Tuy

nhiên, quá trình tiếp xúc với MPTP cần phải có thời gian mới xuất hiện triệu

chứng. Điều này có nghĩa là sự mất các tế bào thần kinh tiết Dopamin phải đạt

tới một “ngưỡng” và ngưỡng này lại chịu tác động của q trình lão hóa mới



18



có thể gây bệnh. Bằng chứng là, tỷ lệ hiện mắc của loại bệnh này tăng rõ ở

những trung tâm công nghiệp lớn (hóa chất, thuốc trừ sâu) và một số vùng

nơng thơn (chất diệt côn trùng). Như vậy, nếu tiếp xúc với hóa chấtcàng sớm

thì khả năng mắc bệnh Parkinson trước tuổi 40 càng cao. Nhưng các chất độc

hại cũng chỉ là một trong các nguyên nhân gây Parkinson và để xuất hiện

bệnh Parkinson còn phụ thuộc vào cả tính nhạy cảm cũng như yếu tố di

truyền của từng cá thể [23],[24],[25],[26].

1.6.3. Yếu tố di truyền

Nghiên cứu cho thấy, men catechol-O-methyltransferase (COMT) liên

quan với sự tăng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson [27]. Để tìm hiểu vai trò

của di truyền đối với bệnh Parkinson, người ta đã điều tra các cặp sinh đôi

đồng hợp tử (giống nhau 100% về các yếu tố di truyền) và cặp sinh đôi dị hợp

tử (giống nhau 50% về các yếu tố di truyền). Bằng phương pháp chụp cắt lớp

phát điện tử dương (PET – scan), người ta có thể đánh giá được tính tồn vẹn

của các tận cùng Dopamin ở thể vân, qua đó chẩn đốn các thể tiền lâm sàng

của bệnh Parkinson. Với kỹ thuật này, Burn và cộng sự (1992) đã thấy số cặp

sinh đôi đồng hợp tử cùng mắc bệnh Parkinson chiếm đến 45% trong khi các

cặp dị hợp tử chỉ chiếm 29%. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy

sự lão hóa bình thường của các tế bào thần kinh tiết Dopamin đã được đẩy

nhanh trong bệnh Parkinson thông qua sự kết hợp cùng với các yếu tố di

truyền và môi trường [27],[28],[29].

1.6.4. Một số yếu tố khác liên quan giữa sự chết của các tế bào tiết

Dopamin và bệnh Parkinson

Có nhiều cơ chế dẫn đến sự chết của các tế bào thần kinh. Sau đây là

một số giả thuyết được đề cập đến [30]:

- Hiện tượng tự miễn

- Tác động của yếu tố tăng trưởng



19



- Vai trò của canxi

- Vai trò của gốc tự do trong cơ chế gây chết các tế bào thần kinh Dopamin.

- Chết theo chương trình (apoptose) và bệnh Parkinson

1.7. Triệu chứng lâm sàng của hội chứngParkinson

1.7.1. Các rối loạn vận động

Gồm bốn triệu chứng chính là: giảm vận động, tăng tương lực cơ, run

khi nghỉ, tư thế không ổn định:

* Giảm vận động

Theo nhiều tác giả, giảm vận động hoặc vận động chậm là tính năng đặc

trưng của bệnh Parkinson [3],[4],[6],[31].

Biểu hiện ban đầu bằng sự chậm trễ trong việc khởi động một hoạt

động, chậm trễ trong việc bắt đầu chuyển động, giảm các biên độ và tốc độ,

chuyển động lặp đi lặp lại, và khơng có khả năng thực hiện các hành động

đồng thời hoặc tuần tự, giảm xoay cánh tay khi đi bộ (mất vận động tự động)

[3],[4],[6],[31].

Biểu hiện khác của chậm vận động bao gồm: đơn điệu loạn vận ngôn,

mất biểu lộ trên khuôn mặt khiến khuôn mặt bất động như người mang mặt

nạ, chảy nước rãi do suy yếu của động tác nuốt nước bọt, chớp mắt giảm, chữ

viết của bệnh nhân càng ngày càng nhỏ tới mức không đọc được; Ở người già

đây có thể là các triệu chứng gợi ý bệnh Parkinson [3],[4],[6],[31].

* Tăng trương lực cơ ngoạitháp

Tăng trương lực cơ ngoại tháp là một triệu chứng của bệnh Parkinson.

Trong giai đoạn sớm, tăng trương lực cơ thường ảnh hưởng đến các cơ ở cổ,

vai gáy trước khi ảnh hưởng đến cơ ở mặt và toàn thân [26].

Tăng trương lực cơ ở người Parkinson có đặc tính mềm dẻo và gây ra

tư thế gấp. Đặc điểm dấu hiệu “cứng” này là trong suốt quá trình căng cơ thụ

động hoặc vận động một khớp, người khám luôn cảm nhận thấy một lực đề



20



kháng tương đương. Khi được để tay vào vị trí mới, người bệnh có xu hướng

giữ ngun và tay kém đung đưa [3],[4],[6].

Theo Marie T. Banich và Rebecca J. Compton (2011) cho rằng sự kết

hợp của run và tăng trương lực cơ được coi là nguồn gốc dấu hiệu “bánh xe

răng cưa” khi làm các động tác thụ động duỗi cẳng tay hoặc cẳng chân của

bệnh nhân, thầy thuốc nhận thấy hiện tượng duỗi xảy ra tầng nấc chứ không

liên tục [32].

* Run khi nghỉ

Run là một trong những triệu chứng phổ biến của Parkinson, có khoảng

30% bệnh nhân Parkinson có triệu chứng này [3],[4],[6],[31],[26]. Run khi

nghỉ thường là những động tác dao động 4 – 7Hz.

Các run này ảnh hưởng đến bàn tay, hàm, mặt và lưỡi. Ở các chi, run

thường ảnh hưởng nhiều hơn tới ngọn chi. Ở cẳng và bàn tay, run có dạng

động tác sấp ngửa và bàn tay có dạng “vê thuốc”. Run thấy rõ và điển hình

khi nghỉ, trừ khi nặng có thể thấy run tư thế và run động tác [3],[4],[6], [31],

[26].



Hình 1.2. Hình ảnh run khi nghỉ trong bệnh Parkinson



21



* Tư thế không ổn định

Tư thế không ổn định là triệu chứng điển hình trong giai đoạn cuối của

bệnh Parkinson [26], [31]. Tư thế không ổn định cùng với “cứng đờ” dẫn đến

suy giảm khả năng cân bằng và ngã thường xuyên, có đến 40% bệnh nhân

Parkinson trải qua việc bị ngã và khoảng 10% ngã hàng tuần, gây ra gẫy

xương thứ cấp [26]; Người bệnh đi bộ bước ngắn và nhanh hơn để ngăn ngừa

té ngã. Các rối loạn thường gặp là dáng còng, đầu và thân cúi gấp ra trước, tay

và chân gấp. Bước ngắn, giảm các động tác phối hợp giữa thân và hai chân.

Khó khăn thường xuất hiện khi bệnh người bệnh bắt đầu đi. Các bước khơng

chắc chắn và có xu hướng tăng đần. Đơi khi đang đi bệnh nhân dừng lại

độtngột, không thể bước lên được gây hiện tượng dậm chân tại chỗ (hiện

tượng “cứng đờ”). Khi đi, cả tốc độ lẫn khoảng cách của bước chân đều bị

giảm. Nhiều khi khó phân biệt rối loạn này với rối loạn dáng đi do tuổi già.

Tuy nhiên, nếu yêu cầu bệnh nhân ngừng đột ngột khi đang đi hoặc đi nhanh

dần thì bệnh nhân có thể ngã, hiện tượng này không gặp ở người già bình

thường [3],[4],[6].

1.7.2. Các rối loạn ngồi vận động

* Trầm cảm:

* Suy giảm nhận thức:

* Rối loạn chức năng thực vật:

* Các triệu chứng khác [3],[4],[33],[34]:

- Rối loạn giấc ngủ.

- Đau các bắp cơ ở các gốc chi và chi dưới do tăng trương lực cơ.

- Rối loạn về ngữ điệu: lời nói thường đơn điệu, nghẹt tiếng, mất ngữ

điệu và nói nhanh dần.

1.8. Một số phương pháp cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán hội chứng Parkinson

- Chụp MRI sọ não: thơng thường xung T1, T2, chỉ cho phép nhìn thấy



22



cấu trúc bình thường của liềm đen trong bệnh Parkinson ngun phát nên

khơng giúp ích cho chẩn đốn. Tuy nhiên, nó giúp ích cho chẩn đốn ngun

nhân của hội chứng Parkinson thứ phát như vơi hóa, u hạt, bệnh mạch máu,

bệnh Wilson [35]. Hiện nay, với sự phát triển của các xung mới, cộng hưởng từ

có thể phát hiện teo đa hệ thống, liệt trên nhân tiến triển…trong Parkinson [36].

- PET/SPECT: Là cơng cụ quan trọng ước lượng dòng máu não và

chuyển hóa glucose trong não bệnh Parkinson. PET/SPECT chứng minh sự

hiện diện của một số rối loạn chức năng trong não giai đoạn sớm và giai đoạn

tiềm tàng của bệnh, có thể phát hiện sự thiếu hụt Dopamin cả trong bệnh

Parkinson và trong hội chứng Parkinson [19],[20].

1.9. Chẩn đoán xác định bệnh Parkinson

1.9.1. Chẩn đoán xác định bệnh Parkinson

Hiện nay, tiêu chuẩn hay được áp dụng để chẩn đoán và nghiên cứu

bệnh Parkinson là tiêu chuẩn của Ngân hàng não Hội Parkinson Vương Quốc

Anh (UKPDSBB/United Kingdom Parkinson’s Disease Society Brain Bank)

[3],[4],[6],[8].

1.9.2. Chẩn đoán giai đoạn bệnh

Các giai đoạn bệnh Parkinson theo Hoehn và Yahr [8].

Bảng 1.1: Phân loại bệnh Parkinson theo thang điểm Hoehn và Yahr

Giai đoạn 0

Giai đoạn 1

Giai đoạn 2

Giai đoạn 3

Giai đoạn 4

Giai đoạn 5



Khơng có triệu chứng bệnh

Biểu hiện thương tổn một bên

Thương tổn cả hai bên, nhưng chưa có rối loạn thăng bằng

Thương tổn hai bên, từ nhẹ đến vừa, có một vài rối loạn về

tư thế dáng bộ, sinh hoạt vẫn bình thường.

Bị tàn tật, tuy nhiên vẫn có thể đi lại được hay đứng dậy

không cần sự giúp đỡ.

Phải sử dụng xe lăn hoặc nằm liệt giường nếu khơng có

người giúp đỡ.



23



1.9.3. Chẩn đoán phân biệt bệnh Parkinson và hội chứng Parkinson

Việc chẩn đoán phân biệt bệnh Parkinson và hội chứng Parkinson đơi

khi khó khăn. Hội chứng Parkinson sau viêm não, do thuốc (đặc biệt là thuốc

an thần kinh), tràn dịch não áp lực bình thường, chẩn đốn khơng có nhiều

khó khăn, tuy nhiên chẩn đoán nhiều trường hợp hội chứng Parkinson do

thối hóa, di truyền lại tương đối khó khăn, phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn lâm

sàng và cận lâm sàng khác nhau.

 Liệt trên nhân tiến triển:

- Là một rối loạn ngoại tháp, chiếm khoảng 1,5% trong hội chứng

Parkinson, xảy ra nhiều ở nam giới với tuổi mắc bệnh từ 40 đến dưới 70 tuổi,

ít khi trên 70 tuổi. Tiến triển tương đối nhanh,ít thấy triệu chứng run, thường

có sa sút trí tuệ, liệt vận nhãn, có thể có rung giật nhãn cầu, hay bị ngã,

thường co cứng thân mình hơn là co cứng tứ chi, tư thế đầu quá ngửa ra sau,

có nói khó hoặc nuốt khó, điều trị bằng L – dopa ít kết quả [8].



24



- MRI sọ não: không chỉ ra dấu hiệu đặc biệt. Đôi khi thấy hình ảnh teo

trung não với hình ảnh giãn rộng các bể quanh cuống đại não, giãn não thất

III, tăng tín hiệu trên T2 xung quanh cống não, màng mái và nền não thất IV.

Teo đa hệ thống:

- Là một hội chứng Parkinson với nhiều triệu chứng phức tạp do hậu quả

của thối hóa liềm đen – thể vân, rối loạn hệ thần kinh thực vật, rối loạn

đường dẫn truyền trám – cầu – tiểu não. Triệu chứng lâm sàng nổi bật ngoài

hội chứng Parkinson là triệu chứng rối loạn hệ thần kinh thực vật như hạ

huyết áp tư thế, rối loạn cơ tròn, liệt dương, rối loạn phối hợp vận động kiểu

tiểu não, triệu chứng run ít gặp, nam nhiều hơn nữ [8].

- MRI sọ não: có thể thấy hình ảnh teo bán cầu tiểu não làm các bể não

quanh thân não, bể đáy, bể thùy nhộng giãn rộng. Giảm tín hiệu nhân bèo sẫm

trên T2W, bao quanh là viền tăng tín hiệu dạnh dải bất thường. Cầu não có

hình ảnh tăng tín hiệu hình chữ thập kèm theo teo cầu não.

Bệnh tiểu thể Lewy lan tỏa:

Bệnh nhân có rối loạn nhận thức lan tỏa, hội chứng Parkinson, kèm theo

ngã nhiều lần. Các xét nghiệm bổ trợ không chỉ ra được chẩn đốn chắc chắn.

 Thối hóa vỏ não – hạch nền:



Bệnh này khá hiếm và chỉ chiếm 1% trong hội chứng Parkinson. Bệnh

thường xuất hiện ở người trên 60 tuổi.

+ Lâm sàng:

- Hội chứng Parkinson biểu hiện co cứng, khởi phát 1 bên, không đáp

ứng với L – dopa.

- Mất cử động động tác do rối loạn chức năng thùy đỉnh.

- Những cử động bất thường (loạn trương lực cơ, co cơ).

- Có thể có hội chứng sa sút trong giai đoạn tiến triển.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các triệu chứng của bệnh Parkinson là do sự bất thường của hệ thống ngoại tháp mà chủ yếu là hệ thống nhân xám trung ương. Một số nhân xám chính có liên quan tới cơ chế bệnh sinh của bệnh là liềm đen và thể vân.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×