Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác. Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi.

Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác. Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi.

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



Hình 1.1. Khung xương sụn của mũi ngoài

1. Xương mũi.



2. Các sụn mũi



Mũi trong hay ổ mũi

Gồm 2 ổ mũi, nằm ngay dưới nền sọ và trên khẩu cái cứng, hai ổ cách

nhau bởi vách mũi, thơng với bên ngồi qua lỗ mũi trước và thông với hầu ở

sau qua lỗ mũi sau. Mỗi ổ mũi có 4 thành: trong, ngồi, trên và dưới. Có

nhiều xoang nằm trong các xương lân cận, đổ vào ổ mũi.

Tiền đình mũi

Là phần đầu tiên của ổ mũi, hơi phình ra, tương ứng với phần sụn cánh

mũi lớn. Phần lớn tiền đình mũi được lót bởi da có nhiều lơng và tuyến nhầy

để cản bụi.

Lỗ mũi sau

Là nơi thông thương giữa ổ mũi với tỵ hầu. Gồm 2 lỗ, cách nhau bởi vách mũi.

Thành mũi trong

Thành mũi trong hay vách mũi có có hai phần:



11



Phần sụn: ở trước, gồm trụ trong sụn cánh mũi lớn (tạo nên phần màng di

động phía dưới của vách mũi) và sụn vách mũi, sụn lá mía mũi.

Phần xương: ở sau, do mảnh thẳng đứng của xương sàng và xương lá mía

tạo nên.



Hình1.2. Thành trong của mũi

1. Xoang bướm 2. Xương lá mía 3. Lỗ mũi sau

4. Mảnh thẳng đứng xương sàng 5. Sụn vách mũi 6. Khẩu cái cứng

Trần ổ mũi

Trần của ổ mũi do một phần của các xương: mũi, trán, sàng và thân

xương bướm tạo nên.

Nền ổ mũi

Nền ổ mũi là khẩu cái cứng, ngăn cách giữa ổ mũi và ổ miệng.

Thành mũi ngoài

Tạo nên bởi xương hàm trên, xương mũi, xương lệ, mảnh thẳng xương

khẩu cái, mê đạo sàng và mỏm chân bướm.



12



Có 3-4 mảnh xương cuốn cong, nhô vào ổ mũi gọi là các xoăn mũi: xoăn

mũi dưới, xoăn mũi giữa, xoăn mũi trên và đơi khi có thêm xoăn mũi trên cùng.

Các xương xoăn mũi tạo với thành ngoài ổ mũi các ngách mũi tương ứng.

Niêm mạc mũi

Lót mặt trong ổ mũi, liên tục với niêm mạc các xoang, niêm mạc hầu...

Niêm mạc mũi được chia thành 2 vùng:

Vùng khứu giác, gần trần ổ mũi, niêm mạc có nhiều đầu mút thần kinh

khứu giác.

Vùng hơ hấp: là phần lớn phía dưới ổ mũi. Niêm mạc có nhiều mạch

máu, tuyến niêm mạc và tổ chức bạch huyết có chức năng sưởi ấm, làm ẩm

khơng khí, lọc bớt bụi và sát trùng khơng khí trước khi vào phổi.



Hình1.3. Thành ngoài ổ mũi

1. Xoang trán

Các xoang cạnh mũi



2. Ngách mũi giữa 3. Ngách mũi dưới



13



Gồm có 4 đôi là: xoang hàm trên, xoang trán, xoang sàng và xoang

bướm. Bình thường chúng đều rỗng, thống và khơ ráo, chứa khơng khí có

nhiệm vụ cộng hưởng âm thanh, làm ẩm niêm mạc mũi, sưởi ấm khơng khí và

làm nhẹ khối xương đầu mặt.



Hình 1.4. Các xoang cạnh mũi

1. Xoang trán 2. Mê đạo sàng 3. Xoang bướm 4. Các xoang sàng

5. Xoang hàm trên

Xoang hàm trên: là xoang lớn nhất, nằm trong xương hàm trên, hai bên ổ

mũi. Ðổ vào ổ mũi ở ngách mũi giữa.

Xoang trán: hai xoang phải và trái cách nhau bởi vách xương trán và

thường không cân xứng nhau, đổ vào ngách mũi giữa qua ống mũi trán.

Xoang sàng: nằm trong mê đạo sàng. Gồm 3 - 18 xoang nhỏ, chia thành

3 nhóm:

Nhóm trước và giữa thường được gọi chung xoang sàng trước đổ vao

ngách mũi giữa.



14



Nhóm sau được gọi là xoang sàng sau đổ vào ngách mũi trên.

Xoang bướm: nằm trong thân xương bướm. Ðổ vào ngách mũi trên hoặc

ngách mũi trên cùng.

1.2. Các hình thái của mũi



A



B



C



D



E



F



A : Mũi thẳng



B : Mũi lõm



C : Mũi gãy



D : Mũi gồ



E : Mũi hếch



F : Mũi khoằm



Dạng mũi



Sống mũi so với Góc mũi mơi Chiều cao lỗ mũi ở tư thế

đường nối gốc

thẳng trước/ chiều cao lỗ

(độ)

mũi – chóp mũi

mũi ở tư thế ngả sau



Mũi thẳng



Trùng nhau hoặc

+- 1mm



80-110



< 0.5



Mũi lõm



Lõm >1-5 mm



80-110



<0.5



Mũi gãy



Lõm > 5mm



80-110



<0.5



Mũi gồ



Gồ > 1mm



80-110



<0.5



Mũi hếch



Bất kì



>110



>0.5



15



Mũi khoằm



Bất kì



< 80



0



1.3. Giới thiệu về người dân tộc Tày ở Lạng Sơn

Tên tự gọi: Tày

Tên gọi khác: Thổ

Nhóm địa phương: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.

Số dân: 1.626.392 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngơn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngơn ngữ Tày - Thái, ngữ

hệ Thái - Ka Đai. Đồng bào có chữ nơm Tày.

Địa bàn cư trú: Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi

phía bắc (1.400.519 người năm 1999). Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây,

người Tày còn di cư tới một số tỉnh Tây Nguyên như Đăk Lăk và Lâm Đồng

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam có

dân số 1.626.392 người năm 2009, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam,

có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh:





Lạng Sơn (259.532 người, chiếm 35,4% dân số tồn tỉnh và 31,5%

tổng số người Tày tại Việt Nam),







Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41,0% dân số toàn tỉnh và 25,2%

tổng số người Tày tại Việt Nam),







Tuyên Quang (185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn tỉnh và 22,5%

tổng số người Tày tại Việt Nam),



16







Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5%

tổng số người Tày tại Việt Nam),







Bắc Kạn (155.510 người, chiếm 52,9% dân số tồn tỉnh và 18,9%

tổng số người Tày tại Việt Nam),







Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4% tổng

số người Tày tại Việt Nam),







Thái Nguyên (123.197 người, chiếm 11,0% dân số toàn tỉnh và 15,0%

tổng số người Tày tại Việt Nam),







Lào Cai (94.243 người),







Đăk Lăk (51.285 người)...



Nguồn gốc lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ

nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Cơng ngun.

Đặc điểm kinh tế:

-



Người Tày có truyền thống trồng lúa nước lâu đời với kỹ thuật thâm canh các

biện pháp thuỷ lợi.



-



Ngồi ra, đồng bào còn trồng trọt trên đất bãi với lúa khô, hoa màu, cây ăn

quả...



-



Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm.



-



Các nghề thủ cơng gia đình được chú ý, nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với

nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo.



-



Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Phong tục tập quán:



17



Ăn: Người Tày thích ăn nếp. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm

nhiều loại bánh làm từ bột nế.. Ðặc biệt người Tày có bánh bột nhân bằng

trứng kiến và cốm nếp.

Ở: Người Tày cư trú tập trung ở những thung lũng ven suối hoặc triền

núi thấp. Cư trú theo đơn vị làng, bản. Nhà ở có nhà sàn, nhà đất và một số

vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ được xây dựng theo kiểu pháo đài

đề phòng hoả hoạn. Nhà sàn là nhà truyền thống có 2 hoặc 4 mái lợp ngói,

tranh hay lá cọ; thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Hôn nhân: Nam nữ tự do yêu đương nhưng hôn nhân phụ thuộc bố mẹ

hai bên và "số mệnh" theo quan niệm. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ

cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Tang ma: Nhiều nghi lễ nhằm được tổ chức nhằm báo hiếu và đưa hồn

người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa

hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên.

Lễ hội: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau (Tết

Nguyên đán, tết rằm tháng 7, Tết gọi hồn trâu bò, cơm mới..)

Tín ngưỡng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngồi ra người Tày

còn thờ cúng thổ cơng, vua bếp, bà mụ.

Trang phục: Nam, nữ thường mặc quần áo chàm đen không thêu hoa

văn. Nữ mặc áo dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách và cài 5 khuy bên

phải. Một số nơi. nữ quấn khăn hình chóp trên đỉnh đầu hay hình mái nhà..

Đời sống văn hóa: Người Tày có kho tàng truyện cổ tích, thơ ca, hò vè..

Đàn tính là nhạc cụ được sử dụng phổ biến ở người Tày. Người Tày có nhiều



18



làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng.... Ngoài

múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối gỗ khá độc đáo.

1.4. Phương pháp đo trên ảnh chuẩn hố

Phân tích trên ảnh chụp được thực hiện trên ảnh chụp tư thế thẳng và

nghiêng. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực

khác nhau như nhân trắc, hình sự với ưu điểm: rẻ tiền và có thể giúp đánh

giá tốt hơn về tương quan của các cấu trúc ngoài sọ gồm cơ và m mềm. Khi

phân tích thẩm mỹ khu n mặt nên chủ yếu quan sát trực tiếp và phân tích qua

ảnh. Hai phương pháp này c tác dụng bổ trợ cho nhau. Phép đo trực tiếp trên

người sống cho các giá trị của các kích thước trên từng cá thể chính xác hơn.

Phép đo ảnh chụp dễ đánh giá về sự cân xứng của vùng mặt, cũng như dễ

trao đổi thông tin hơn. Đo đạc trên máy ảnh kỹ thuật số với phần mềm đo

thích hợp sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, nhân lực và đã phức tạp hơn

nhiều so với đo trực tiếp trên người, có nhiều ưu điểm về khả năng thông tin,

lưu trữ và bảo quản. Qua ảnh, có thể đánh giá định tính đẹp hay kh ng đẹp,

từ đ chúng ta có thể yêu cầu một phương pháp khoa học để đánh giá định

lượng. Có nhiều tác giả đ phân tích khn mặt qua ảnh và đã đưa ra các tiêu

chuẩn để chụp mặt với các tư thế khác nhau như Ferrario, Bishara, Farkas,

mục đích để chuẩn hoá kỹ thuật chụp ảnh nhằm đánh giá và so sánh dễ

dàng hơn [3].



19



Hình 1.5. Ảnh chụp thẳng chuẩn hóa

Ưu nhược điểm của phương pháp đo trên ảnh chụp chuẩn hóa

Ưu điểm:

- Những mốc ngồi mặt cần xác định được không chỉ là những mốc nằm dọc

theo chiều mặt nghiêng mà còn phải kể đến các mốc giải phẫu khác nằm phía

trong, thuộc mơ mềm như cánh mũi, mép hai mơi, khóe mắt... những điểm rất

khó xác định trên phim chụp sọ nghiêng nhưng dễ xác định hơn trên ảnh chụp

chuẩn hóa.

- Phương pháp đươc dùng chủ yếu khi phân tích thẩm mỹ khn mặt là quan

sát trực tiếp và phân tích qua ảnh.

- Thao tác đơn giản, dễ dàng đánh giá về sự cân xứng vùng mặt, dễ dàng lưu

trữ và trao đổi thông tin.

- Tiết kiệm thời gian, nhân lực khi đo đạc và phân tích bằng phần mềm trên

máy tính.

Nhược điểm:

-



Nguồn cấp sáng khơng đồng đều.



- Biến dạng qua ảnh dẫn đến sai số.



20



- Tư thế đầu của bệnh nhân không ổn định.

1.5. Quan điểm về thẩm mỹ khuôn mặt

1.5.1. Định nghĩa thẩm mỹ khuôn mặt

Thuật ngữ thẩm mỹ lần đầu tiên được sử dụng bởi Baumgarten để cho

khoa học của cảm giác mà nghệ thuật tạo ra cho chúng ta. Từ đó thuật ngữ

thẩm mỹ đã trải qua một chặng đường phát triển rất dài từ Platon đến Aristote,

Hegel... Mỗi một triết gia có một định nghĩa khác nhau về thẩm mỹ, nhưng

nhìn chung các nhà triết gia này đều thống nhất để có được thẩm mỹ thì cần

phải có sự cân xứng và hài hoà. Theo Hegel, sự đều đặn, hài hoà và trật tự là

các đặc tính của thẩm mỹ.

1.5.2. Quan niệm thẩm mỹ trên thế giới theo chuyên ngành khác nhau.

1.5.2.1. Quan niệm của chỉnh hình

Angle là người đặt nền móng cho ngành chỉnh hình. Angle ln nghĩ rằng

nếu khớp cắn đúng thì thẩm mỹ mặt là bình thường, ơng cũng đã mơ tả nhiều

trường hợp có những bất thường nhỏ về khớp cắn thì mặt có bất thường đáng kể.

Tweed nhấn mạnh rằng nếu răng cửa dưới nằm đúng vị trí thì nét

nghiêng của mặt sẽ hài hồ.

Theo Ricketts, đánh giá một khn mặt cần phân tích trong ba chiều

khơng gian. Ơng cho rằng khơng có một con số tuyệt đối lý tưởng mà các mối

tương quan bình thường nằm trong một khoảng rộng.

Khi phân tích mặt nghiêng, ng đưa ra khái niệm về đường thẩm mỹ E E

plane, được vẽ từ đỉnh mũi đến điểm nhô nhất của cằm để mô tả tương quan

môi miệng với các cấu trúc lân cận. Ông cho rằng: “Ở một người da trắng

trưởng thành bìnhthường, hai mơi nằm sau giới hạn của đường thẳng vẽ từ đỉnh

mũi đến cằm, đường nét nghiêng của hai môi trên đều đặn, môi trên hơi nằm

sau hơn so với đường thẩm mỹ, và miệng khép kín nhưng không căng”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác. Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×