Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Truyền dịch 1 - 2 lít muối sinh lý, hoặc 500 ml dịch keo có thể làm tăng cung lượng tim ở bệnh nhân TĐMP huyết động không ổn định. Nhưng cần thận trọng truyền dịch ở bệnh nhân có tụt huyết áp, đặc biệt khi có suy tâm thất phải [29].

Truyền dịch 1 - 2 lít muối sinh lý, hoặc 500 ml dịch keo có thể làm tăng cung lượng tim ở bệnh nhân TĐMP huyết động không ổn định. Nhưng cần thận trọng truyền dịch ở bệnh nhân có tụt huyết áp, đặc biệt khi có suy tâm thất phải [29].

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



nhưng nếu tăng chỉ số tim quá mức trên giá trị bình thường có thể làm nặng

lên tình trạng rối loạn thơng khí/tưới máu do hiện tượng tái phân bố dòng máu

từ vùng phổi tắc một phần hoặc tồn bộ động mạch phổi sang vùng có mạch

phổi bình thường [30], [31]. Epinephrin là thuốc tổng hợp về mặt cơ chế của

dobutamin và norepinephrin mà không làm giãn mạch hệ thống có thể được

sử dụng cho bệnh nhân TĐMP có sốc [10], [32], [30].

1.1.4.2. Điều trị bằng thuốc chống đông





Bắt đầu điều trị bằng thuốc chống đông

Thuốc chống đông đường tĩnh mạch có thể bắt đầu cho tất cả các trường



hợp TĐMP đã được khẳng định, tỷ lệ TĐMP tái phát nếu điều trị chống đông

không tối ưu là 25% trong khi nguy cơ chảy máu do thuốc chống đông là dưới

3% [33], [34]. Thuốc chống đông được cho ngay cho các bệnh nhân nghi ngờ

TĐMP cao, hoặc vừa trên lâm sàng và thời gian dự kiến chẩn đốn được hồn

thành mất thời gian trên 4 giờ [33]. Ngược lại, cho thuốc chống đông kinh

nghiệm không được khuyến cáo cho các bệnh nhân nghi ngờ TĐMP thấp và

kết quả chẩn đoán được biết trong vòng 24 giờ. Hiệu quả điều trị thuốc chống

đông tĩnh mạch phụ thuộc vào việc dùng chống đông hiệu quả trong 24 giờ

điều trị [19], [35], [34]. Có thể lựa chọn heparin trọng lượng phân tử thấp

(TLPTT), fondaparinux tiêm dưới da, heparin không phân đoạn (heparin

chuẩn) truyền tĩnh mạch và heparin chuẩn tiêm dưới da. Trong đó heparin

TLPTT và fondaparinux đường dưới dưới da được ưa dùng cho bệnh nhân

TĐMP huyết động ổn định [33]. Heparin chuẩn truyền tĩnh mạch được sử dụng

khi TĐMP cấp gây tụt huyết áp, nguy cơ chảy máu tăng, hoặc liên quan với

việc hấp thu qua da khó khăn như (vd: béo bệu), cũng như trong trường hợp sẽ

dùng thuốc tiêu sợi huyết. Heparin chuẩn tĩnh mạch và tiêm dưới da được dùng

khi độ thanh thải creatinin ≤ 30 mL/ph [36]. Nếu như bệnh nhân có chống chỉ

định với thuốc chống đơng, cần phải tiến hành làm chẩn đoán sớm và xem xét



20



đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới nếu chẩn đoán xác định TĐMP.





Heparin trọng lượng phân tử thấp

Heparin trọng lượng phân tử thấp (TLPTT) được khuyến cáo sử dụng



cho hầu hết các bệnh nhân TĐMP cấp huyết động ổn định thay vì Heparin

chuẩn tĩnh mạch hoặc dưới da. Trong khi đó giữa heparin TLPTT và

fondaparinux tiêm dưới da được lựa chọn dựa vào tính sẵn có, giá thành, thói

quen của thầy thuốc, vì hiện nay so sánh lợi hại là như nhau. Chưa có đủ

chứng cớ để khuyến cáo chọn loại nào giữa các loại heparin TLPTT.

* Các nghiên cứu:

Nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên và phân tích gộp đã chỉ ra rằng điều trị bằng

heparin TLPTT làm giảm tỷ lệ tử vong, giảm nguy cơ tắc mạch tái phát, và giảm

tỷ lệ chảy máu hơn điều trị bằng heparin chuẩn tĩnh mạch [33], [37], [38].

Có nhiều nghiên cứu tiến hành so sánh về hiệu quả, tính an tồn của

heparin TLPTT và heparin thường, trong đó có thể kể đến 3 phân tích gộp

[33], [38]: Các phân tích gọp đều cho thấy sử dụng Heparin TLPTT làm giảm

tỷ lệ tử vong, làm giảm thuyên tắc huyết khối tái phát và làm giảm nguy cơ

chảy máu so với dùng Heparin không phân đoạn.

Ngồi việc cải thiện tiên lượng, heparin TLPTT còn dễ sử dụng và giảm

khả năng gây giảm tiểu cầu khi so với heparin chuẩn tĩnh mạch [39].. Heparin

TLPTT có nhiều ưu điểm so với heparin không phân đoạn tiêm dưới da như

khả năng chỉ cần tiêm 1 lần dưới da và tần suất hạ tiểu cầu thấp [33]. Heparin

TLPTT không được so sánh một cách trực tiếp với Fondaparinux tiêm dưới da

trong điều trị TĐMP.

* Enoxaparin có thể được tiêm bằng đường dưới da với liều 1 mg/kg theo cân

nặng hiện thời mỗi 12h.





Heparin chuẩn

Heparin chuẩn đường tĩnh mạch là thuốc thường được lựa chọn đầu tiên



trong điều trị TĐMP cấp vì heparin chuẩn là thuốc duy nhất đã được nghiên



21



cứu chứng minh làm giảm tỷ lệ tử vong so với không điều trị. Tuy nhiên,

nghiên cứu cũng gợi ý rằng heparin TLPTT và fondaparinux tiêm dưới da

khơng có khác nhau về tiên lượng lâm sàng, cái chính là tiện lợi hơn và tỷ lệ

giảm tiểu cầu thấp, heparin TLPTT và fondaparinux tiêm dưới da được sử

dụng như lựa chọn đầu tiên cho hầu hết các trường hợp TĐMP.

* Chỉ định:

Heparin chuẩn đường tĩnh mạch được lựa chọn khi có những dấu hiệu sau:

tụt huyết áp dai dẳng do TĐMP cấp, kinh nghiệm lâm sàng thừa nhận một cách

rộng rãi quan điểm này. Heparin chuẩn cũng được khuyến cáo sử dụng trong

trường hợp phải dùng tiêu sợi huyết, khi đó Heparin sẽ được dừng lại trước khi

thuốc tiêu sợi huyết được truyền. Mục đích chính là để thời gian xảy ra đồng thời

tác dụng của hai thuốc chống đông và tiêu sợi huyết phải là thấp nhất.

Heparin chuẩn cũng được chỉ định cho trường hợp bệnh nhân có suy

thận nặng (MLCT < 30 ml/ph).

Tiêm dưới da heparin chuẩn cũng được chấp nhận trong điều trị ban đầu

TĐMP cấp. Nhưng cách dùng này cũng không vượt qua được hiệu quả của

heparin TLPTT và fondaparinux tiêm dưới da, dù có hiệu quả như nhau

nhưng các thuốc mới tiện lợi hơn chỉ phải tiêm một lần và nguy cơ giảm tiểu

cầu do heparin thấp hơn.

* Truyền tĩnh mạch

Nhiều phác đồ dùng heparin chuẩn đề nghị dùng đường truyền tĩnh

mạch, vì có thể nhanh chóng đạt và duy trì tình trạng chống đơng điều trị. Tất

cả các phác đồ đều truyền tĩnh mạch liên tục vì nếu tiêm tĩnh mạch ngắt

qng có nguy cơ chảy máu cao hơn [40].

Hiện nay, theo các khuyến cáo heparin được dùng phổ biến theo phác đồ

sau: bolus 80 đv/kg, sau đó duy trì 18 đv/kg/h. Thay đổi tốc độ truyền mỗi 4

đến 6 giờ để đạt aPTT phù hợp (aPTT bệnh/chứng: 1,5-2,5).



22



* Tiêm dưới da

Nhiều phác đồ dùng heparin chuẩn tiêm dưới da [44]: bắt đầu với bolus

5000 đv tiêm tĩnh mạch, sau đó 250 đv/kg tiêm dưới da 2 lần trong ngày, hoặc

tiêm dưới da ban đầu 333 đv/kg, sau đó tiêm dưới da 250 đv/kg mỗi 12h,

protocol này không theo dõi aPTT.

* Theo dõi

Theo dõi tác dụng chống đông của heparin chuẩn bằng định lượng hoạt

động antithrombin của heparin. Liên quan giữa aPTT và hoạt độ kháng Xa

thay đổi giữa các cơ sở khác nhau. Tuy nhiên, ở hầu hết bệnh nhân khoảng

điều trị của aPTT từ 1,5 đến 2,5 lần so với aPTT chứng [44]. Tuy nhiên aPTT

không phải lúc nào cũng tương quan chặt với liều heparin. Bệnh nhân nào có

hiện tượng tăng liều heparin chuẩn quá mức (có thể là kháng heparin) cần

phải theo dõi anti-Xa thay vì aPTT.





Kháng vitamin K đường uống

Hầu hết các trường hợp TĐMP đều được điều trị bằng heparin (chuẩn



hoặc TLPTT), hoặc fondaparinux tiêm dưới da đường tĩnh mạch trong một

thời gian ngắn sau đó chuyển sang thuốc kháng vitamin K đường uống kéo

dài. Hầu hết các trường hợp chống đông đường uống là kháng vitamin K, chất

ức chế sản xuất yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K (II, VII, IX, và X).

Warfarin và acenocoumarol là những thuốc kháng vitamin K thịnh hành.

* Bắt đầu điều trị

Kháng vitamin K có thể được bắt đầu cùng ngày và với heparin hoặc

fondaparinux tiêm dưới da. Kháng vitamin K không nên cho trước heparin

hay fondaparinux tiêm dưới da vì warfarin đơn độc làm tăng nguy cơ tái phát

TĐMP và huyết khối tĩnh mạch sâu gấp 3 lần. Kháng vitamin K nên được

dùng cùng với heparin hoặc fondaparinux tiêm dưới da ít nhất 5 ngày cho đến

khi INR (International Normalized Ratio) đạt được khoảng điều trị (2,0-3,0) ít



23



nhất 24h. Warfarin có tác dụng chậm, thường đạt đươc hiệu quả chống đông

sau khi sử dụng 36-72 giờ.

* Theo dõi

Xét nghiệm thường dùng khi theo dõi bệnh nhân dùng thuốc warfarin là

INR. Đích cần đạt là 2,5 (từ 2,0 đến 3,0). Nghiên cứu ngẫu nhiên chỉ ra nếu

INR không đạt được yêu cầu (<2) tăng nguy cơ tái phát TĐMP và huyết khối

tĩnh mạch sâu và INR cao quá có nguy cơ chảy máu cao hơn. Tại bệnh viện,

INR được theo dõi hàng ngày cho đến khi đạt được mục tiêu 2 ngày liên tiếp,

những ngày tiếp theo vài ngày làm xét nghiệm một lần cho đến khi ổn định và

một lần cho mỗi 4 tuần. INR có thể được làm nhiều lần khi điều chỉnh thuốc.





Thuốc chống đông không phải kháng vitamin K (Thuốc chống đông thế hệ

mới – NOAC):

Từ năm 2012, thuốc chống đông thế hệ mới đã được đưa vào khuyến cáo



điều trị TĐMP cấp. Rivaroxaban, dabigatran, apixapan được ứng dụng trong

điều trị thun tắc huyết khối khơng chỉ vì hiệu quả và an tồn, mà còn dễ sử

dụng, khơng tương tác với thức ăn như kháng vitamin K. Trong đó:

rivaroxaban và apixaban là thuốc ức chế trực tiếp yếu tố Xa, dabigatran ức

chế trực tiếp yếu tố thrombin. Hiệu quả và tính an tồn của các thuốc này đã

được chứng minh thông qua nhiều nghiên cứu lớn.

Cách dùng: Rivaroxaban 15 mg x 2 lần / ngày trong 21 ngày. Sau đó duy

trì 20 mg / ngày trong 6 tháng.

Theo dõi: Không cần theo dõi INR

* Biến chứng của thuốc chống đông

- Chảy máu

Một trong các chảy máu sau đây được xếp vào biến chứng chảy máu lớn:



24



Chảy máu nội sọ, chảy máu sau phúc mạc, chảy máu dẫn tới tử vong, chảy máu

phải nhập viện, chảy máu phải truyền máu. Yếu tố nguy cơ chảy máu bao gồm

tuổi > 65, tiền sử xuất huyết, giảm tiểu cầu, đang điều trị chống ngưng tập tiểu

cầu, dùng thuốc chống đông không kiểm soát được, mới phẫu thuật, thường

xuyên ngã, suy giảm chức năng, tiền sử tai biến mạch não, tiểu đường, thiếu

máu, ung thư, suy thận, suy gan, nghiện rượu. Tần suất chảy máu lớn trong

điều trị TĐMP cấp hoặc huyết khối tĩnh mạch sâu tỷ lệ thuận với số yếu tố

nguy cơ chảy máu. Ở những bệnh nhân khơng có yếu tố nguy cơ, nguy cơ chảy

máu chỉ là 1,6% trong 3 tháng đầu tiên của liệu trình chống đơng và 0,8% mỗi

năm cho các năm tiếp theo. Các bệnh nhân có một yếu tố nguy cơ, nguy cơ

chảy máu tăng lên 3,2% trong ba tháng đầu và 1,6% mỗi năm cho các năm tiếp

theo. Ở các bệnh nhân có từ hai yếu tố nguy cơ trở lên, nguy cơ chảy máu tăng

lên 12,8% trong ba tháng đầu tiên và ≥ 6,5% mỗi năm cho các năm tiếp. Tỷ lệ

tử vong liên quan đến các đợt chảy máu lớn cao lên tới 13%.

Heparin TLPTT có biến chứng chảy máu lớn thấp hơn heparin chuẩn

đường tĩnh mạch (1,2% so với 2%, RR 0,67, 95% CI 0,45-1,00), và tương

đương với tỷ lệ chảy máu lớn của fondaparinux tiêm dưới da (1,2% so với

1,1% với fondaparinux tiêm dưới da) và heparin chuẩn tiêm dưới da (2,3 % so

với 1,8 % với heparin chuẩn tiêm dưới da. Protamine sulfate trung hòa được

hoạt động antrithrombin của heparin TLPTT, heparin chuẩn nên nếu quá liều,

protamine sulfate có thể kiểm sốt được chảy máu. Fondaparinux khơng bị ức

chế bởi protamine sulfate, phải dùng yếu tố VIIa tổng hợp nếu như chảy máu

khơng kiểm sốt được. Vitamin K và huyết tương tươi có thể được sử dụng

cho bệnh nhân chảy máu do quá liều thuốc kháng vitamin K.

- Giảm tiểu cầu

Giảm tiểu cầu liên quan đến heparin là một biến chứng của heparin.

Ngoài yếu tố nguy cơ “tiền sử đã có giảm tiểu cầu do heparin”, khơng có yếu



25



tố nguy cơ nào được biết liên quan đến biến chứng này. Biến chứng này ít

xuất hiện khi điều trị bằng heparin TLPTT so với heparin chuẩn tĩnh mạch

hoặc tiêm dưới da. Fondaparinux tiêm dưới da ít gây giảm tiểu cầu hơn, các

báo cáo khác gợi ý rằng có thể sử dụng fondaparinux tiêm dưới da cho các

bệnh nhân giảm tiểu cầu liên quan đến heparin.

1.1.4.3. Điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết





Sinh lý tiêu sợi huyết:

Plasminogen là tiền thân của plasmin được sản xuất ở gan. t-PA và



urokinase kích thích chuyển plasminogen thành plasmin để đảm bảo hiện

tượng tan cục máu đơng. t-PA được giải phóng rất chậm vào máu từ tổ chức

nội mạc mạch máu sau vài ngày khi vết thương khơng còn chảy máu nữa,

cục máu đơng được tan ra. t-PA và urokinase bị ức chế bởi plasminogen

activator inhibitor-1 và plasminogen activator inhibitor-2 (PAI-1 và PAI-2).

Alpha 2-antiplasmin và alpha 2-macroglobulin làm bất hoạt plasmin. Hoạt

động của plasmin cũng bị giảm bởi thrombin-activatable fibrinolysis

inhibitor (TAFI), làm cho fibrin thay đổi trở nên kháng với plasminogen

trung gian qua tPA.



26



Hình 1.4. Sơ đồ q trình tan cục máu đơng với sự tham gia

Thuốc tiêu sợi huyết

Thuốc tiêu sợi huyết được chiết xuất từ Streptococcus, gần đây công

nghệ tổng hợp tPA từ vi khuẩn, để tổng hợp ra thuốc tiêu sợi huyết gọi là rtPA

(recombinant tissue plasminogen activator). Một vài thuốc tiêu sợi huyết được

dùng hiện nay gồm: streptokinase, urokinase, rtPA(alteplase); reteplase,

tenecteplase.





Hiệu quả và an toàn của thuốc tiêu sợi huyết trong điều trị TĐMP

Thuốc tiêu sợi huyết nhanh chóng làm giảm sức cản động mạch phổi ở



bệnh nhân TĐMP cấp có tăng áp lực động mạch phổi. Nghiên cứu PAIMS 2

(plasminogen activator Italian multi - center study 2), sau truyền 100 mg

alteplase trong vòng 2 giờ, áp lực động mạch phổi giảm 30,2 ± 7.8 mmHg

xuống 21,0 ± 6,7 mmHg sau 2 giờ, trong khi đó với nhóm dùng heparin đơn

thuần khơng ghi nhận thấy sự thay đổi có ý nghĩa về áp lực động mạch phổi

[28]. Chỉ số tim tăng từ 2,1 ± 0,5 L/(min/m 2) lên 2,4 ± 0.5 L/(min/m 2) ở nhóm

bệnh nhân dùng thuốc alteplase, còn nhóm dùng heparin đơn thuần khơng ghi

nhận thấy thay đổi. Nghiên cứu UPET (urokinase pulmonary embolism trial),

thay đổi khơng có ý nghĩa về các thông số huyết động sau 24 giờ truyền

heparin, trong khi đó ghi nhận thấy áp lực động mạch phổi trung bình giảm

23% ở nhóm dùng urokinase. Khi ghi điện tim nhiều lần theo dõi sự thay đổi

của dấu hiệu thay đổi tim phải, các tác giả nhận thấy chuyển dạng điện tim

theo hướng cải thiện thất phải sớm hơn ở bệnh nhân được dùng alteplase so

với nhóm bệnh nhân dùng heparin đơn thuần.





Giảm tắc nghẽn mạch phổi

Thuốc tiêu sợi huyết làm giảm tắc nghẽn mạch phổi nhanh hơn so với



heparin. Theo nghiên cứu PAIMS 2, mức độ nặng của TĐMP đánh giá theo

chỉ số Miller giảm có ý nghĩa từ 28,3 ± 2,9 xuống 24,8 ± 5,2; đánh giá tại thời



27



điểm kết thúc truyền thuốc; trong khi đó khơng có sự khác biệt trước và sau

truyền heparin đơn thuần [28]. Goldhaber và cộng sự, theo dõi tắc động mạch

phổi bằng CT động mạch phổi có thuốc cản quang ghi nhận thấy có sự giảm

tắc động mạch phổi một cách nhanh chóng sau 24 giờ điều trị bằng alteplase

[52]. Tuy nhiên, sự khác biệt này giữa nhóm dùng tiêu sợi huyết và nhóm

dùng heparin đơn thuần khơng còn nữa sau ngày theo dõi [28]. Như vậy thuốc

tiêu sợi huyết làm mở được động mạch phổi bị tắc và làm giảm được gánh

nặng cho tim phải nhanh chóng hơn heparin đơn thuần, nhưng cả hai hình

thức điều trị trên đều cho cải thiện tương tự sau 1 tuần điều trị.





Hiệu quả cải thiện tiên lượng và tử vong

Một phân tích gộp bao gồm các nghiên cứu đối chứng so sánh hiệu quả



của thuốc tiêu sợi huyết với heparin trong điều trị TĐMP cấp, phân tích dưới

nhóm bao gồm các bệnh nhân TĐMP cấp HĐKƠĐ. Trong phân tích này, tỷ lệ

tử vong và tỷ lệ tử vong do tái phát của nhóm bệnh nhân được sử dụng thuốc

tiêu sợi huyết giảm hơn hẳn nhóm được dùng heparin (6,2 % và 12,7%; 9,4%

và 19%). Tuy nhiên, chỉ có một số ít bệnh nhân trong nghiên cứu tiến cứu

được dùng thuốc tiêu sợi huyết là TĐMP có sốc.

Nghiên cứu MAPPET do Stein và Matta tiến hành cũng đã cho rằng việc

chậm trễ dùng thuốc tiêu sợi huyết cho bệnh nhân TĐMP có thể làm xấu đi

tiên lượng sống.

* Lựa chọn phác đồ tiêu sợi huyết tối ưu

Nhiều phác đồ thuốc tiêu sợi huyết đã được thử nghiệm trong các nghiên

cứu đối chứng. Nghiên cứu USPET, urokinase bolus 4400 IU/kg sau đó

truyền duy trì trong 12 giờ hoặc 24 giờ 4400 IU/(kg/h) so với streptokinase

bolus 250 000 IU duy trì 100 000 IU/giờ truyền 24 giờ. Giảm sức cản mạch

phổi toàn bộ nhờ tiêu sợi huyết được minh họa theo một số nghiên cứu mới

đây như sau:



28



Hình 1.5. Giảm sức cản mạch phổi theo thời gian ở các phác đồ tiêu sợi huyết

* Biến chứng của thuốc tiêu sợi huyết

+ Biến chứng chảy máu:

Một phân tích gộp các nghiên cứu đối chứng so sánh hiệu quả điều trị

TĐMP cấp bằng thuốc tiêu sợi huyết với heparin đơn thuần. Tỷ lệ chảy máu

nặng chung là 9,1% ở nhóm bệnh nhân tiêu sợi huyết so với 6,1% ở nhóm bệnh

nhân nhận heparin đơn thuần. Nguy cơ tương đối (RR) chảy máu lớn ở nhóm

tiêu sợi huyết là 1,42 (95% CI, 0,81 - 2,46).

Bảng 1.4. Biến chứng

máu lớn, so sánh

sợichứng

huyết

n chảy

Thuố

Pháccác

đồphác đồ thuốc

Tỷ lệtiêu

biến

c



khác nhau



(%)



Tác giả

Meyer [Error:



29



UK



4400 đv/kg 12 giờ



8 (28)



Reference



34



rtPA



100 mg truyền 2 giờ



7 (21)



Sors [Error:



36



rtPA



0,6 mg/kg truyền 15ph



4 (11)



Reference



17



rtPA



100 mg truyền 2 giờ



4 (24)



source not

found]



source not



29



found]

Meneveau



25



SK



100 000 đv/h x 12 giờ



3 (12)



[Error:



25



rtPA



100 mg truyền 2 giờ



4 (16)



Meneveau



43



SK



1,5 triệu đv truyền 2 giờ



3 (7)



[Error:



23



rtPA



100 mg truyền 2 giờ



5 (22)



Reference

source not

found]



Reference

source not

found]

UK: urokinase; SK: streptokinase

+ Phù phổi cấp do tái tưới máu sau điều trị thuốc tiêu sợi huyết:

Phù phổi cấp là biến chứng có thể gặp sau tiêu sợi huyết.

1.1.4.4. Một số biện pháp khác trong điều trị tắc động mạch phổi cấp





Phin lọc tĩnh mạch chủ dưới:

Thiết bị giúp ngăn huyết khối di chuyển từ tĩnh mạch chậu hoặc tĩnh



mạch chi dưới lên động mạch phổi. Chỉ định đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới

khi bệnh nhân có chống chỉ định tuyệt đối với thuốc chống đông, khi TĐMP

tái phát mặc dù đã dùng thuốc chống đơng phù hợp, khi có biến chứng thuốc

chống đông. Kể cả các trường hợp sau mổ sọ não, mổ lớn hay có thai chờ đẻ

huyết khối tĩnh mạch sâu có nguy cơ lan rộng. Khi có thể dùng lại chống đơng

thì nên rút bỏ phin lọc vì chưa có nghiên cứu nào cho biết thời gian tối ưu để

lưu phin lọc tĩnh mạch chủ dưới là bao lâu. Biến chứng khi đặt phin lọc

thường hiếm, tuy nhiên có thể gặp như: đặt sai vị trí, phin trơi, hoại tử và rách

thành tĩnh mạch chủ dưới và tắc phin do huyết khối.





Phẫu thuật và lấy huyết khối qua can thiệp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Truyền dịch 1 - 2 lít muối sinh lý, hoặc 500 ml dịch keo có thể làm tăng cung lượng tim ở bệnh nhân TĐMP huyết động không ổn định. Nhưng cần thận trọng truyền dịch ở bệnh nhân có tụt huyết áp, đặc biệt khi có suy tâm thất phải [29].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×