Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập

những thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu. Bảng hỏi được thiết kế

gồm những câu hỏi liên quan đến hoạt động tín ngưỡng thờ thành Hoàng

làng, giá trị của lễ rước thành Hoàng và niềm tin tôn giáo của người trả lời.

Đối tượng phỏng vấn là cán bộ quản lý di tích, người dân sinh sống trên địa

bàn 6 thôn ở xã Đồng Tiến.

Dung lượng mẫu: 180 mẫu

Bảng cơ cấu mẫu:

Giới tính



Độ tuổi

Tình



trạng



hơn



Nam

Nữ

Dưới 30

Từ 30 đến 50

Trên 50

Đã kết hơn

Độc thân/ly hơn/góa



Tần số

103

77

64

76

40

126

54



Tỉ lệ (%)

57.2

42.8

35.5

42.2

22.3

70

30



30

30

30

30

30

30



16.6

16.6

16.6

16.6

16.6

6.6



nhân



Địa bàn khảo sát



Thơn Đơng Hòe

Thơn Cao Mộc

Thơn Bất Nạo

Thơn Quan Đình Bắc

Thơn Quan Đình Nam

Thơn Bất Nạo



5.4. Phương pháp liên ngành

Khi nghiên cứu văn hóa, một sự vật phải được nhìn nhận dưới các góc nhìn

khác nhau, các phương pháp khác nhau. Do đó, khi nghiên cứu về văn hóa cần phải

nhìn nhận dưới quan điểm liên nghành. Hơn nữa, giữa các ngành ấy phải có sự liên

kết với nhau để có thể hiểu cặn kẽ và văn hóa qua từng cách tiếp cận.

Phương pháp liên ngành là tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức,

dựa trên dữ liệu của nhiều chuyên ngành. Chúng tôi sử dụng phương pháp này

trong q trình nghiên cứu đề tài để có cái nhìn sâu sắc và tồn diện về hiện



9



tượng kiệu quay trong lễ rước thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh

Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Địa lý học: chúng tơi tìm hiểu đặc điểm vị trí tự nhiên xã Đồng Tiến

để đưa ra những mối liên hệ giữa địa bàn nghiên cứu và tín ngưỡng thành

Hồng làng.

- Sử học: chúng tơi có thể xác định được niên đại của các di tích thờ tự

thành Hồng làng ở xã Đồng Tiến. Trong giai đoạn phát triển của tín ngưỡng thờ

cúng thành Hồng làng trên địa bàn nghiên cứu thì có những giai đoạn sinh hoạt

tín ngưỡng phát triển mãnh mẽ.

- Tâm lý học: chúng tôi nghiên cứu về sự quan tâm, tâm lý của cộng

đồng đối với hiện tượng kiệu quay trong lễ rước thành Hồng làng. Đồng thời,

chúng tơi đưa ra những nhận định về mối quan hệ của đoàn phù giá khiêng kiệu

khi thực hiện nghi lễ rước.

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để giái quyết một cách toàn diện,

khách quan và hiệu quả nhất những vấn đề liên quan đến đề tài.

5.5. Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được chúng tơi sử dụng nhằm tìm hiểu về kiến trúc

cơ sở thờ tự thành Hoàng làng cũng như các di vật liên quan. Chúng tôi đã

xuống trực tiếp lễ hội địa phương để quan sát các nghi lễ diễn ra trong lễ rước và

đặc biệt là hiện tượng kiệu quay. Đồng thời, nhờ phương pháp quan sát mà

chúng tôi nắm bắt được hành vi và thái độ của người dân đối với lễ rước thành

Hoàng làng.

Thời gian quan sát được chia làm 3 giai đoạn chính: 1) Giai đoạn điều tra

thử: quan sát diễn ra trong thời gian điều tra thực tế trước khi chọn đề tài, 2)

Giai đoạn điều tra sâu: quan sát diễn ra trong quá trình thực hiện đề tài về cơ sở

thờ tự và các di vật liên quan, 3) Quan sát trong quá trình phỏng vấn: quan sát

hành vi, thái độ của người trả lời diễn ra trong quá trình phỏng vấn.

10



CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG

LÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU XÃ ĐỒNG TIẾN

I.1. Một số vấn đề cơ sở

1.1.1.Khái niệm lễ, nghi lễ

Lễ là một từ Hán – Việt có nghĩa là những khuôn mẫu, phép tắc, luật lệ

cửa người xưa quy định, buộc phải tơn trọng và tn theo. Lễ được hình thành

và củng cố theo thời gian, quy định chặt chẽ mọi mặt của con người từ đi đứng,

ăn uống,… Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm rằng “ tiên học lễ,

hậu học văn”. Đối với họ, lễ là điều bất biến, không thể không thực hiện, là

mệnh của trời. Trong các mối quan hệ phức tạp của con người, lễ là hộ pháp giữ

gìn trật tự xã hội. Lễ ngăn ngừa những hành vi lệch lạc và quy định chặt chẽ về

thái độ và hành vi. Lễ cũng là tấm gương phản chiếu để mỗi cá nhân tự điều

chỉnh hành vi của bản thân sao cho phù hợp với xã hội. Con người ở từng lứa

tuổi vị trí, vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội sẽ có những biểu hiện lễ

khác nhau. Lễ thể hiện sự tơn kính của con người đối với đồng loại. Lễ hình

thành và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử. có thể nói, lễ là hiện thân

của những thuần phong mỹ tục, tập quán sinh hoạt của một cộng đồng dân cư

nào đó. Nó chi phối và tạo ra sợi dây gắn kết các cá nhân trong cộng đồng.

Tác giả Lê Văn Kỳ cho rằng : “ Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành

vi, động tác nhằm thể hiện sự tơn kính của dân làng đối với thần linh, lực lượng

siêu nhiên nói chung, với thần thành hồng nói riêng. Đồng thời lễ cũng phản

nguyện vọng, ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những

khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo” [1,tr.67].

Lễ hay nghi lễ thờ cúng là những nghi thức được con người tiến hành theo

một quy tắc, chuẩn mực tâm linh nhất định, mang tính biểu trưng nhằm thể hiện

tấm lòng biết ơn, tơn kính đối với một nhân vật và mong muốn nhận được sự

che chở, giúp đỡ từ nhân vật được thờ cúng ấy. Có thể nói, lễ như một cây cầu

nối giữa thế giới hiện tại và thế giới của siêu nhiên, thánh thần. Dương Văn Sáu

trong cuốn “ Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” [ 18 ] cho rằng “ nghi

12



lễ là những ứng xử của tầng lớp nhân dân dành cho thần, hướng về thần trong

mối quan hệ người – thần vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của mọi

người, mọi thời đại. Nghi lễ còn là hình thức, biện pháp tiến hành trong các

hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng và tương thích với đối tượng thờ

cúng , với vị thế xã hội, môi trường sống của những người tổ chức tiến hành

hoạt động nghi lễ. Trong những hình thái như vậy, cần phải vượt ra ngồi

những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái , cúng tế mà còn phải coi lễ, nghi

lễ là rường mối kỉ cương, phép tắc, đạo lý, góp phần tôn vinh, củng cố và bảo

vệ sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội”[18, tr.27].

Như vậy, có thể hiểu rằng, lễ hay nghi lễ là cách thức tiến hành theo

những quy tắc, luật tục nhất định, mang tính tượng trưng nhằm thể hiện tấm

lòng cảm tạ, tơn trọng đối với nhân vật nào đó với mong muốn nhận được sự

phù hộ, che chở của nhân vật được thờ cúng đó.

1.1.2.Thành Hồng và cơ sở hình thành của thành Hồng làng

Theo Nguyễn Duy Hinh trong “ Tín ngưỡng thành Hoàng Việt Nam”

(1996) cho rằng: Thành hoàng ( chữ Hán:



城城)



là một vị thần xuất hiện ở Trung



Quốc thời kì cổ đại với nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành và được thờ

cúng để bảo vệ, cai quản cho tòa thành. Thành Hồng thường được nhà vua ban

biển miếu hoặc phong chức tước. Bất cứ nơi đâu xây dựng thành, đào hào là ở

đó xuất hiện Thành hồng [3,tr.23]

Thành Hồng chính thức xuất hiện ở nước ta vào năm 822, thời nhà

Đường và vị thành Hoàng đầu tiên là thần sông Tô Lịch. Lý Nguyên Gia thời

Đường thấy ngồi cửa bắc của thành có một dòng sơng có địa thể khả quan, bèn

chọn một nơi hợp lý nhất để rời phủ lý đến đó, y cũng tâu lên vua để chọn thần

sống Tơ Lịch làm thành Hồng. Năm 866, Cao Biền đã phong thần sống Tô Lịch

làm đô phủ Thành Hoàng thần quân. Rồi vua Lý Thái Tổ khi rời đô lại phong

thần sông Tô Lịch thành Quốc đơ Thăng Long Thành Hồng Đại Vương vào

năm 1010. Đến thời nhà Trần, thần sông tô Lịch được phong thêm các mỹ tự

như bảo quốc, hiển linh và đinh bang. Nguyễn Duy Hinh trong “Tín ngưỡng



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×