Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thông khí hỗ trợ xâm nhập

Thông khí hỗ trợ xâm nhập

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



[23]. Hai báo cáo gần đây tại Ấn độ về bệnh lý suy hô hấp ở bệnh nhi sơ sinh

của tác giả Swarnkar K. (2015) [60] và Bajad M. (2016) đều có kết quả tử vong

của bệnh lý suy hơ hấp khá cao, tương ứng là 22,86% và 22,33% [61].

Qua các nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ bệnh nhi sơ sinh tử vong do suy hơ

hấp còn cao. Mặc dù phương tiện máy móc hỗ trợ điều trị suy hơ hấp đã tốt

hơn, nhưng tỉ lệ trẻ tử vong chưa có chiều hướng giảm.

1.4.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị trẻ suy hô hấp

a. Liên quan từ bệnh lý của mẹ



Tình trạng bệnh lý của sản phụ làm tăng nguy cơ sơ sinh sau đẻ, ảnh

hưởng nhiều đến tình trạng suy hơ hấp của trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non ví

dụ như cao huyết áp, bệnh đái tháo đường từ trước hoặc trong khi mang thai,

mẹ bệnh tim hay bệnh Lupus ban đỏ hệ thống.... Lepercq J. và cộng sự trong

nghiên cứu về yếu tố liên quan tới tình trạng đẻ non của bà mẹ bị đái tháo

đường type I thấy có sự gia tăng 3-6 lần tình trạng suy hơ hấp và hạ đường

huyết nhập viện vào khoa điều trị tích cực của sơ sinh [62]. Nghiên cứu của

Warunpitikul R. và cộng sự báo cáo 2014 tại Thái lan trên các sản phụ bị đái

tháo đường và không đái tháo đường cho thấy có tăng nguy cơ tiền sản giật ở

bà mẹ đái tháo đường và trẻ sơ sinh của các bà mẹ này tăng nguy cơ bị hạ

đường huyết, suy hô hấp và nhập viện vào đơn vị điều trị tích cực sơ sinh hơn

nhóm bà mẹ khơng bị đái tháo đường [63].

Một số tình trạng bệnh lý trên của bà mẹ cũng là một trong những nguy

cơ tăng khả năng bị hội chứng hít phân su ở trẻ sơ sinh. Gelfand S.L. và cộng

sự (2004) đưa ra các yếu tố nguy cơ của hít phân su ở trẻ sơ sinh bao gồm: mẹ

bị cao huyết áp, đái tháo đường thai kỳ, mẹ bị bệnh tim mạn tính làm tăng

nguy cơ hít phân su ở trẻ sơ sinh [64].

b.



Ảnh hưởng trước, trong cuộc đẻ và việc hồi sinh sau đẻ



27



Trên thế giới, sự phối hợp giữa Khoa Sản và Khoa Nhi ngày càng chặt

chẽ và khoa học, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sản phụ và sơ sinh.

Ước tính hàng năm có khoảng 100 triệu sơ sinh ra đời trên tồn thế giới, 10%

trong số cần hỗ trợ hơ hấp và 1% cần hồi sức tích cực [16]. Mơ hình kết hợp

Sản - Nhi thực sự quan trọng và hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh

tại phòng đẻ.

Vai trò của việc sử dụng corticoid trước sinh ở những sản phụ có nguy cơ

sinh non có ý nghĩa giảm tỷ lệ suy hô hấp sau khi sinh, giảm tỷ lệ thở máy,

giảm tỷ lệ tử vong. Có nhiều tác giả đánh giá được vai trò, hiệu quả và đưa ra

thời điểm dùng hiệu quả của corticoid dự phòng trước sinh [65-67].

Mổ đẻ, đặc biệt là mổ đẻ theo yêu cầu hoặc mổ đẻ mà chưa có dấu hiệu

chuyển dạ là một trong những yếu tố nguy cơ dẫn đến suy hô hấp sau khi

sinh ở trẻ sơ sinh. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan

giữa mổ đẻ và suy hô hấp sơ sinh. Ray C.L. và cộng sự (2006) và một số

nghiên cứu khác nghiên cứu những sản phụ mổ đẻ chưa có dấu hiệu chuyển

dạ có tuổi thai 34-37 tuần cho thấy sự tăng của trẻ sơ sinh suy hô hấp nặng

sau đẻ [68].

c.



Ảnh hưởng trong quá trình điều trị thở máy

Nhiễm khuẩn: Là một trong những yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến kết



quả điều trị sơ sinh, càng quan trọng hơn ở trẻ đẻ non suy hô hấp phải thở

máy. Nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề gặp phải ở bất kỳ trung tâm y tế

nào trên thế giới, kể cả các nước phát triển hay đang hoặc kém phát triển.

Đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân chính của tử vong tại bệnh

viện, đặc biệt ở các trung tâm điều trị tích cực nhi khoa và sơ sinh.

Thời gian thở máy



28



Đây cũng là một yếu tố tiên lượng trong quá trình điều trị. Thời gian thở

máy tác động đến trẻ rất lớn, càng thở máy dài ngày nguy cơ nhiễm khuẩn

càng lớn, việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều

trường hợp thốt được máy nhưng có thể di chứng về lâu dài như loạn sản

phổi, bệnh phổi mạn tính ....

Các yếu tố khác

Trong điều trị thở máy, rất nhiều yếu tố tác động đến kết quả điều trị và

tiên lượng về sau của trẻ sơ sinh. Clark R.H. (2005) nghiên cứu trên 1011 trẻ

sơ sinh từ 34 tuần tuổi điều trị tại đơn nguyên sơ sinh kết quả có 43% là hội

chứng suy hô hấp cấp, kết quả điều trị chung cũng như những trẻ có can thiệp

thở máy phụ thuộc vào các điều trị đặc hiệu (sử dụng surfactant ...) hoặc các

điều trị hỗ trợ (sử dụng thuốc vận mạch, bù dịch, dinh dưỡng ...), các biến đổi

sinh học của trẻ trong q trình điều trị [69].

Những trẻ có bệnh lý tim bẩm sinh nếu được can thiệp thuốc đúng lúc

(như còn ống động mạch) hoặc có những bệnh tim bẩm sinh cần can thiệp

chuyên sâu thì việc phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị can thiệp tim mạch và hồi

sức sơ sinh có vai trò rất quan trọng trong hồi sức trước và sau can thiệp nhằm

cứu sống trẻ ... Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thời gian thở máy,

kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống sau này của trẻ như các biến chứng về

bệnh phổi mạn, biến chứng thần kinh ...[69].

Tóm lại, các nghiên cứu và đánh giá cho rằng có nhiều yếu tố nguy

cơ như tiền sử thai nghén, tiền sử bệnh lý của mẹ, cách thức sinh, phối hợp

hồi sức thai nhi nguy cơ cao, các điều trị suy hô hấp nặng thở máy xâm

nhập đều làm tăng nguy cơ suy hô hấp sau sinh và ảnh hưởng kết quả điều

trị suy hơ hấp.



29



1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ, VẤN

ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

1.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

-



Theo Tăng Chí Thượng, trong 6 tháng cuối năm 2007 có 91,2% trẻ sơ sinh bị

suy hơ hấp vào khoa Sơ Sinh, trong đó 1/3 trường hợp là trẻ sơ sinh đẻ non

nhóm trẻ đẻ non có tỷ lệ bệnh màng trong chiếm 50,5% và nhiễm khuẩn sơ

sinh (bao gồm viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết) chiếm 20,8% [10]



-



Nguyễn Thị Xuân Hương và cộng sự ghi nhận trong 3 năm (2008-2010) tại

Khoa nhi bệnh viện đa khoa Trung ương Thái nguyên tỷ lệ trẻ sinh non nhập

viện là 53,59%; tỷ lệ ngạt, đẻ non, bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh nhập viện

chiếm 33,1%; và nguyên nhân tử vong hàng đầu của trẻ sơ sinh là bệnh phổi

non, bệnh màng trong tiếp đến là ngạt và viêm phổi [11].



-



Năm 2016, Phạm Hoàng Hưng theo dõi trong 5 năm tại Trung tâm Nhi khoabệnh viện Trung ương Huế 2009-2013 có kết quả bệnh lý hô hấp trẻ sơ sinh

chiếm 26% bệnh lý trẻ sơ sinh nhập viện và tỷ lệ tử vong do suy hô hấp là

21,54%, do ngạt là 11,42% [28]. Nghiên cứu của Hoàng Trọng Quý tại bệnh

viện đa khoa Phú Vang năm 2016 cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến

nguy cơ mắc bệnh của trẻ sau sinh, ngạt cũng bắt nguồn từ bệnh lý của mẹ lúc

mang thai và chuyển dạ như chuyển dạ kéo dài, mổ đẻ, nước ối bẩn, mẹ bị

bệnh lý nhiễm trùng, tim mạch, hô hấp ... và cũng nhấn mạnh vai trò chăm

sóc sơ sinh theo mơ hình kết hợp Sản-Nhi có kết quả tốt [70].



-



Vũ Thị Thu Nga nghiên cứu nguyên nhân thở máy sơ sinh tại bệnh viện Nhi

Trung ương báo cáo năm 2017 cho thấy nguyên nhân thở máy hay gặp là:

viêm phổi, bệnh màng trong, nhiễm khuẩn huyết, ngạt nặng. Tác giả cũng

nhận định yếu tố liên quan đến kết quả thở máy là: trẻ có cân nặng < 1.000g,

tuổi thai < 28 tuần, ngạt nặng khi sinh, hạ nhiệt độ lúc nhập viện, PaC0 2 khi

thở máy > 70 mmHg [71].



30



1.5.2. Các nghiên cứu quốc tế

-



Gallacher D.J. và cộng sự (2016) cũng cho thấy 33,3% trẻ sơ sinh > 28 tuần

tuổi thai nhập viện lý do đầu tiên là vấn đề của tình trạng hô hấp. Các tác giả

cũng nhận định các nguyên nhân suy hô hấp ở trẻ sơ sinh là: ở trẻ đẻ non:

bệnh màng trong, viêm phổi, xuất huyết phổi ...; trẻ đủ tháng: cơn khó thở

nhanh thống qua, bệnh màng trong, hít phân su, tăng áp động mạch phổi thứ

phát, xuất huyết phổi...; các ngun nhân ngồi hơ hấp: suy tim do bệnh tim

bẩm sinh, bệnh não thiếu oxy, rối loạn chuyển hóa ...[8].



-



Thomas W. và cộng sự (2011) [72] nghiên cứu về tình trạng viêm ối, màng ối

ở bà mẹ cũng cho thấy liên quan đến gia tăng tình trạng đẻ non và suy hô hấp

cấp ở trẻ sơ sinh ngay sau đẻ.



-



Gelfand S.L. và cộng sự (2004) [64] đưa ra các yếu tố nguy cơ của hít phân su

ở trẻ sơ sinh bao gồm : mẹ bị cao huyết áp, đái tháo đường thai kỳ, mẹ bị

bệnh tim mạn tính làm tăng nguy cơ hít phân su ở trẻ sơ sinh.



-



Liu J. và cộng sự (2014) theo dõi từ 2008-2010 ở 205 trẻ đủ tháng suy hô hấp

và 410 trẻ đủ tháng không bị suy hô hấp vào điều trị trong đơn vị sơ sinh nhận

thấy mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ nguy cơ suy hô hấp ở trẻ sau sinh gấp

8,737 lần, ngạt nặng sau đẻ nguy cơ suy hô hấp gấp 6,988 lần [57].



-



Thời gian thở máy ảnh hưởng đến kết quả điều trị: Courtney S.E. và cộng sự

năm 2002 [73] nghiên cứu và thấy rằng tỷ lệ rút ống nội khí quản thành cơng

ở nhóm thở HFO sớm hơn so với nhóm thở chế độ SIMV, đồng thời tỷ lệ

phải thở oxy ở nhóm thở chế độ SIMV cao hơn hẳn so với nhóm thở HFO.

1.5.3. Vấn đề cần nghiên cứu

Có nhiều nghiên cứu về suy hô hấp của trẻ sơ sinh, tuy nhiên đánh giá

nguyên nhân suy hô hấp sau sinh và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng bệnh lý

suy hô hấp chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta.



31



Việc xác định tỉ lệ suy hô hấp theo nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng

kết quả điều trị cũng có ý nghĩa trong tiên lượng, chuẩn bị sẵn sàng cho hồi

sức sơ sinh, cũng như kế hoạch điều trị cho trẻ trước khi trẻ chào đời, để đảm

bảo trẻ được hỗ trợ, điều trị tốt nhất, giúp giảm tỉ lệ suy hô hấp nặng và

chuyển nặng. Từ đó làm tăng hiệu quả điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh.



32



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU



2.1.



Đối tượng nghiên cứu: là những bệnh nhi sơ sinh sau khi sinh tại bệnh

viện Phụ sản Trung ương vào điều trị tại trung tâm sơ sinh của bệnh viện.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

-



Trẻ sơ sinh đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương



-



Được chẩn đốn có suy hơ hấp dựa vào tiêu chuẩn bảng điểm Silverman với số

điểm > 3 điểm.



-



Trẻ được điều trị và theo dõi bởi chính các bác sĩ chuyên khoa sơ sinh tại

bệnh viện Phụ sản Trung ương.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhi khơng hồn thành hết đợt điều trị, xin chuyển bệnh viện khác

vì một số lý do.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.2.



2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Mục tiêu 1: phương pháp nghiên cứu mô tả, xác định tỷ lệ và nguyên

nhân suy hô hấp

Mục tiêu 2: phương pháp mô tả tiến cứu theo dõi dọc kết quả điều trị suy

hô hấp.

2.2.2. Thời gian

Từ tháng 07/2019 đến hết tháng 06/2020

2.2.3. Địa điểm

Trung Tâm Sơ Sinh, bệnh viện Phụ sản Trung ương



33



2.2.4. Cỡ mẫu

- Mẫu nghiên cứu tính theo công thức:



n = Z 2 (1−α / 2 )



p (1 − p )

d2



Trong đó:

n: cỡ mẫu nhỏ nhất phải đạt được trong nghiên cứu.

p: Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị suy hô hấp. Theo tổng kết của Ersch J. và cộng sự

tại Thụy sĩ năm 1974 tỷ lệ suy hô hấp là 29,7% [5], ghi nhận của

Mathai S.C.S. và cộng sự báo cáo năm 2007 tại Ấn độ tỷ lệ trẻ sơ sinh

nhập viện cấp cứu suy hô hấp là 30-40% [26]. Tại Việt nam thống kê

của Nguyễn Thị Xuân Hương và cộng sự tại Thái nguyên từ 20082010 tỷ lệ ngạt, bệnh màng trong, đẻ non yếu là 33,1% [11], Nguyễn

Thành Nam thống kê tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013 - 2015, tỉ lệ

bệnh nhi sơ sinh suy hô hấp là 33,3 % [12]. Nghiên cứu chúng tôi lấy

p = 30% .

d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của

quần thể, d = 5%

Z : Hệ số tin cậy, ở mức xác suất 95%, Z = 1,962

Tính tốn ta được cỡ mẫu lý thuyết = 323 bệnh nhi

- Chọn bệnh nhi có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu cho đến khi ít nhất đủ số

lượng bệnh nhi theo ước định cỡ mẫu trong thời gian nghiên cứu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thông khí hỗ trợ xâm nhập

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×