Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các xét nghiệm khác: cấy máu, công thức máu, điện giải đồ, đường huyết, xét nghiệm đông máu, chụp cắt lớp vi tính sọ não …

Các xét nghiệm khác: cấy máu, công thức máu, điện giải đồ, đường huyết, xét nghiệm đông máu, chụp cắt lớp vi tính sọ não …

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



-



Xuất huyết não – màng não: ít gặp, yếu tố nguy cơ gây bệnh thường do rối

loạn đông máu của người mẹ, sang chấn trong cuộc đẻ, rối loạn chức năng

đông máu của trẻ (giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu…)



-



Viêm não – màng não: Thường đi kèm với bệnh lý nhiễm khuẩn huyết, nhiễm

trùng bẩm sinh từ trong buồng tử cung.



-



Mẹ bị gây mê, dùng thuốc an thần: gây ức chế trung tâm hô hấp của trẻ sau

sinh, trẻ khơng khởi phát và duy trì hoạt động hơ hấp.



-



Phù não: thứ phát do: suy thai, ngạt, xuất huyết não, viêm màng não.

b. Nguyên



nhân tại cơ quan hô hấp:



Do tắc nghẽn đường hô hấp trên

-



Tắc lỗ mũi sau: Tỷ lệ khơng nhiều, theo Campisi và cộng sự (2015) có

1/5000-8000 trẻ sinh ra và dị tật này thường đi kèm với các dị tật khác:

khoảng 30% có hội chứng CHARGE kèm theo teo lỗ mũi sau [29].



-



Thơng thực quản – khí quản: Do ở tuần thai thứ 4, túi thừa khí thực quản từ

ruột trước phân chia khơng hồn thiện. Thường kết hợp với các dị tật bẩm

sinh khác như dị tật tim, cột sống, hậu môn trực tràng…



-



Hội chứng Pierre-Robin : lưỡi khơng có phanh nên dễ bị tụt ra sau ở tư thế

nằm ngửa gây tắc đường hô hấp trên.



-



Phì đại lưỡi bẩm sinh: Thường liên quan đến bệnh lý di truyền. Lưỡi trẻ phì

đại q mức có thể gây chẹn đường thở -> suy hơ hấp



-



Hẹp khí quản: Có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải do sử dụng các dụng cụ y tế

can thiệp vùng khí quản. Hẹp bẩm sinh là nguyên nhân thứ ba gây thở rít ở trẻ

sơ sinh, chiếm 5-15% dị tật đường thở [30].



-



Mềm sụn thanh quản: là nguyên nhân bẩm sinh thường gặp nhất của thanh

quản, chiếm 45%-75% trẻ sơ sinh thở rít. Gặp ở trẻ trai nhiều hơn với tỷ lệ

nam : nữ là 1,6 : 1 [31].

Do bệnh lý đường hô hấp dưới





Bẩm sinh:



17



+



Bất sản phổi, thiểu sản phổi: Bất sản- khiếm khuyết của một hay cả hai phổi

trong giai đoạn đầu phát triển của phổi. Thiểu sản tiên phát hiếm khi đơn độc

thường phối hợp với bất thường khác [32].



+



Kén hơi tại phổi: Gặp không nhiều, chỉ khoảng 1/ 90.000 trường hợp. Gặp trẻ

trai nhiều gấp đôi trẻ gái khi sinh ra. Bệnh gặp ở thùy trên nhiều chiếm gần

80%, tỷ lệ mắc bệnh bên trái nhiều hơn bên phải. Có thể phối hợp với bệnh

tim bẩm sinh, còn ống động mạch, tứ chứng Fallot, bất thường mạch máu xảy

ra ở 12-14% trường hợp [33].





+



Mắc phải



Hội chứng hít phân su: theo tác giả quốc tế có 8-25% trẻ đẻ ra có phân su

trong nước ối, chủ yếu ở trẻ đủ tháng, trong số đó có tới 5% 0 bị hội chứng hít

phân su và một nửa số bệnh nhân này cần thơng khí nhân tạo hỗ trợ, tỷ lệ tử

vong lên tới 6,6% [8, 34-36].



+



Hội chứng chậm hấp thu dịch phổi (Cơn khó thở nhanh thống qua): Hay gặp

ở trẻ đủ tháng hoặc gần đủ tháng, đặc biệt hay gặp ở trẻ gần đủ tháng được

sinh mổ chủ động chưa có chuyển dạ [8]. Thơng thường bệnh tự hết trong

vòng 48 giờ, tuy nhiên cũng có khoảng 10% trẻ cần phải thở oxy trong vài

ngày sau sinh [3].



+



Bệnh màng trong: thường gặp ở trẻ đẻ non đặc biệt trẻ < 28 tuần tỷ lệ mắc

bệnh từ 70% đến trên 80% và giảm dần theo theo tuổi thai đến 36 tuần tỷ lệ

mắc bệnh chỉ là 5% [37].



+



Xuất huyết phổi: Hay gặp ở trẻ đẻ non, cân nặng < 1.500g và thường kèm

theo còn ống động mạch (PDA), tỷ lệ trẻ <1.500g được điều trị surfactant

tổng kết có 11,9% xuất huyết phổi [38].



+



Nhiễm khuẩn phổi: Gần đây, viêm phổi vẫn còn gặp ở trẻ sau sinh, những trẻ

viêm phổi ngay sau sinh (< 48 giờ) thường liên quan đến bệnh lý của mẹ mà

phần lớn ở đây là nhiễm liên cầu nhóm B, những viêm phổi xuất hiện > 48

giờ thường liên quan đến quá trình điều trị trong đơn vị điều trị tích cực sơ



18



sinh [8]. Khoảng 800.000 trẻ mới sinh tử vong trên toàn thế giới là do nhiễm

trùng phổi [39].

+



Tràn khí màng phổi, trung thất: Yếu tố nguyên phát gây tràn khí phổi là thở

máy, bất thường phổi. Yếu tố nguy cơ thường gặp ở trẻ đẻ non: bệnh màng

trong, nhiễm trùng và viêm phổi. Điều trị bằng surfactant giảm biến chứng

tràn khí màng phổi. Yếu tố nguy cơ ở trẻ đủ tháng là hội chứng hít phân su,

máu hoặc nước ối; viêm phổi và dị tật bẩm sinh [40].

c.



-



Nguyên nhân bệnh tim mạch:



Chuyển gốc các động mạch lớn: Tỷ lệ gặp không nhiều, suy hô hấp xuất hiện

sớm. Chẩn đoán sớm bằng siêu âm tim và cần xử trí sớm.



-



Tăng áp động mạch phổi: có thể tiên phát hoặc thứ phát sau hội chứng hít,

thốt vị hồnh và bệnh màng trong. Chiến lược thơng khí phù hợp, khí NO và

điều trị surfactant có thể cải thiện kết quả điều trị và hạn chế điều trị ECMO.

Tỷ lệ mắc bệnh tăng áp động mạch phổi khoảng 0,2% trẻ sinh ra sống, chiếm

10% số trẻ suy hô hấp và tỷ lệ tử vong lên tới 10% số trẻ bị tăng áp động

mạch phổi [41-43].



-



Còn ống động mạch: Bệnh lý thường gặp, thơng thường ống động mạch sẽ

đóng trong vòng 3 ngày. Khi còn tồn tại ống động mạch sau 72 giờ được coi

là bệnh lý, triệu chứng thường có trong 50-70% trường hợp trẻ < 28 tuần tuổi

thai và/hoặc cân nặng lúc sinh < 1.000g. Tỷ lệ tồn tại ống động mạch từ 1537% ở trẻ cân nặng < 1.750g và chỉ có khoảng 0,2% ở trẻ đủ tháng. Tỷ lệ tử

vong hoặc di chứng lên tới 30%. Điều trị nội khoa bằng Ibuprofen hoặc

Indomethacine với hiệu quả tương tự nhau [44-47].

d.



-



Nguyên nhân huyết học



Thiếu máu: bệnh lý hay gặp nhất trong các bệnh lý huyết học sau sinh.

Nguyên nhân gặp nhiều gây thiếu máu là tan huyết ( bất đồng nhóm máu đặc

biệt bất đồng Rh), xuất huyết, ngạt, nguyên nhân gây thiếu oxy mạn tính trong

tử cung (chậm phát triển trong tử cung, mẹ đái tháo đường, tăng huyết áp).



19



Các tác giả cho rằng thời gian kẹp rốn cũng liên quan với lượng huyết sắc tố

của trẻ. Họ nhận định ở trẻ đủ tháng, rau thai chứa khoảng 100ml máu,

khoảng 25% được truyền sang trẻ trong 15 giây đầu tiên và được 50% ở cuối

phút đầu tiên (khoảng 50ml máu ở trẻ đủ tháng). Sự chênh lệch nồng độ

hemoglobin ở trẻ kẹp rốn sớm và muộn là 3g/l [48].

-



Bệnh đa hồng cầu: được xác định khi lượng Hematocrit > 0,65. Thường

gặp ở bệnh nhi sau sinh với các yếu tố nguy cơ: chậm phát triển trong tử

cung, mẹ bị cao huyết áp, mẹ bị đái tháo đường, hội chứng truyền máu,…

[48]

e.



-



Nguyên nhân chuyển hóa



Trẻ bị hạ đường huyết: được xác định bằng giá trị đường huyết

< 40mg/dl (trong huyết tương là < 45 mg/dl), thường gặp ở trẻ sơ sinh non

tháng, kém phát triển và mẹ bị đái tháo đường. Đường huyết có vai trò cung

cấp năng lượng cho não bộ [49]. Tỷ lệ mắc bệnh đa dạng, tùy thuộc vào từng

lứa tuổi. Tỉ lệ hạ đường huyết ở trẻ lớn hơn so với tuổi thai khoảng 16% , còn

những trẻ nhỏ hơn so với tuổi thai khoảng 15%. Thông thường, sau sinh 1-2

giờ đường huyết trẻ thấp sau đó tăng dần lên mức 65-70 mg/dl trong giờ thứ 3

và 4 [50].



-



Trẻ bị hạ calci máu: Một số nguyên nhân gây hạ calci máu giai đoạn sớm

sau sinh: đẻ non, ngạt, trẻ sơ sinh của bà mẹ đái tháo đường, tiền sản giật …



-



Rối loạn thân nhiệt đặc biệt hạ thân nhiệt do đẻ non, chăm sóc sau sinh khơng

đảm bảo, thiếu trang thiết bị sưởi ấm sau sinh …



-



Nhiễm toan chuyển hóa: do các bệnh lý rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, thứ

phát sau ngạt, suy thai, nhiễm khuẩn huyết, sốc …

f.



Nguyên nhân khác



20



Thoát vị cơ hồnh: Hay gặp thốt vị hồnh bẩm sinh sau bên, thường kết

hợp với thiểu sản phổi nặng, ảnh hưởng chức năng hô hấp trẻ sau sinh, tỷ lệ tử

vong cao [51].

1.3.2.1.



Một số yếu tố nguy cơ thường gặp gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh



Những yếu tố bắt nguồn từ bệnh lý người mẹ





Yếu tố nguy cơ từ tiền sử trước khi mang thai

Nhiều yếu tố nguy cơ: tiền sử sinh non hoặc nhẹ cân, các bệnh lý nội



khoa mãn tính của mẹ như: bệnh thận, cao huyết áp, bệnh lý tim mạch, bệnh

Lupus ban đỏ hệ thống, mẹ cao tuổi (> 35 tuổi) … có khả năng ảnh hưởng

đến thai nhi và tăng nguy cơ bệnh lý cho trẻ khi sinh ra đặc biệt là suy hô hấp.

Những yếu tố này được Carlo W.A. (2011) [52] tổng kết và có nhận định về

bệnh lý của người mẹ sẽ ảnh hưởng đến tình trạng trẻ sau sinh.





Yếu tố nguy cơ từ bệnh lý mẹ trong quá trình mang thai

Trong q trình mang thai, mẹ có nguy cơ cao mắc các bệnh hay gặp như



đái tháo đường thai kỳ, nhiễm độc thai nghén, tình trạng nước ối và bánh rau

như đa ối và thiểu ối… những bất thường này tác động nhiều đến sự phát triển

của thai nhi, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và tim mạch của thai nhi. Sản

phụ khơng được chăm sóc, theo dõi trong quá trình mang thai cũng tăng nguy

cơ bệnh lý đến trẻ sau sinh [24, 53, 54].

Theo dõi của Viện nghiên cứu sức khỏe Úc năm 2007-2008 về tình trạng

đái tháo đường của phụ nữ Úc cho thấy tỷ lệ đái đường thai kỳ chiếm 5% tổng

số phụ nữ trong độ tuổi 15-49 khi có thai. Báo cáo này cũng ghi nhận trẻ sinh

ra ở các bà mẹ này có thể mắc các bệnh lý bẩm sinh, thai lưu, phải mổ đẻ, thai

to và hội chứng suy hô hấp [55]. Sản phụ mắc đái tháo đường tăng nguy cơ bị

sản giật, tiền sản giật, cao huyết áp, mổ đẻ… đây cũng là các nguy cơ có thể

gây nhiều bệnh lý cho trẻ sau sinh đặc biệt là suy hô hấp.





Yếu tố nguy cơ xung quanh cuộc đẻ gây suy hô hấp sau sinh



21



Những bất thường được phát hiện cận ngày sinh, trong q trình chuyển

dạ đẻ tác động khơng nhỏ đến bệnh lý hô hấp trẻ sau sinh:

Mổ đẻ chủ động khi chưa chuyển dạ ngày nay đang có xu hướng tăng lên,

liên quan đến sự gia tăng bệnh lý suy hô hấp sau sinh ở trẻ. Ramachndrappa A.

và cộng sự (2008) [56] cũng như Liu J. và cộng sự (2014) [57] cho rằng mổ

đẻ chủ động làm tăng tỷ lệ cơn khó thở nhanh thống qua, thiếu hụt surfactant

thứ phát và tăng áp lực động mạch phổi gây suy hô hấp sau sinh.

Các bất thường về nước ối, bánh rau, màng ối, nhiễm khuẩn của mẹ lúc

sinh trong quá trình sinh ảnh hưởng khơng ít đến hơ hấp của trẻ sau sinh như

bệnh lý viêm ối, màng ối là yếu tố nguy cơ gây viêm phổi-nhiễm khuẩn sơ

sinh, vấn đề này được Liu J. và cộng sự (2014) [57] cũng như tác giả Nguyễn

Thị Tân Sinh (2012) [54] đề cập tới.

Ngồi ra còn có nhiều bệnh lý khác của người mẹ lúc chuyển dạ có nguy

cơ ảnh hưởng đến con như: nhiễm độc thai nghén, các bệnh lý suy hô hấp,

hôn mê, suy thận, bệnh lý tim mạch, rối loạn chức năng các cơ quan …

Những yếu tố nguy cơ từ thai nhi và trẻ sơ sinh





Nguy cơ suy hô hấp từ trẻ sinh non

Kattwinkel J. và cộng sự (2006) [16] trong chương trình hồi sức sơ sinh



đã nêu lên những yếu tố mà trẻ sinh non có nguy cơ cao suy hô hấp, ngạt là:

+



Phổi thiếu hụt surfactant, giảm sức căng bề mặt phế nang, gây xẹp phế nang

làm thơng khí khó khăn.



+



Não chưa trưởng thành, trung tâm điều hòa hơ hấp thích nghi kém giảm khả

năng điều hòa nhịp thở.



+



Trương lực cơ giảm làm khả năng phát động nhịp thở kém.



+



Trẻ non tháng nên hệ thống da niêm mạc mỏng, diện tích bề mặt lớn, lớp mỡ

dưới da mỏng -> trẻ dễ mất nhiệt khi khơng kiểm sốt tốt.



+



Hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện nên hay bị nhiễm trùng.



22



+



Mạch máu não mảnh, dễ vỡ nên dễ bị xuất huyết não.



+



Nguy cơ mất dịch, giảm thể tích do thể tích tuần hồn nhỏ, cân nặng trẻ thấp.



+



Các cơ quan chưa hồn thiện nên có nguy cơ tổn thương khi sử dụng oxy

nồng độ cao và kéo dài đặc biệt là phổi và mắt.





Các yếu tố khác từ thai và trẻ sơ sinh

Trẻ được theo dõi, chẩn đoán suy thai; trẻ ngạt trong tử cung và sau sinh;



trẻ chậm phát triển trong tử cung; trẻ sơ sinh được mổ đẻ khi chưa có dấu hiệu

chuyển dạ, mổ đẻ cấp cứu; trẻ chuyển dạ sinh tự nhiên nhưng sinh non,

chuyển dạ nhanh; thai to; đa thai; thai già tháng (> 42 tuần) [16, 24].

1.4. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VÀ KẾT QUẢ

1.4.1. Phương pháp điều trị

1.4.1.1.

-



Nguyên tắc điều trị



Mục tiêu điều trị là ổn định tình trạng hơ hấp, khí máu bằng các biện pháp hỗ

trợ hơ hấp, hồi sức tích cực ngay từ sau khi sinh, oxy liệu pháp hoặc hỗ trợ hô

hấp bằng thở không xâm nhập CPAP, HFNO, nSIMV và nặng hơn sẽ phải thở

máy xâm nhập với các chiến lược thơng khí phù hợp (thơng khí bắt buộc-A/C,

thơng khí bắt buộc ngắt qng đồng thì-SIMV, thở tần số cao xốy dòngHFO …), sử dụng surfactant [14, 20, 45].



-



Kết hợp với việc đảm bảo năng lượng, chống nhiễm trùng, theo khuyến cáo

của các tác giả trong nước và đồng thuận quốc tế nên sử dụng kháng sinh

ngay từ ban đầu cho tất cả các bệnh nhi chẩn đoán suy hơ hấp [20, 45]. Sau

khi tình trạng bệnh nhi ổn định, tìm nguyên nhân cụ thể để điều trị.

1.4.1.2.



Điều trị cụ thể



Điều trị suy hơ hấp

-



Thơng thống đường thở: áp dụng tốt các biện pháp hồi sức sau sinh, đảm bảo

duy trì tư thế để đường thở mở (đầu hơi ngửa ra sau, kê cao vai)



-



Đảm bảo khả năng vận chuyển oxy tới các mô, tổ chức bằng cách duy trì

Hematocrit 30-40%, duy trì cung lượng tim ổn định



23



-



Khi bệnh nhân có PaO2 < 70 mmHg, và/hoặc tím tái, và/hoặc khó thở:

+ Cung cấp oxy: tùy theo mức độ suy hô hấp ta sử dụng các phương

pháp khác nhau để cung cấp oxy cho bệnh nhân. Nếu bệnh nhân suy hơ hấp

nhẹ và vừa thì cho thở oxy qua gọng mũi. Theo dõi độ bão hòa oxy của trẻ,

điều chỉnh oxy khí thở vào để bão hòa oxy trong khoảng 92-95%.

+ Nếu bệnh nhân có suy hơ hấp nặng, không đáp ứng với thở oxy hoặc

ngừng thở, ngạt nặng thì cần phải thơng khí hỗ trợ: Nếu trẻ còn có nhịp thở

bước đầu có thể sử dụng hỗ trợ hô hấp không xâm nhập (CPAP, HFNO). Tuy

nhiên khi các biện pháp trên không hiệu quả phải điều trị thở máy xâm nhập,

sử dụng một trong các chế độ: thông khí bắt buộc (A/C); thơng khí bắt buộc

ngắt qng đồng thì (SIMV); thở HFO.

Điều chỉnh rối loạn toan kiềm và rối loạn điện giải



-



Khi có toan chuyển hóa, dùng dung dịch Natri bicarbonat 1,4% ; 4,2%. Bù

theo công thức: (2ml Natri bicarbonat 4,2% = 1 mEq)

Số mEq cần bù = 0,3 x P (kg) x số bicarbonate thiếu hụt (BE)



-



Trường hợp có toan hơ hấp (PaCO2 > 70mmHg), điều chỉnh máy thở, thơng

thống đường thở.



-



Khi dùng dung dịch Natri bicarbonat thường gây hạ đường huyết nên khi

truyền cần truyền cùng với dung dịch Glucose đề phòng hạ đường huyết.

Phòng và điều trị nhiễm khuẩn

Nguyên tắc cơ bản:



-



Đặt trẻ môi trường sạch, vô khuẩn, chăn, ga, tã vô khuẩn. Lồng ấp 5 – 7 ngày

tiệt khuẩn 1 lần; phòng bệnh 4 – 6 tuần tổng tiệt trùng.



-



Rửa tay sạch; sử dụng dụng cụ, trang thiết bị vệ sinh, vô trùng.



-



Làm sạch vi khuẩn: Vệ sinh hàng ngày, nôn trớ rửa sạch.



-



Sử dụng kháng sinh chống nhiễm khuẩn

Dùng kháng sinh tốt nhất là theo kháng sinh đồ. Những trẻ chẩn đốn

suy hơ hấp được khuyến cáo nên sử dụng kháng sinh ngay từ đầu. Thuốc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các xét nghiệm khác: cấy máu, công thức máu, điện giải đồ, đường huyết, xét nghiệm đông máu, chụp cắt lớp vi tính sọ não …

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×