Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Các bảng đánh giá chức năng khớp vai sau khâu chóp xoay

* Các bảng đánh giá chức năng khớp vai sau khâu chóp xoay

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



gồm đau 10 điểm, chức năng khớp vai 10 điểm, tầm hoạt động tay đưa ra

trước chủ động 5 điểm, sức cơ tay 5 điểm, và sự hài lòng của bệnh nhân sau

khi phẫu thuật 5 điểm. Sự khác biệt của thang điểm UCLA và Constant là ở

phần sức cơ, thang điểm UCLA chỉ đánh giá dựa trên khả năng kháng lại lực

cản và mang tính chủ quan. Điểm khác biệt thứ hai là sự hài lòng của bệnh

nhân sau mổ do đó thang điểm này hay được dung đánh giá chức năng khớp

vai sau mổ. mặt khác thang điểm UCLA có phân loại tốt, xấu giúp phẫu thuật

viên dễ hình dung kết quả sau cùng của chức năng khớp vai. Thang điểm

Constant hay được dùng để so sánh chức năng khớp vai trước mổ và sau mổ

khâu chóp xoay. Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng cả hai bảng thang điểm

để bổ sung cho nhau trong việc đánh giá chức năng khớp vai trước và sau mổ

khâu chóp xoay.

Tóm lại các kỹ thuật khâu gân chóp xoay vào xương đã được nghiên

cứu trên thực nghiệm và đã được ứng dụng trên người. các thang điểm đánh

giá chức năng khớp vai đã được áp dụng để so sánh các phương phẫu thuật

khâu gân chóp xoay. Đây là cơ sở cho việc thực hiện phẫu thuật khâu gân

chóp xoay.

1.3. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT RÁCH CHÓP XOAY

1.3.1. Phương pháp điều trị phẫu thuật mổ mở

Một số tác giả [96] đã so sánh kết quả điều trị bảo tồn với phẫu thuật

khâu chóp xoay cho thấy phương pháp phẫu thuật đem lại kết quả tốt hơn về

mặt hồi phục vận động, sức cơ.

Năm 1911 Codman là người đầu tiên thực hiện việc mổ mở để khâu lại

gân cơ chóp xoay. Ông thực hiện được 31 trường hợp trong đó có 20 trường

hợp đạt được kết quả tốt. Năm 1972 Neer báo cáo 20 trường hợp khâu gân

chóp xoay bằng mổ hở trong đó có 19 ca tốt. Năm 1985 Hawkins báo cáo 100

ca mổ hở với kết quả 80% hết đau hay đau nhẹ và sự cải thiện tầm vận động



32



của động tác giạng vai là 44o. Từ đó có nhiều báo cáo cho kết quả mổ mở tốt.

Tuy vậy các tác giả đều thống nhất là mổ mở có đường bóc tách qua cơ delta

q rộng ở phía trước gây sang chấn nhiều làm đau nhiều sau mổ và phải mất

nhiều thời gian để phục hồi cơ delta làm giảm khả năng tập vật lý trị liệu của

bệnh nhân. Tác giả Yukihiko Hata [110] và cộng sự đã so sánh giữa phương

pháp mổ mở kinh điển và mổ khâu chóp xoay qua đường mổ nhỏ hoặc nội soi

cho thấy nhóm mổ mở có kết quả kém hơn.

1.3.2. Phương pháp phẫu thuật mổ mở với đường mổ nhỏ

Năm 1990 Levy và cộng sự đã báo cáo kết quả ban đầu của 25 ca mổ

theo phương pháp sử dụng đường mổ nhỏ với sự trợ giúp của nội soi để khâu

gân cơ chóp xoay cho kết quả 20 ca tốt và rất tốt. Năm 1994 Paulos và Kody

báo cáo 18 trường hợp khâu gân cơ qua đường mổ nhỏ với sự trợ giúp của nội

soi cho kết quả 88% là tốt và rất tốt.

Trong nước, tác giả Hoàng Mạnh Cường báo cáo trong luận văn chuyên

khoa cấp II kết quả khâu rách chóp xoay qua đường mổ nhỏ với kết quả 86%.

Liem [70] bằng nghiên cứu hồi cứu so sánh giữa hai nhóm điều trị (độ

tin cậy mức độ III) khâu chóp xoay bằng kỹ thuật đường mổ nhỏ và nội soi

cho thấy kết quả khâu qua nội soi tương đương với mổ đường mổ nhỏ. Tuy

nhiên thời gian hồi phục sau mổ của nhóm mổ nội soi nhanh hơn nhóm mổ

mở với đường mổ nhỏ với sự trợ giúp của nội soi. Mặt dù các tác giả dùng

đường mổ nhỏ để khâu chóp xoay nhưng vẫn dùng nội soi khớp vai để tạo

hình mỏm cùng, đánh giá và xử lí các thương tổn kèm theo rách chóp xoay

sau đó mới mổ đường mổ nhỏ để khâu gân. Điều này cho thấy nội soi khớp

vai có tầm quan trọng trong việc chẩn đốn, xử lí các thương tổn đi kèm đồng

thời giúp phẫu thuật viên chuẩn bị cho bước khâu chóp xoay.

1.3.3. Phương pháp khâu rách chóp xoay qua nội soi

Những nghiên cứu mô tả hàng loạt ca (mức độ tin cậy IV) hồi cứu cho



33



thấy tỉ lệ tốt đến rất tốt của nội soi khâu chóp xoay với thời gian theo dõi lâu

dài (4-10) [107] lên đến 94%. Burkhart [20] hồi cứu mơ tả 59 bệnh nhân của

mình cho thấy kết quả tốt lên đến 95% không phụ thuộc vào kích thước rách,

kết quả rách chữ U khâu bằng kỹ thuật hội tụ bờ rách tương đương với kỹ

thuật khâu trực tiếp gân vào xương của dạng rách hình liềm. Có sự hồi phục

nhanh chức năng sử dụng tay quá đầu ở những bệnh nhân điều trị bằng nội

soi. Thời gian bệnh trước khi mổ không ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.

Tác giả Oh [63] đánh giá chất lượng cuộc sống sau mổ rách chóp xoay bằng

bảng câu hỏi SF 36 cho thấy kết quả chất lượng cuộc sống cải thiện, tác giả

ghi nhận các yếu tố làm ảnh hưởng xấu đến kết quả cuối cùng bao gồm tuổi

già, giới nữ, bệnh lý tiểu đường kèm theo, bệnh nhân khơng chơi hoặc ít chơi

thể thao. Thời gian đau trước khi mổ, mức độ rách chóp xoay khơng liên quan

đến kết quả cuối cùng. Tương tự như vậy, các tác giả Jost B, Christian Gerber

[58] cho thấy trên những bệnh nhân được mổ khâu lại chóp xoay sau khi đã bị

tái rách ở lần khâu đầu có cải thiện chức năng khớp vai và giảm đau sau mổ.

Nội soi khớp vai tránh được các biến chứng của mổ mở là tổn thương cơ

delta, giúp kiểm sốt và xử lí tốt tồn bộ thương tổn của khớp vai cũng như

của chóp xoay [24], thời gian hồi phục sau mổ nhanh hơn [97]. Chính vì các

ưu điểm này so với mổ mở kinh điển hay mổ mở với đường mổ nhỏ mà ngày

càng nhiều tác giả trên thế giới áp dụng kỹ thuật khâu chóp xoay hồn tồn

qua nội soi.

1.3.4. Các kết quả nghiên cứu trong nước

Nội soi khớp vai đã được triển khai trong nước từ năm 2004. Kết quả

khâu chóp xoay hoàn toàn qua nội soi của Tăng Hà Nam Anh qua 25 trường

hợp đạt kết quả từ tốt đến rất tốt sau hơn 1 năm theo dõi là 92% [3]. Một

nghiên cứu khác của tác giả trong đề tài cấp sở của Sở Khoa Học Công Nghệ

Thành Phố Hồ Chí Minh đánh giá chung kết quả khâu chóp xoay qua nội soi



34



khớp vai hoàn toàn cho kết quả đạt từ tốt đến rất tốt là 96%. Năm 2010 tại hội

nghị Chấn Thương Chỉnh Hình Việt Nam, tác giả Hồng Mạnh Cường trình

bày kết quả tổng hợp 94 trường hợp rách chóp xoay được khâu qua nội soi

hoặc đường mổ nhỏ với trợ giúp nội soi đạt 89% tốt đến rất tốt theo thang

điểm UCLA. Cũng theo tác giả Hoàng Mạnh Cường công bố trong luận văn

chuyên khoa cấp 2 có 35 bệnh nhân bị rách chóp xoay với tuổi trung bình

53,7 tuổi, có sự cải thiện chức năng khớp vai sau mổ khâu chóp xoay với

đường mổ nhỏ. Trong luận văn tác giả có đưa ra kết quả phân loại theo gân bị

rách. Tuy nhiên như các tác giả Nhật Bản đã nhận xét trên lâm sáng rất khó

phân biệt đâu là gân trên gai hay dưới gai nên phân loại này sẽ khơng chính

xác. Tác giả sử dụng thang điểm UCLA để đánh giá kết quả trước mổ và sau

mổ. Thang điểm này có yếu điểm là khơng đánh giá sức cơ tay là một trong số

yếu tố cần phục hồi sau mổ. Thang điểm này có 5 điểm về sự hài lòng sau mổ

khiến cho việc so sánh chức năng khớp vai trước và sau mổ không được

khách quan vì đa số bệnh nhân sẽ trả lời hài lòng khi đi gặp bác sĩ. Tác giả

nhận xét phương pháp khâu gân chóp xoay với đường mổ nhỏ sẽ gặp khó

khăn khi có rách gân dưới vai. Đồng thời tác giả cũng nhận xét nội soi khớp

vai cho phép đánh giá toàn bộ thương tổn trong khớp vai và khoang dưới

mỏm cùng, giúp tạo hình mỏm cùng vai tốt hơn. Như vậy nội soi khớp vai có

nhiều ưu điểm trong xử trí tổn thương chóp xoay và các thương tổn kèm theo.

Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu lớn

ứng dụng kỹ thuật nội soi khớp vai khâu gân chóp xoay với thời gian theo dõi

trung hạn hay dài hạn để đánh giá kết quả của phương pháp này trên người

Việt Nam.



35



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tất cả các bệnh nhân bị rách chóp xoay có chỉ định phẫu thuật nội soi

tại bệnh viện Bạch Mai.

2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Khám lâm sàng có một trong số các nghiệm pháp sau đây dương tính:

nghiệm pháp Jobe, nghiệm pháp lon đầy, nghiệm pháp Patte, nghiệm pháp ép

bụng, nghiệm pháp Gerber, nghiệm pháp Napoleon, nghiệm pháp cánh tay rơi.

Có đầy đủ phim chụp x quang, kết quả siêu âm, chụp cộng hưởng từ

khớp vai.

Được phẫu thuật bằng phương pháp mổ nội soi khâu rách chóp xoay

thành cơng.

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân rách chóp xoay nhưng không được điều trị bằng phương

pháp mổ nội soi khớp vai.

Bệnh nhân được phẫu thuật nhưng không thể khâu lại được bằng nội soi

mà chỉ làm được những phẫu thuật khác như cắt lọc, tạo hình mỏm cùng vai…

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu, không đi khám lại theo hẹn.

2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Khoa chấn thương chỉnh hình và cột sống bệnh viện Bạch Mai.

2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến 31 tháng 05 năm 2020 tại Bệnh

viện Bạch Mai.



36



2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Thiết kế nghiên nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, quan sát mô tả loạt ca bệnh thử

nghiệm lâm sàng, theo dõi dọc, khơng nhóm chứng (độ tin cậy mức 4).

2.4.2. Cỡ mẫu

Cỡ mẫu thuận tiện.

Tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn đều được chúng tôi đưa vào

nghiên cứu.

2.4.3. Cách thức nghiên cứu

Với những bệnh nhân tiến hành nghiên cứu hồi cứu: (từ 01/01/2016 –

31/12/2018)

Hồi cứu lại hồ sơ bệnh án được lưu trữ tại phòng KHTH BV Bạch Mai,

ghi lại những kết quả khám lâm sàng, chẩn đốn hình ảnh và phương pháp

phẫu thuật đã được khai thác và thể hiện trên bệnh án. Lấy lại số điện thoại

bệnh nhân để liên hệ hẹn khám lại, đánh giá kết quả điều trị dựa trên mẫu

bệnh án nghiên cứu có sẵn.

Với những bệnh nhân mới tiến hành nghiên cứu tiến cứu: (từ 01/01/2019

– 31/05/2020)

Lập hồ sơ bệnh án theo dõi từ lúc nhập viện đến lúc kết thúc nghiên

cứu: các bệnh nhân sẽ được thăm khám lâm sàng bằng hỏi bệnh sử, thực hiện

khám bằng các nghiệm pháp như đã mô tả, chụp x quang khớp vai hai tư thế:

khớp vai thẳng, khớp vai nghiêng kiểu Lamy, siêu âm, chụp cộng hưởng từ

khớp vai bị tổn thương có bơm thuốc cản từ vào trong khớp vai.

2.4.4. Nội dung nghiên cứu

2.4.4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Tuổi trung bình, nhóm tuổi

- Giới: nam, nữ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Các bảng đánh giá chức năng khớp vai sau khâu chóp xoay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×